ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI QUY LUẬT CẠNH TRANH VÀ LIÊN HỆ ĐẾN CẠNH TRANH CỦA NGÀNH SẢN XUẤT ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG Ở NƯỚC TA LỚ.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
GVHD: THS NGUYỄN TRUNG HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN
% ĐIỂM BTL
ĐIỂM BTL
GHI CHÚ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM HỌC 2022
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
STT Mã số
Nhiệm vụ được phân công
% Điểm BTL
Điể m BTL
Ký tên
1 2112584 Nguyễn Minh Tuấn Viết báo cáo,
2 2112759 Huỳnh Ngọc Vân
Anh
Phần mở đầu, kết luận, giúp 2.3
100 9,0
3 2013132 Đầu Nhật Hiến Chương 1, 2.1 100 9,0
Họ và tên nhóm trưởng: Nguyễn Minh Tuấn
Số ĐT: 0984206050 Email: tuan.nguyengk2k3@hcmut.edu.vn
Nhận xét của GV:
GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nguyễn Trung Hiếu
NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nguyễn Minh Tuấn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2.1 Đối tượng nghiên cứu 3
2.2 Phương pháp nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: QUY LUẬT CẠNH TRANH 4
1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.2 Nội dung của quy luật cạnh tranh 4
1.3 Ý nghĩa của quy luật cạnh tranh 4
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ QUY LUẬT CẠNH TRANH ĐẾN CẠNH TRANH CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ-VIỄN THÔNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 8
2.1 Khái quát về ngành sản xuất Điện tử -Viễn thông 8
2.2 Thực trạng cạnh tranh của ngành sản xuất Điện tử -Viễn thông ở nước ta 8
2.3 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh của ngành sản xuất Điện tử -Viễn thông ở nước ta trong thời gian tới 14
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là một trong các quy luật kinh tế chủ yếu của nền kinh tế thịtrường Khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa phải chấp nhận một số quy luật mà nền kinh tế mang lại, trong đó cóquy luật cạnh tranh Đây là quy luật có cơ chế vận hành chủ yếu và là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế Khi tham gia vào thị trường , các chủ thể sản xuất kinh doanhbên cạnh sự hợp tác thì phải chấp nhận sự cạnh tranh Nền kinh tế ngày càng phát triểnthì cạnh tranh trên thị trường càng trở nên quyết liệt và mạnh mẽ hơn Nền kinh tế thịtrường cho phép sự cạnh tranh tự do Theo C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự báo rằng: “Tự
do cạnh tranh sẽ dẫn đến tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất đếnmột mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền” Dù cạnh tranh hay độc quyền đều cónhững tác động ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế
Viễn thông được biết đến là một trong những ngành dịch vụ lớn và phát triểnnhanh nhất với vai trò là dịch vụ liên lạc và là phương tiện nền tảng với nhiều loại hìnhdịch vụ khác về mặt điện tử Viễn thông ban đầu bao gồm tín hiệu khói và trống ởchâu Phi, châu Mỹ và một số nơi của châu Á Vào những năm 1790, các hệ thốngsemaphore cố định đầu tiên đã xuất hiện ở Châu Âu Tuy nhiên, đến những năm 1830thì các hệ thống viễn thông điện mới bắt đầu xuất hiện Cùng với sự tiến bộ này từ tínhiệu khói đến công nghệ di động và internet hiện đại Ngày nay, cùng với cuộc cáchmạng công nghiệp 4.0 lan rộng tạo ra làn sóng mới tác động mạnh mẽ tới mọi mặt củađời sống và các lĩnh vực Trong đó, ngành viễn thông, một ngành kinh tế - kỹ thuậtgắn liền với khoa học công nghệ, là một trong những ngành chịu ảnh hưởng lớn nhất.Kéo theo đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ của các nhà cung cấp dịch vụ như Viettel,Vinaphone, Mobifone,… và các nhà cung cấp dịch vụ khác Trong quá trình hội nhậpquốc tế ngày nay, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế Vấn
đề đặt ra là cần phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh một cách khách quan và tìm ranhững phương hướng, giải pháp thiết thực cho ngành Điện tử - Viễn thông ở nước tahiện nay Vì vậy, nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài “Quy luật cạnh tranh và
Trang 5liên hệ đến cạnh tranh của ngành Điện tử - Viễn thông ở nước ta” cho bài tập lớn mônKinh tế Chính trị Mác – Lênin.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy luật cạnh tranh và ngành Điện tử - Viễn thông
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Cạnh tranh trong ngành Điện tử - Viễn Thông ở Việt Nam giai đoạn từ năm
2011 - 2021
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ lý luận quy luật cạnh tranh.
Thứ hai, phân tích thực trạng cạnh tranh và nguyên nhân của ngành Điện tử - Viễn
thông ở nước ta
Thứ ba, đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cạnh
tranh của ngành Điện tử - Viễn thông ở nước ta trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu là: phương pháp so sánh nhằm so sánhtình hình qua các năm Phương pháp thống kê và phân tích số liệu, dữ liệu qua cácnăm để làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng của vấn đề
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo, nội dung được chia thành:Chương 1: Quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Cạnh tranh của ngành Điện tử - Viễn thông ở nước ta hiện nay
Trang 6CHƯƠNG 1 QUY LUẬT CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Các khái niệm cơ bản
Khái niệm cạnh tranh: Cạnh tranh là một trong những điều tất yếu và là đặc trưng
cơ bản nhất của cơ chế thị trường, khi mà bất kì một tổ chức doanh nghiệp nào thamgia hoạt động sản xuất kinh doanh một loại hàng hóa nào đó trên thị trường thì đềuphải chấp nhận cạnh tranh Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của sản xuấthàng hóa tư bản Khái niệm cạnh tranh rất rộng xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vựckhác nhau của đời sống có thể hiểu như, cạnh tranh trên thị trường là quá trình nhàcung cấp cố gắng ganh đua trên thị trường bằng nhiều cách và phương thức khácnhau như “giá cả, chất lượng, dịch vụ tiện ích và quảng cáo”
Mục đích: Để để đạt tối đa hóa thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hàng hóa , và sựtăng trưởng trong kinh tế của chủ thể
Điều Kiện bắt buộc để có cạnh tranh là: phải có ít nhất hai chủ thể tham gia cạnhtranh
Sự dành được lợi thế cạnh tranh của người này dẫn đến bất lợi tương ứng của ngườikia và ngược lại
1.2 Nội dung của quy luật cạnh tranh
Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế giúp điều tiết một cách khách quan mối quan
hệ ganh đua kinh tế giữa các doanh nghiệp và chủ thể sản xuất và trao đổi hàng hóa
là yêu cầu thường xuyên khi tham gia vào thị trường là luôn phải cạnh tranh
Trang 71.3 Ý nghĩa của quy luật cạnh tranh
Ở trong nền kinh tế thị trường quan hệ cung và cầu là cốt vật chất, giá cả là diệnmạo thì cạnh tranh là linh hồn thuần túy của thị trường Nhờ cạnh tranh, với sựthay đổi liên tục về nhu cầu với bản tính ham muốn của con người mà nền kinh tếthị trường đã đem lại những bước nhảy vọt mà loài người chưa từng có được trongcác hình thái kinh tế trước đó, sự ham muốn không có điểm dừng đối với thuận lợicủa nhà kinh doanh sẽ mau chóng trở thành động lực thúc đẩy họ sáng tạo khôngmệt mỏi, làm cho cạnh tranh trở thành động lực của sự phát triển
Theo đó, cạnh tranh có những vai trò cơ bản như sau:
Thứ nhất, đảm bảo cho việc sử dụng nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất:
Hầu hết việc nỗ lực giảm chi phí để của các doanh nghiệp là để giảm giá thànhcủa hàng hoá, dịch vụ đã làm cho các doanh nghiệp phải tự đặt mình vào nhữngđiều kiện kinh doanh tiết kiệm bằng cách sử dụng một cách hiệu quả nhất cácnguồn lực mà họ có được Tất Cả sự lãng phí hoặc tính toán sai lầm trong sửdụng nguyên vật liệu đều có thể dẫn đến những thất bại trong kinh doanh Nhìntổng quát của nền kinh tế, cạnh tranh là động lực cơ bản giảm sự lãng phí trongkinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên, nhiên, vật liệu được sử dụng tối ưumột cách tốt nhất
Thứ hai, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng:
Ở môi trường cạnh tranh, khách hàng giữ được vị trí trung tâm, họ được cungphụng bởi các bên tham gia cạnh tranh Tất cả nhu cầu của họ được đáp ứngmột cách tốt nhất mà thị trường có thể cung cấp vì họ là người có quyền bỏphiếu bằng đồng tiền để quyết định ai được tồn tại và ai phải ra khỏi cuộc chơi.Cạnh tranh đảm bảo cho khách hàng có được cái mà họ muốn Một nguyên lýcủa thị trường là ở đâu có nhu cầu, có thể kiếm được lợi nhuận thì ở đó có mặtcác nhà kinh doanh, người tiêu dùng không còn phải sống trong tình trạng xếphàng chờ mua nhu yếu phẩm như thời kỳ bao cấp, mà ngược lại, nhà kinhdoanh luôn tìm đến để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt nhất.Bằng sự ganh đua của thị trường cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn tìm cáchnhằm lôi kéo khách hàng về với mình Bao gồm sự tương tác giữa nhu cầu củangười tiêu dùng và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh
Trang 8tranh đã làm cho giá cả hàng hoá và dịch vụ đạt được mức rẻ nhất có thể; cácdoanh nghiệp có thể thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong khả năng chitiêu của họ Bằng ý nghĩa đó, cạnh tranh loại bỏ mọi khả năng bóc lột ngườitiêu dùng từ phía nhà kinh doanh.
Thị trường là nơi gặp gỡ giữa sở thích của Khách hàng và khả năng đáp ứng vềtrình độ công nghệ của người sản xuất Trong mối quan hệ đó, sở thích củangười tiêu dùng là động lực chủ yếu của yếu tố cầu; công nghệ sẽ quyết định vềyếu tố cung của thị trường Tùy thuộc vào khả năng tài chính và nhu cầu, ngườitiêu dùng sẽ quyết định việc sử dụng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể Phụ thuộcvào những tính toán về công nghệ, về chi phí…nhà sản xuất sẽ quyết định mức
độ đáp ứng nhu cầu về loại sản phẩm, về giá và chất lượng của chúng Thực tế
đã cho thấy, mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng phụ thuộc vào khảnăng tài chính, trình độ công nghệ của doanh nghiệp Những gì mà doanhnghiệp chưa thể đáp ứng sẽ là các đề xuất từ phía thị trường để doanh nghiệplên kế hoạch cho tương lai Do đó, có thể nói nhu cầu và sở thích của người tiêudùng có vai trò định hướng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Thị trường được coi là hiệu quả nếu nó cung cấp hàng hoá, dịch vụ đến taykhách hàng với giá trị cao nhất Thị trường sẽ kém hiệu quả nếu chỉ có mộtngười bán mà cô lập với các nhà cạnh tranh khác, các khách hàng khác
Thứ ba, vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường:
Cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực kinh tế tập trung vàotay những doanh nghiệp tốt, có khả năng và bản lĩnh trong kinh doanh Sự tồntại của cạnh tranh sẽ loại bỏ những khả năng lạm dụng quyền lực thị trường đểbóc lột đối thủ cạnh tranh và bóc lột khách hàng Vai trò điều phối của cạnhtranh thể hiện thông qua các chu trình của quá trình cạnh tranh Cạnh tranh làmột chuỗi các quan hệ và hành vi liên tục không có điểm dừng diễn ra trong đờisống của thương trường, song được các lý thuyết kinh tế mô tả bằng hình ảnhphát triển của các chu trình theo hình xoắn ốc Chu trình sau có mức độ cạnhtranh và khả năng kinh doanh cao hơn so với chu trình trước Nên , khi một chutrình cạnh tranh được giả định là kết thúc, người chiến thắng sẽ có được thịphần (kèm theo chúng là nguồn nguyên liệu, vốn và lao động…) lớn hơn điểm
Trang 9xuất phát Thành quả này lại được sử dụng làm khởi đầu cho giai đoạn cạnhtranh tiếp theo Cứ thế, kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh và cạnhtranh hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp có sự tích tụ dần trong quá trình kinhdoanh để nâng cao dần vị thế của người chiến thắng trên thương trường Trongcuộc cạnh tranh dường như có sự hiện diện của một bàn tay vô hình lấy đi mọinguồn lực kinh tế từ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả để trao chonhững người có khả năng sử dụng một cách tốt hơn Sự dịch chuyển như vậyđảm bảo cho các giá trị kinh tế của thị trường được sử dụng một cách tối ưu.
Thứ tư, kích thích sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống
Kinh tế - Xã hội:
Khi sự tự do trong kinh doanh bị tiêu diệt thì mọi sự thi đua chỉ là những cuộc
tụ họp theo phong trào không thể là động lực phát triển vì nền tảng của quy luậtcạnh tranh trên thị trường là quyền tự do trong kinh doanh và sự độc lập trong
sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp Cạnh tranh đòi hỏi Nhà nước và Phápluật phải tôn trọng tự do trong kinh doanh Bao gồm quyền được sáng tạo trongkhuôn khổ tôn trọng lợi ích của chủ thể khác và của xã hội luôn được đề caonhư một kim chỉ nam của sự phát triển Sự sáng tạo làm cho cạnh tranh diễn raliên tục theo chiều hướng gia tăng của quy mô và nhịp độ tăng trưởng của nềnkinh tế Việc vắng thiếu sự sáng tạo sẽ làm cho cạnh tranh trở thành những tuaquay được lặp đi lặp lại ở cùng một mức độ, làm cho ý nghĩa của cạnh tranh –động lực của sự phát triển sẽ chỉ còn là những danh hiệu sáo rỗng
Sự sáng tạo không mệt mỏi của con người trong cuộc cạnh tranh nhằm đáp ứngnhững nhu cầu luôn thay đổi qua nhiều thế hệ liên tiếp là cơ sở thúc đẩy sự pháttriển liên tục và đổi mới không ngừng Sự đổi mới trong đời sống kinh tế đượcthể hiện thông qua những thay đổi trong cơ cấu thị trường, hình thành nhữngngành nghề mới đáp ứng những nhu cầu của đời sống hiện đại, sự phát triểnliên tục của khoa học kỹ thuật, là sự tiến bộ trong nhận thức của tư duy conngười về các vấn đề liên quan đến Kinh tế - Xã hội
Với ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, cạnh tranh luôn làđối tượng được pháp luật và các chính sách kinh tế quan tâm Sau vài thế kỷ thăngtrầm của của kinh tế thị trường và với sự chấm dứt của cơ chế kinh tế kế hoạch
Trang 10hoá tập trung, con người ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về bản chất và ýnghĩa của cạnh tranh đối với sự phát triển chung của đời sống kinh tế Do đó, đã
có nhiều nỗ lực xây dựng và tìm kiếm những cơ chế thích hợp để duy trì và bảo vệcho cạnh tranh được diễn ra theo đúng chức năng của nó
CHƯƠNG 2 CẠNH TRANH CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ-VIỄN THÔNG Ở NƯỚC TA 2.1 Khái quát về ngành sản xuất Điện tử -Viễn thông ở nước ta.
Ngành Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông là một trong những ngành hiện đại được đánhgiá cao về nhu cầu nhân lực trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay Ngành ứng dụngcác công nghệ, kỹ thuật tạo nên và sản xuất các thiết bị truyền thông và các thiết bịđiện tử như “ Tivi, điện thoại di động, máy tính, các mạch điều khiển, hệ thống nhúng
“ , nhằm xây dựng hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu giúp cho việc trao đổi thôngtin được thuận tiện hơn, xây dựng các hệ thống tự động giúp cho việc giao tiếp giữangười và máy thân thiện hơn, xây dựng hệ thống giám sát và điều khiển các thiết bị
2.2 Thực trạng cạnh tranh của ngành sản xuất Điện tử -Viễn thông ở nước ta.
2.2.1 Những mặt tích cực trong cạnh tranh của ngành sản xuất Điện tử Viễn thông và nguyên nhân
-2.2.1.1 Những mặt tích cực
Về quy mô sản xuất
Ngành điện tử và linh kiện ở Việt Nam đã phát triển rất mạnh mẽ với các dự án có vốnđầu tư nước ngoài như:
Năm 1995, tập đoàn LG cũng đã bắt đầu đầu tư hoạt động tại Việt Nam Đến nay, LG
đã có 3 nhà máy sản xuất các mặt hàng chính của hãng: LG Electronics Vietnam HaiPhong chuyên sản xuất sản phẩm điện tử, LG Innotek Vietnam Hai Phong chuyên sản
Trang 11xuất linh kiện điện tử, LG Display Vietnam Hai Phong chuyên sản xuất màn hình LCD
và OLED
Từ năm 2001 đến nay Công ty TNHH Canon Việt Nam thuộc tập đoàn Canon củaNhật Bản đã có 3 nhà máy sản xuất chính là Nhà máy Thăng Long (Hà Nội), Nhà máyQuế Võ (Bắc Ninh), Nhà máy Tiên Sơn (Bắc Ninh) với các sản phẩm chính là máy inphun, máy in lazer, máy quét ảnh
Năm 2006, Mỹ đã đầu tư vào Việt Nam hơn 1 tỷ USD cho dự án mang tên IntelProducts Vietnam Đây là cơ sở sản xuất lắp ráp và kiểm định lớn nhất trong mạnglưới của Intel trên toàn thế giới
Năm 2008, tập đoàn Samsung đến từ Hàn Quốc đã đầu tư nhà máy sản xuất điện thoại
di động Samsung Electronics Vietnam (SEV) tại Bắc Ninh Sau đó tiếp tục xây dựngmột nhà máy sản xuất lớn nữa ở Thái Nguyên (SEVT) Đây cũng là hai nhà máy sảnxuất điện thoại di động lớn nhất trên toàn thế giới của Samsung Sau hơn 12 năm hoạtđộng tại Việt Nam, hiện nay Samsung đã có tổng số 6 nhà máy sản xuất và đang xâydựng một trung tâm nghiên cứu và phát triển ở Hà Nội
Năm 2013, Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Goertek Vina thuộc tập đoàn GoertekTechnology của Hong Kong đã đầu tư xây dựng nhà máy nghiên cứu và sản xuất cácthiết bị công nghệ tại Bắc Ninh Hiện nay tập đoàn đang đầu tư thêm một nhà máy nữatại Nghệ An
Một tên tuổi lớn trong lĩnh vực điện tử là Foxconn Technology Group từ Đài Loan, đốitác sản xuất linh kiện chính của Apple cũng đầu tư nhà máy sản xuất, gia công các sảnphẩm như AirPods, Apple Watch, iPad, Macbook tại Việt Nam
Về tốc độ phát triển
Năm 2001, Việt Nam vươn lên vị trí thứ 47 trong nhóm các nước xuất khẩu hàng điện
tử chủ chốt, sau đó đạt vị trí thứ 11 trong năm 2020 Tính đến hết tháng 4/2021 nhómngành điện tử, máy tính và linh kiện đã đạt tốc độ tăng trưởng 30,8% Xuất khẩu sangcác thị trường chủ yếu đều đạt tốc độ tăng cao: xuất khẩu sang Hàn Quốc ước tính tăng60,6%, đạt 850 triệu USD; xuất khẩu sang ASEAN tăng 55,5%, đạt 520 triệu USD;