1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận môn Văn hóa Việt Nam

19 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống và sự thay đổi của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Đinh Khánh Hà Vy
Trường học Học viện Ngoại Giao Truyền Thông Và Văn Hóa Đối Ngoại
Chuyên ngành Văn hóa Việt Nam
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 559,54 KB
File đính kèm TIEU LUAN CUOI KI.rar (523 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI TIỂU LUẬN MÔN HỌC VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐỀ TÀI “Đặc trưng của đô thị việt nam truyền thống và sự thay đổi của những đặc trưng.

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI

TIỂU LUẬN MÔN HỌC: VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI:

“Đặc trưng của đô thị việt nam truyền thống và sự thay đổi của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế ở việt nam

hiện nay”

Họ và tên: Đinh Khánh Hà Vy

Mã sinh viên: TTQT48C1-1626 Lớp: TTQT48F

Khóa: 48

Hà Nội, tháng 12 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1 Khái niệm đô thị: 3

2 Nguồn gốc của đô thị: 3

3 Công cụ định vị địa – văn – hóa 4

CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 5

1 Đặc trưng 1: Tính khác biệt trong nội dung của đô thị Việt Nam 5

2 Đặc trưng 2: Đô thị Việt Nam có chức năng hành chính là chủ yếu 5 3 Đặc trưng 3: Đô thị có số lượng và quy mô nhỏ so với nông thôn 6

4 Đặc trưng 4: Đô thị phụ thuộc vào nông thôn, và bị nông thôn hóa 6 5 Lý giải các đặc trưng của đô thị Việt Nam dưới góc độ văn hóa 7

CHƯƠNG III: SỰ THAY ĐỔI CỦA NHỮNG ĐẶC TRƯNG NÀY TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9

1 Vai trò, chức năng của đô thị 9

2 Mối quan hệ giữa đô thị với nông thôn 11

3 Các vấn đề đô thị hoá tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 13

4 Các biện pháp được đề xuất để giải quyết các vấn đề trên 14

LỜI KẾT 17

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm đô thị:

Khi xét ở góc độ xã hội, “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người

sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp”

Khi xét ở góc độ pháp lý, đô thị được Luật Quy hoạch đô thị quy định như

sau: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn" Hay nói cách khác: “Đô thị là nơi tập trung đông đúc dân cư chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, cư dân sống và làm việc theo phong cách và lối sống khác ở nông thôn.Lối sống ở đô thị được đặc trưng bởi những đặc điểm có nhu cầu cao tiếp thu nền văn hóa văn minh nhân loại nhanh chóng có đầu tư cơ sở

hạ tầng, kinh tế xã hội đầy đủ và thuận tiện.”

2 Nguồn gốc của đô thị:

a) Sơ lược lịch sử hình thành đô thị trên thế giới:

Đô thị đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người khi loài người bắt đầu định canh định cư, tức đô thị hình thành ở thời kỳ xã hội nông nghiệp Năng suất lao động được nâng lên, lương thực cũng như sản phẩm xã hội có dư thừa, có tích lũy Từ đó xã hội có sự phân công trong lao động sản xuất trực tiếp và lao động phi sản xuất (như chiến đấu gìn giữ của cải của cộng đồng, dịch vụ phục dịch các thủ lĩnh, tù trưởng v.v…) Từ đó hình thành nên các điểm tập trung dân cư

Và để bảo vệ, người ta dựng lên những thành quách bao quanh Đó là khởi thủy của sự tập trung dân cư của thời xa xưa mà người ta gọi là những thành lũy Như vậy thành lũy là nơi tập trung bộ máy quyền lực và binh lính, người dân

Trang 4

của cộng đồng đó tập trung sinh sống Và để duy trì sự tồn tại cuộc sống của

bộ máy cũng như cư dân của thành lũy đó, thì phải có một lực lượng lao động sản xuất để cung ứng lương thực Vì vậy, một bộ phận người dân phải cư ngụ bên ngoài để sản xuất lương thực, hay phải ra ngoài canh tác Đồng thời để có được những vật dụng cần thiết khác mà người dân tại chỗ không làm ra được thì phải tạo điều kiện để người nơi khác đem đến Như vậy phải có “Thị” là chợ

để đôi bên đem hàng hóa đến trao đổi Từ đó thành lũy đã có “thị” ta gọi là

“thành thị” Khi lịch sử phát triển của xã hội loài người đến giai đoạn hình thành quốc gia, trung tâm quyền lực thường được người lãnh đạo chọn ở vị trí có ưu thế chống lại kẻ thù, đồng thời nơi đó cũng còn có nguồn tài nguyên tạo ra lương thực phong phú để nuôi dân Ngoài ra còn có những điều kiện giao thông tốt để bành trướng thế lực ra mọi nơi Đây là vị trí trung tâm tạo nên sức mạnh của một quốc gia gọi là “Thủ Đô” Sau này người ta kết hợp hai từ “thủ đô” và

“thành thị” tạo nên một từ mới đó là “Đô Thị” để chỉ cho những nơi tập trung dân cư (ngoài Thủ Đô), có bộ máy công quyền quản lý, có các cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ v.v đô thị đã được hình thành như thế

b) Đô thị của Việt Nam:

Xét về nguồn gốc, phần lớn đô thị Việt Nam là do nhà nước sản sinh ra Các đô thị lớn nhỏ, ra đời vào các giai đoạn khác nhau như Văn Lang, Cổ Loa, Luy Lâu, Thăng Long, Phú Xuân (Huế)… đều hình thành theo con đường như thế Về phần “đô”, các tòa thành phục vị cho mục đích phòng thủ và bên trong

là nơi đồn trú của các thế lực phong kiến Bên cạnh phần "đô" còn tồn tại phần

" thị ", là nơi tập trung các thợ thủ công sản xuất ra các hàng hóa tiêu dùng và những cư dân làm nghề buôn bán trao đổi hàng hóa cần thiết, đó là những người không sản xuất nông nghiệp Như vậy thành thị đã ra đời.Theo tài liệu của Viện

Sử học Việt Nam, đô thị đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện khá muộn so với các nước trên thế giới và các đô thị cổ sau khi hình thành cũng không có sự phát triển liên tục mà thường thăng trầm cùng với sự thay đổi địa điểm kinh đô của các triều đại khác nhau

3 Công cụ định vị địa – văn – hóa

Công cụ định vị địa – văn hóa vừa là một phương pháp dùng để định vị văn hóa theo vùng địa lý, đồng thời cũng là phương pháp kiến giải các đặc

Trang 5

điểm văn hóa dựa vào điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiên Phương pháp này (cùng với các phương pháp khác nữa) đã góp phần lý giải tính đồng nhất (tương đồng) văn hóa của các cộng đồng người cùng sống trên một vùng lãnh thổ - nơi có điều kiện tự nhiên khá giống nhau Trên đây là tổng quan

về đô thị việt nam truyền thống, tiếp theo trong chương hai nhóm em sẽ đi sâu vào các đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống

CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN

THỐNG

1 Đặc trưng 1: Tính khác biệt trong nội dung của đô thị Việt Nam

Đô thị Việt Nam mang nội dung khác biệt so với Trung Quốc hay các nước phương Tây Đặc biệt, em xin phân tích rõ hơn việc đô thị Việt Nam khác với bên phương Tây ở 3 khía cạnh: nguồn gốc, chức năng và cách quản lý đô thị

Để lí giải đơn giản cho sự khác biệt ở trên thì ở nền văn hóa Việt Nam nông nghiệp trọng tĩnh, làng xã trung tâm, là sức mạnh, là tất cả cho nên làng xã có quyền tự trị Còn ở các nền văn hóa Châu Âu sớm phát triển thương mại và công nghiệp, thì rất rõ ràng là đô thị tự trị và có uy quyền Ngoài ra, đô thị Việt Nam trước hết là trung tâm chính trị, rồi sau đó mới là trung tâm kinh tế và văn hóa Tiêu biểu là thủ đô Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh

2 Đặc trưng 2: Đô thị Việt Nam có chức năng hành chính là chủ yếu

Trong khi đô thị phương Tây thực hiện chức năng kinh tế là chủ yếu thì đô thị Việt Nam lại đi theo một con đường khác, đó là phần lớn thực hiện chức năng hành chính Như đã nói ở trên, đô thị Việt Nam là do nhà nước sinh ra và do nhà nước quản lý Các đô thị lớn nhỏ, ra đời vào các thời kỳ khác nhau như Văn Lang, Cổ Loa, Luy Lâu, Thăng Long, Phú Xuân (Huế)… đều hình thành theo con đường như thế Ngay các đô thị mới như Xuân Mai, Xuân Hòa… cũng không nằm ngoài quy luật trên Ngoài ra, khi nhà nước có nhu cầu mở trung tâm hành chính thì họ thường chọn một trong những đô thị có sẵn

Trang 6

Xét về cấu trúc, trong đô thị Việt Nam tồn tại 2 bộ phận: bộ phận quản lý và

bộ phận làm kinh tế (buôn bán); thường thì bộ phận quản lý hình thành trước theo kế hoạch, rồi dần dần, một cách tự phát, từ đó bộ phận làm kinh tế mới được hình thành Thậm chí trong nhiều trường hợp, bộ phận quản lý của đô thị

đã hoạt động rồi mà bộ phận làm kinh tế vẫn không phát triển được hoặc phát triển rất yếu ớt như trường hợp các kinh đô Hoa Lư của nhà Đinh, Tây Đô của nhà Hồ, Lam Kinh của nhà Lê, Phượng Hoàng Trung Đô của nhà Tây Sơn…

3 Đặc trưng 3: Đô thị có số lượng và quy mô nhỏ so với nông thôn

Số lượng và quy mô của đô thị ở Việt Nam không nhiều so với nông thôn: Cho đến tận thế kỉ XVI, Đại Việt mới chỉ hình thành được một đô thị, một trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa là Kẻ Chợ (Thăng Long) Do chỗ sức mạnh của truyền thống văn hóa nông nghiệp đã không cho phép nông thôn tự chuyển thành đô thị Cho nên ở Việt Nam, thậm chí có những làng xã nông thôn thực hiện chức năng kinh tế của đô thị – đó là các làng công thương Làng Bát Tràng (Gia Lâm) làm đồ gốm, làng Bưởi (Từ Liêm) làm giấy, làng Nhị Khê (Hà Tây) làm nghề tiện; làng Phù Lưu, Đa Ngưu (Hải Dương) buôn thuốc bắc, làng Báo Đáp buôn vải… Nếu ở phương Tây thì những làng như vậy sẽ phát triển dần lên, mở rộng dần ra và tự phát chuyển thành đô thị Nhưng ở Việt Nam thì chúng không trở thành đô thị được, mọi sinh hoạt vẫn giống một làng nông nghiệp thông thường Phải đến sau thế kỉ XVI mới xuất hiện thêm một số đô thị mà chủ yếu gắn với ngoại thương (Phố Hiến, Hội An, Nước Mặn, Sài Gòn…).1

4 Đặc trưng 4: Đô thị phụ thuộc vào nông thôn, và bị nông thôn hóa

Thông thường, đô thị luôn là đầu tàu dẫn dắt sự phát triển kinh tế và văn hóa của một đất nước Nhưng trong lịch sử Việt Nam, có thể thấy tình hình diễn ra theo chiều hướng ngược lại: Đô thị phụ thuộc vào nông thôn, và bị nông thôn hóa; tư duy hướng nông nghiệp, căn tính nông dân đã để lại dấu ấn đậm sâu

1 Xem: Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trần Quốc Vượng (chủ biên), NXB Giáo dục, tái bản lần thứ 5, 2002, tr.47

Trang 7

trong văn hóa đô thị của Việt Nam Có thể thấy sự chi phối của nông thôn đối

với đô thị thông qua những biểu hiện sau:

Trước hết, cách tổ chức hành chính của đô thị được dựng lên theo cách tổ

chức nông thôn (ví dụ: chia đô thị thành các cấp độ hành chính như: phủ, huyện, tổng, thôn) Ngoài ra, ở đô thị Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm một loại đơn

vị đặc biệt bắt nguồn từ nông thôn mà đến nay đã trở thành đơn vị hành chính

cơ sở đô thị – đó là phường Phường vốn là cộng đồng của những người làm

cùng một nghề của một làng quê; vì những lí do khác nhau, họ đã tách ra một

bộ phận vào thành phố làm ăn, dựng nhà trên cùng một dãy phố, phía trong sản xuất, phía ngoài bán hàng

Tiếp đó, các con phố thường có xu hướng nằm đan xen với làng Ta rất dễ để

bắt gặp trong lòng các đô thị thậm chí tận bây giờ, vẫn còn những ốc đảo làng quê có lũy tre xanh, có tiếng gà kêu, chó sủa Ở Hà Nội, ngay cạnh quảng trường

Ba Đình vẫn còn làng hoa Ngọc Hà, ngay gần công viên Lê nin có làng Kim Liên, chếch phía Tây thì có làng Láng nổi tiếng với nghề trồng rau hung Hay

ở Huế, cho đến tận bây giờ không chỉ có những thôn Vĩ Dạ thơ mộng, làng Phú Cam làm nón,… mà cả thành phố vẫn còn nguyên đó chất nông thôn

Cuối cùng, lối sống của đô thị Việt Nam cũng tương tự như ở nông thôn vì có

tính cộng đồng và tập thể cao2 Cụ thể, cho đến tận những năm 80, ở các đô thị Việt Nam vẫn rất phổ biến lối kiến trúc khu tập thể – ở đó tất cả đều mang tập thể, cộng đồng y như trong một làng: bể nước tập thể, bếp tập thế, thùng rác tập thể, và cả nhà vệ sinh cũng tập thể; hành lang thì dài dằng dặc chung cho tất thảy mọi nhà Mọi nhà trong chung cư (ít nhất là trong cùng một hành lang, cùng là một cầu thang) đều quen biết nhau, sống cộng đồng với nhau (trông nhà giúp nhau, cho quà nhau, thăm nom nhau,…) như bao đời nay vẫn sống ở nông thôn

5 Lý giải các đặc trưng của đô thị Việt Nam dưới góc độ văn hóa

Thứ nhất, tính bao trùm của thể chế làng xã Việt Nam có tầm ảnh hưởng sâu

rộng đến mức các cộng đồng lớn hơn như đô thị và nhà nước cũng chỉ là sự

2 Xem Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr 117 -123

Trang 8

phóng chiếu của nó Có thể nói: “Siêu làng lớn nhất là nước, là dân tộc” 3 Vì

do tính cộng đồng, cả làng làm cùng một nghề (sản xuất cùng một sản phẩm, buôn cùng một mặt hàng), mà như vậy thì khó mà phát triển được Không có trao đổi hàng hoá nội bộ, không thể trở thành đô thị được Mặt khác, do tính tự trị, dân cư sống tự cấp tự túc, khép kín, không có nhu cầu giao thương cũng là một lí do khiến cho các làng công thương Văn hóa Việt Nam xưa không phải

là văn hóa thành thị, không có hiện tượng thành thị chỉ huy nông thôn để chuyển nền kinh tế tự túc sang kinh tế hàng hóa Đô thị lớn nhất nước như Thăng Long chỉ là cửa hàng bán các sản phẩm nông thôn Cuối cùng, từng phường chỉ là bản sao của từng làng nghề với thành hoàng làng, và gắn chặt chẽ với làng4

Thứ hai, các làng nghề của Việt Nam không thể phát triển được các thị trấn,

để từ đó phát triển tiếp lên thành các đô thị vì:

a) “Nghề” chỉ là một hoạt động kinh doanh phụ so với canh tác nông nghiệp của làng bởi vào thời bấy giờ, Nhà nước tập trung và lấy nông nghiệp là trọng tâm và nông nghiệp thì luôn mang tính thời vụ nên mỗi khi vào mùa nông nhàn,

cả làng sẽ rủ nhau cùng làm chung một nghề tiểu thủ công Tuy nhiên dù nghề

đó có kiếm ra nhiều tiền hay ít tiền thì nó vẫn chỉ là một nghề phụ Ngoài ra, vì không bị sức ép về sự khan hiếm đất đai canh tác, các làng nghề không cần thiết phải sống bằng nghề thủ công chủ yếu

b) Thời bấy giờ, hệ thống giao thông nước ta vẫn không được đầu tư, phát triển nên gây khó khăn cho việc lưu thông và trao đổi các sản phẩm thủ công

c) Thị trường tiêu thụ không thể mở rộng được do chỉ có tầng lớp quan lại phong kiến tiêu có nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp Trong khi đó, các hoạt động buôn bán những sản phẩm này lại do chính tầng lớp quan lại phong kiến quản lý Đây là tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”5 dẫn đến

hệ quả là: thủ công và thương nghiệp bị bóp nặn đến kiệt sức và không có khả năng tái sản xuất mở rộng, và do đó, không đủ lực để bứt ra khỏi quy mô của làng xã nông thôn để trở thành một bộ phận kinh tế độc lập

Thứ ba, chế độ phong kiến Việt Nam mang tính tập quyền Để duy trì tính chất

này, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã tìm đủ mọi cách để loại bỏ những tác nhân gây ra khuynh hướng phản quyền trong xã hội Những tác nhân đó là:

3 Xem: Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trần Quốc Vượng (chủ biên), NXB Giáo dục, tái bản lần thứ 5, 2002, tr.48

4 Xem Phan Ngọc, Bản sắc Văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa – Thông tin, HN, 2002, tr.64

5 Xem đại cương về Văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa – Thông tin, Ts Phạm Thái Việt (chủ biên), tr.92

Trang 9

nghề thủ công, thương mại, giai tầng thương nhân và văn hóa đô thị Có tình trạng đồng mưu giữa chính quyền phong kiến tập quyền và thể chế làng xã trong việc kìm hãm thủ công nghiệp và thương nghiệp Vì rằng cả hai loại thể chế này đều sợ mối liên hệ phổ biến do thương nghiệp đem lại sẽ phá vỡ cấu trúc khép kín của chúng

Thứ tư, người Việt Nam rất có thành kiến với thương nghiệp; khái niệm “trọng

nông, ức thương” ăn rất sâu vào tư tưởng nhân dân lúc bấy giờ và tình trạng ấy

còn nghiêm trọng hơn cả Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khác Hệ quả tất yếu của hoạt động thương nghiệp kém phát triển chính là các thành thị phát triển không đúng với nguyên lí của nó

Cuối cùng, ở Việt Nam, không tồn tại một tầng lớp thương nhân độc lập như

các nước tư bản mà chỉ có những thương nhân sống gắn bó khăng khít với làng quê Một tầng lớp thương nhân như vậy thì rất khó để hình thành nên văn hóa riêng, và vì vậy cũng văn hóa đô thị không được vận hành theo nghĩa đích thực

CHƯƠNG III: SỰ THAY ĐỔI CỦA NHỮNG ĐẶC TRƯNG NÀY TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN

NAY

1 Vai trò, chức năng của đô thị

1.1 Vai trò của đô thị

Đô thị chiếm một vị trí, một vai trò vô cùng quan trọng Trước hết, nó là nền móng tạo ra những trung tâm kinh tế vững mạnh từ đó góp phần to lớn trong việc đẩy nhanh quá trình phát triển của đất nước Bởi vậy người ta vẫn hay thường nói: “Một quốc gia giàu mạnh thì phải là một quốc gia có nền kinh tế

ổn định và phát triển” Đô thị luôn là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước Ta có thể thấy được rằng quá trình đô thị hóa đã và đang góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thay đổi sự phân bố dân

cư Các đô thị không chỉ là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kỹ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có

Trang 10

sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài Ngoài ra, xét về yếu tố văn hóa, khi thực hiện quá trình đô thị hóa, người dân cũng dần nâng cao được mức sống, có thêm cơ hội để có thể mở mang tầm hiểu biết, tiếp cận với lối sống, lối suy nghĩ hiện đại tích cực phù hợp với thời đại, phần nào loại bỏ những hủ tục lạc hậu đã tồn tại trước đó nhưng vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống tốt đẹp giữa hai thể chế làng xã và đô thị Việt Nam Có thể nói rằng, đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia và là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa

1.2 Chức năng của đô thị

Như đã nói ở trên, trong quá khứ, đô thị truyền thống được hình thành là do nhà nước sinh ra Do đó, đô thị truyền thống phải chịu sự ảnh hưởng và quản

lý trực tiếp của nhà nước phong kiến, đóng vai trò là trung tâm chính trị, thực hiện chức năng hành chính trước khi thực sự trở thành một trung tâm kinh tế -

xã hội Dù vậy, đến nay, đô thị Việt Nam vẫn giữ nguyên vai trò hành chính vốn có của nó Các đô thị vẫn được quản lý bởi các cơ quan nhà nước; các đô thị lớn trực thuộc Trung Ương đóng vai trò như các trung tâm hành chính có vai trò đặc biệt quan trọng

Theo Nghị định về việc phân loại đô thị của Chính phủ năm 2009, hiện tại ở Việt Nam có 6 loại đô thị6 Trong đó, hiện tại nước ta có 2 đô thị thuộc loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Đây là các đô thị có vị trí, chức năng, vai trò là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế

- xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định trên Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội cũng là nơi đặt nhiều trụ sở của các cơ quan hành chính quan trọng cấp quốc gia và quốc tế, cho thấy rõ nhất

vị thế quyết định của các đô thị đối với chức năng là trung tâm chính trị

Ngoài ra, đối với các thành phố này, nhà nước, Chính phủ cũng hỗ trợ để chính quyền địa phương hoàn thành chức năng, nghĩa vụ của một đô thị loại

6 Xem Nghị định về việc phân loại đô thị của Chính phủ, 2009

Ngày đăng: 25/12/2022, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN