1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam và một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học hướng tới một nền giáo dục thực chất

9 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam và một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học hướng tới một nền giáo dục thực chất
Tác giả TS. Bùi Thị Thanh Tình
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Giáo dục đại học
Thể loại Bài tham luận
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 290,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam và một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học hướng tới một nền giáo dục thực chất nêu khái niệm chất lượng giáo dục đại học, các mô hình quản lý chất lượng giáo dục đại học và khái quát về chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam, từ đó khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

HƯỚNG TỚI MỘT NỀN GIÁO DỤC THỰC CHẤT

TS Bùi Thị Thanh Tình* 1

Tóm tắt: Thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh yêu cầu “học thật, thi thật, nhân tài thật” đối với

ngành Giáo dục Theo Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn, “học thật”, xét về phương diện nội dung, là nền giáo dục dạy người ta tri thức,

kỹ năng, phẩm chất, đạo đức, tạo ra năng lực thực, tức những gì mà người học có thể dùng nó cho công việc, cho mưu sinh, cho đời, cho đất nước Với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, đảm bảo chất lượng đào tạo ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh ngành giáo dục đang hướng về “thực chất” Chính phủ cũng đã quan tâm tới chất lượng giáo dục đại học,

đã ban hành Quyết định số 69/QĐ-TTG ngày 15/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ về “Nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai đoạn 2019 - 2025” (Đề án 69) Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chất lượng đào tạo ngày càng được quan tâm Bài viết này nêu khái niệm chất lượng giáo dục đại học, các mô hình quản lý chất lượng giáo dục đại học và khái quát về chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam, từ đó khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam.

Từ khóa: Giáo dục đại học, chất lượng giáo dục đại học, giáo dục thực chất.

1 CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Khái niệm “chất lượng giáo dục đại học”

Chất lượng giáo dục đại học được định nghĩa rất khác nhau tuỳ theo từng thời điểm và giữa những người quan tâm: sinh viên, giảng viên, người sử dụng lao động, các tổ chức tài trợ và các cơ quan kiểm định (Burrows và Harvey, 1993) Đôi khi, nó còn phụ thuộc vào tình trạng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước

Trong các định nghĩa khác nhau về “chất lượng giáo dục đại học”, định nghĩa của

Harvey và Green (1993) có tính khái quát và hệ thống hơn cả Họ đề cập đến năm khía

cạnh chất lượng giáo dục đại học: chất lượng là sự vượt trội (hay sự xuất sắc); chất lượng là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không có sai sót), chất lượng là sự phù hợp

với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng); chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền

(trên khía cạnh đáng giá để đầu tư); và chất lượng là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ

trạng thái này sang trạng thái khác)

Trang 2

Định nghĩa của Harvey và Green (1993) đã được nhiều tác giả khác thảo luận, công nhận và phát triển Các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của Hoa Kỳ, Anh

và nhiều nước khác đang sử dụng khái niệm “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” Một số tổ chức khác vận dụng khái niệm “chất lượng là sự xuất sắc” để so sánh chất

lượng giáo dục đại học giữa các quốc gia hay giữa các trường đại học khác nhau Khái

niệm “chất lượng là có giá trị gia tăng” được vận dụng để khuyến khích các cơ sở giáo

dục đại học quan tâm đến việc không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học

Ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, những định nghĩa về chất lượng giáo dục đại học được chấp nhận gần như không có sự tranh cãi Theo Chương trình Cải cách Giáo dục Đại học ở các nước này (SEAMEO, 2001), khái niệm “chất lượng giáo dục đại học” vẫn chưa được xác định rõ ràng, mặc dù việc thực hiện đảm bảo chất lượng ở

các nước này hầu như theo nghĩa “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” Tuy nhiên,

sự phù hợp với mục tiêu được hiểu rất khác nhau giữa các quốc gia tuỳ theo đặc điểm văn hoá, hệ thống quản lý giáo dục và tình hình kinh tế xã hội của các nước

Gần đây, trong “Khuôn khổ hợp tác khu vực về đảm bảo chất lượng giáo dục đại

học”, SEAMEO (2003) đã sử dụng quan niệm “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” trong việc khuyến khích các nước trong khu vực hợp tác với nhau.

Chắc rằng không thể đưa ra một định nghĩa hay một quan niệm thống nhất về “Chất

lượng giáo dục đại học”, bài viết này sử dụng định nghĩa “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” như là một định nghĩa phù hợp nhất đối với giáo dục đại học của nước ta.

Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của những người quan tâm như các nhà quản lý, nhà giáo hay các nhà nghiên cứu giáo dục đại học Sự phù hợp với mục tiêu còn bao gồm cả sự đáp ứng hay vượt qua các chuẩn mực đã được đặt ra trong giáo dục và đào tạo Sự phù hợp với mục tiêu cũng đề cập đến những yêu cầu về sự hoàn thiện của đầu ra, hiệu quả của đầu tư Mỗi một trường đại học cần xác định nội dung của sự phù hợp với mục tiêu trên cơ sở bối cảnh cụ thể của nhà trường tại thời điểm xác định mục tiêu đào tạo của mình và chất lượng là vấn đề làm sao để đạt được các mục tiêu đó

Các mô hình quản lý chất lượng giáo dục đại học

Với sự phát triển của xã hội loài người, công nghiệp và dịch vụ ngày càng phát triển, hàng hoá được sản xuất ngày càng nhiều và con người ngày càng quan tâm đến chất lượng, bởi vì con người muốn có các mặt hàng tốt hơn, muốn được phục vụ tốt hơn Chính vì lẽ đó mà khoa học quản lý chất lượng được hình thành, trước hết ở trong công nghiệp, sau đó được đưa vào áp dụng cho giáo dục đại học Ba cấp độ quản lý chất lượng được nhiều người biết đến là: Kiểm soát chất lượng (Quality Control), Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance) và Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management)

Trang 3

Kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý chất lượng đã được sử dụng lâu đời

nhất, được thực hiện ở khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất/ đào tạo nhằm phát hiện và loại bỏ toàn bộ hay từng phần sản phẩm cuối cùng không đạt các chuẩn mực chất lượng (ví dụ không đạt các thông số kỹ thuật) Đây là quá trình xảy ra sau khi sản phẩm đã được tạo ra, nên nếu phải loại bỏ sản phẩm sẽ dẫn đến lãng phí nguyên vật liệu, thời gian và công sức Với người học, họ còn mất nhiều cơ hội khác trong khi phải theo đuổi một chương trình học tập nhưng cuối cùng không được tốt nghiệp

Đảm bảo chất lượng là cấp độ quản lý chất lượng tiến bộ hơn kiểm soát chất

lượng, được thực hiện trước và trong quá trình sản xuất/đào tạo Đảm bảo chất lượng nhằm phòng ngừa sự xuất hiện những sản phẩm có chất lượng thấp Chất lượng được thiết kế theo các chuẩn mực và đưa vào quá trình sản xuất hoặc đào tạo nhằm bảo đảm sản phẩm đầu ra đạt được những thuộc tính đã định trước Đảm bảo chất lượng là phương tiện tạo ra sản phẩm không có sai sót do lỗi trong quá trình sản xuất hay đào tạo gây ra, vì thế chất lượng được giao phó cho mỗi người tham gia trong quá trình sản xuất hay đào tạo Từ ý tưởng này mà người ta quan tâm đến việc tạo nên một nền văn hoá chất lượng khi áp dụng mô hình đảm bảo chất lượng để những người trực tiếp làm

ra sản phẩm phải tự nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng, biết cách làm thế nào để đạt được chất lượng cao hơn và tự mình mong muốn làm điều đó, hơn thế nữa còn lôi kéo, vận động người khác cùng làm tốt hoặc làm tốt hơn bản thân họ

Quản lý chất lượng tổng thể là cấp độ quản lý chất lượng cao nhất hiện nay Quản

lý chất lượng tổng thể có mối quan hệ chặt chẽ với đảm bảo chất lượng, tiếp tục và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng Quản lý chất lượng là việc tạo ra nền văn hoá chất lượng, nơi mà mục đích của mọi người trong tổ chức kinh doanh hay nhà trường là làm hài lòng khách hàng hay làm hài lòng người học (trên phương diện học thuật) Những nơi như thế không cho phép họ cung cấp các sản phẩm có chất lượng thấp Quản lý chất lượng tổng thể là quá trình nghiên cứu những kỳ vọng và mong muốn của khách hàng, thiết kế sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng

2 KHÁI QUÁT CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong thời gian qua, chất lượng giáo dục đại học đã có những chuyển biến tích cực Về quy mô đào tạo, trong những năm trở lại đây, số lượng sinh viên đại học có

xu hướng giảm Số lượng sinh viên đại học giảm cho thấy đã có sự chuyển biến về nhận thức của sinh viên trong việc lựa chọn ngành nghề và sự hấp dẫn ngày càng lớn của các cơ sở đào tạo nghề khi học viên vừa học vừa thực hành tại doanh nghiệp được cam kết có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp Ngược lại với sự giảm sút về số lượng sinh viên đại học, chất lượng giáo dục đại học được nâng lên, thể hiện qua số sinh viên tốt nghiệp ra trường tăng và tỷ lệ lao động có việc làm theo trình độ chuyên môn đại

Trang 4

học trở lên tăng cao Để nâng cao chất lượng đào tạo, những năm qua, ngành Giáo dục

đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) chủ động đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực, nâng cao kỹ năng ứng dụng, thực hành… Các cơ sở đào tạo chủ động nắm bắt nhu cầu của thị trường lao động, hoặc phát triển các chương trình đào tạo có sự tham gia của các doanh nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra

Theo đó, các trường đại học đã triển khai chương trình tiên tiến, chương trình chất lượng cao chuyển giao từ các nước phát triển để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Đội ngũ giảng viên đại học tăng cả về số lượng và chất lượng Việc giảm khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành trong đào tạo thông qua thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo sinh viên

có nhiều chuyển biến về chất lượng sinh viên tốt nghiệp đại học Cùng với đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học của các trường đại học cũng đạt nhiều kết quả tích cực Ngoài ra, hoạt động tự chủ đại học cũng đã được đẩy mạnh Công tác kiểm định chất lượng được tăng cường Số lượng các cơ sở GDĐH đạt tiêu chuẩn kiểm định quốc tế

và trong nước tăng lên Có thể thấy, trong nhiều năm đổi mới, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học của Việt Nam đã có chuyển biến tích cực Vị thế các trường đại học Việt Nam trong bảng xếp hạng châu Á được nâng cao Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) về nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, năm 2020 thì chỉ số Vốn nhân lực của Việt Nam đạt 0.69, đứng thứ 38/174 nền kinh tế Trong đó, thành phần kết quả giáo dục Việt Nam đứng thứ 15, tương đương với các nước như Hà Lan, New Zealand, Thụy Điển

Giáo dục đại học Việt Nam xếp thứ 68/196 quốc gia Đối với bậc đại học, tự chủ đại học được đẩy mạnh, tạo đột phá trong quản trị đại học Đào tạo đại học đã gắn kết hơn với nhu cầu lao động của địa phương, với các doanh nghiệp, các đơn vị sử dụng lao động Vị thế các trường đại học của Việt Nam đã được nâng lên trong bảng xếp hạng châu Á và thế giới

Năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam tiếp tục duy trì số lượng và thứ hạng trong các bảng xếp hạng đại học uy tín thế giới như Quacquarelli Symonds World University Rankings (QS, Vương quốc Anh), World University Rankings của Tạp

chí Times Higher Education (THE) Việc thực hiện bảo đảm và kiểm định chất

lượng, góp phần nâng cao chất lượng, uy tín cơ sở giáo dục đại học Năm 2015, chỉ

có ba trường có tên trong bảng xếp hạng QS châu Á thì đến năm 2020, Việt Nam đã

có tám trường ÐH trong tốp 500 trường hàng đầu châu Á (theo bảng QS University Rankings) gồm: ÐH Quốc gia Hà Nội, ÐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường ÐH Bách khoa Hà Nội, Trường ÐH Tôn Ðức Thắng, ÐH Ðà Nẵng, ÐH Huế, Trường ÐH

Trang 5

Duy Tân Ðáng chú ý, có bốn trường có tên trong tốp trường tốt nhất thế giới: là ÐH Quốc gia Hà Nội, ÐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường ÐH Bách khoa Hà Nội và Trường ÐH Tôn Ðức Thắng

Trường Đại học Tôn Đức Thắng là trường duy nhất của Việt Nam lọt vào bảng xếp hạng các đại học xuất sắc nhất toàn thế giới năm 2020 do Hệ thống xếp hạng đại học thế giới ARWU công bố

Hai đại học quốc gia của Việt Nam cũng được vào top 101-150 trường đại học trẻ tuổi (thành lập dưới 50 năm) có chất lượng giáo dục hàng đầu thế giới, theo xếp hạng của Tổ chức QS

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội lần đầu tiên và là đại diện duy nhất của Việt Nam xuất hiện trong top 200 của bảng xếp hạng các trường đại học trong “độ tuổi vàng” (THE Best ‹Golden Age› Universities) Trường cũng lọt vào Bảng xếp hạng những đại học có ảnh hưởng nhất đến sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu - THE Impact Rankings, năm 2020

Nhiều ngành, lĩnh vực đào tạo của Việt Nam được đứng trong top 500 thế giới

Số lượng báo cáo khoa học của Việt Nam công bố trên các ấn phẩm quốc tế có uy tín tăng đáng kể với 12.475 bài, đứng thứ 49 thế giới

Theo kết quả xếp hạng các trường đại học khu vực châu Á của Tổ chức giáo dục

Quacquarelli Symonds (QS), trong nhóm các trường đại học tốt nhất châu Á, năm

2018 Việt Nam có 7 trường, năm 2019 có 7 trường, năm 2020 có 8 trường và năm

2021 lên 11 trường

Các trường lọt nhóm 500 đại học tốt nhất châu Á năm 2018 gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Bách khoa

Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng Năm 2019 có thêm Trường Đại học Tôn Đức Thắng góp mặt trong bảng xếp hạng này Năm 2020 thêm Đại học Duy Tân Năm 2021, QS xếp hạng 634 cơ sở giáo dục đại học tốt nhất châu Á, Việt Nam có thêm các trường: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Bảng xếp hạng QS 2020 theo lĩnh vực có tên 4 đại học của Việt Nam lọt tốp 600 trên thế giới, gồm Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Cần Thơ Trong đó, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Cần Thơ lần đầu tiên được

“điểm danh” trong bảng xếp hạng này

Ở bảng xếp hạng uy tín Times Higher Education World University Rankings

(bảng xếp hạng THE), năm 2019, Việt Nam lần đầu tiên có ba trường đại học được

Trang 6

xếp hạng Trong đó, Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Quốc gia Hà Nội được xướng tên trong danh sách 1.000 đại học hàng đầu thế giới Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng 1.000+

Ở Bảng xếp hạng đại học theo thành tựu học thuật (URAP), năm 2020, Việt Nam có 12 trường đại học được xếp hạng, tăng thêm 4 trường so với năm 2019

Bộ GD&ĐT đã chủ động thực hiện các hoạt động thúc đẩy hợp tác và đầu tư của nước ngoài Hiện có 22 quốc gia và vùng lãnh thổ với 147 nhà đầu tư tham gia đầu tư trực tiếp vào giáo dục và đào tạo tại Việt Nam

Việt Nam có 452 chương trình đào tạo quốc tế được tổ chức tại 70 trường đại học của Việt Nam

Với chất lượng giáo dục liên tục được nâng cao, chi phí học tập, sinh hoạt hấp dẫn, môi trường sống an toàn, trong những năm gần đây, Việt Nam đang là điểm đến được lựa chọn của nhiều sinh viên quốc tế Đến năm học 2019 - 2020 đã có hơn 21.000 lưu học sinh đến từ 67 quốc gia trên thế giới, trong đó, có 14.400 sinh viên theo học các chương trình đào tạo từ đại học trở lên

Một số chỉ tiêu của Đề án nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai đoạn 2019 - 2025

• 100% số giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ hoặc tương đương trở

lên, trong đó ít nhất 35% có trình độ tiến sĩ;

• 100% số cơ sở GDĐH thực hiện kiểm định chất lượng;

• 35% số chương trình đào tạo được kiểm định trong nước hoặc nước ngoài;

• 100% chương trình đào tạo giáo viên ở tất cả các trình độ được kiểm định;

• 100% cơ sở GDĐH thực hiện tốt cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình;

Tuy nhiên, chất lượng GDĐH vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra Nhiều cơ sở GDĐH chất

lượng đào tạo chưa cao, nhất là đào tạo sau đại học, liên kết, liên thông… Hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phục vụ cộng đồng còn hạn chế khi

số lượng công trình, bài báo, các phát minh, sáng chế chưa tương xứng với tiềm năng Một số trường đại học sau thời gian hoạt động vẫn chưa đủ các điều kiện bảo đảm chất lượng theo đề án thành lập trường Việc thành lập trường, mở ngành, xác định chỉ tiêu tuyển sinh… chủ yếu dựa trên năng lực của cơ sở đào tạo, chưa bám sát nhu cầu thị trường lao động… Cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, chất lượng đào tạo hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Việc triển khai đào tạo chất lượng cao trình độ đại học không đồng đều, chủ yếu tập trung ở những trường đại học lớn trong khi các trường đại học do địa phương quản lý còn chậm được triển khai Tự chủ chưa gắn liền với đổi mới quản trị đại học và trách

Trang 7

nhiệm giải trình xã hội Bên cạnh đó, nguồn tài chính chưa nhiều, chi phí thấp, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm nghèo nàn, chưa tạo môi trường làm việc cho các nhà khoa học giỏi; chính sách khuyến khích và thúc đẩy đầu tư từ khu vực tư nhân chưa đồng

bộ, chưa đủ mạnh để tạo cơ chế thúc đẩy sự bình đẳng giữa các trường thuộc khối công lập và ngoài công lập cũng như đáp ứng yêu cầu cạnh tranh về chất lượng với các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn

3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thực chất về chất lượng giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực góp phần nâng cao chất lượng và năng suất lao động, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, tăng cường năng lực cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên thế giới, cần có một số giải pháp

Thứ nhất: Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển giáo dục đại học, sửa đổi, bổ

sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học; các quy định tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập; quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo giáo viên theo các quy chuẩn chất lượng, phù hợp

Thứ hai: Đẩy mạnh thực hiện tự chủ, đổi mới quản trị giáo dục đại học gắn với cơ

chế quản lý và giám sát hiệu quả Tăng cường đầu tư, đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học, các trường tự xác định mức học phí tương xứng với chất lượng đào tạo; ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học, ngành đào tạo mang tầm khu vực, quốc tế và cơ sở đào tạo giáo viên chất lượng cao; có cơ chế phân bổ nguồn lực cho giáo dục đại học theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả…

Thứ ba: Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp liên kết, đầu tư, hỗ trợ

các trường đại học dưới nhiều hình thức khác nhau như: tham gia đào tạo cùng, đặt hàng… Có như vậy sẽ thúc đẩy chất lượng đào tạo hơn và cũng gắn giữa lý thuyết với thực tiễn hơn

Thứ tư: Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, Bộ Giáo dục và

Đào tạo yêu cầu việc xây dựng chuẩn đầu ra cho các chương trình đào tạo (CTĐT) của các trường phải đảm bảo phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam cũng như chuẩn chương trình theo nhóm ngành, lĩnh vực và phải có biện pháp giám sát cụ thể Điều này giúp quản lý được chất lượng đào tạo đồng bộ, tránh tình trạng cùng một ngành ở cùng một trình độ được đào tạo ở các trường khác nhau nhưng không đảm bảo những chuẩn mực chung tối thiểu để đào tạo ra nhân lực của ngành nghề đào tạo đó Bên cạnh đó, với tiếp cận xuyên suốt theo hướng quản lý chất lượng đầu

ra, việc “đánh giá đạt chuẩn đầu ra CTĐT” được xem là một yêu cầu mới đối với quản lý chất lượng đào tạo Cách tiếp cận quản lý chất lượng này yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học không chỉ minh bạch chuẩn đầu ra cho các bên liên quan mà còn

Trang 8

phải cung cấp được minh chứng người tốt nghiệp đạt được những chuẩn đầu ra mà

cơ sở giáo dục đại học đã tuyên bố với người học và các bên liên quan cũng như toàn xã hội Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục với việc tập trung kiểm định chương trình đào tạo

Thứ năm: Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu

của thị trường, phát triển tư duy sáng tạo của học viên; quản lý chất lượng tổng thể bao gồm: Quản lý các điều kiện đầu vào, quản lý quá trình đào tạo và quản lý chất lượng đầu ra phù hợp với khung trình độ quốc gia; Triển khai các giải pháp nâng cao khả năng có việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp; Công bố các điều kiện đảm bảo chất lượng, tỷ lệ có việc làm của sinh viên tốt nghiệp, các sản phẩm khoa học công nghệ của trường

Thứ sáu: Nâng cao chất lượng, hình thành đội ngũ giảng viên năng động, cập

nhật kiến thức chuyên môn, khả năng ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quá trình hội nhập quốc tế Chất lượng giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo trong các trường Đại học bởi giáo viên chính là những người truyền tải tri thức, truyền lửa, gieo trồng kiến thức cho các em sinh viên Do đó, mỗi giáo viên cần tự trau dồi để nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân, đặc biệt là trong thời đại công nghệ số như hiện nay

Thứ bảy: Cần có sự vào cuộc của toàn xã hội để có sự nhận thức, hành động

đúng, đánh giá đúng về chất lượng Giáo dục đại học Để có chất lượng “thật” trước hết và luôn luôn là việc của ngành giáo dục, nhưng cũng là của toàn xã hội Một thực

tế xã hội rất quan trọng khác đang trực tiếp triệt tiêu động lực của việc học thật, thi thật chính là việc nhiều đơn vị và tổ chức tuyển người, dùng người, đánh giá người còn dựa trên bằng cấp mà chưa chú ý đến trình độ thực chất Nếu tất cả mọi người cùng đồng lòng vì nền giáo dục thực chất, vì cuộc sống chất lượng và sự phát triển của đất nước, thì một trong những việc đầu tiên cả xã hội chung tay hành động là tất cả cùng vì thực học Nói cách khác, việc làm cho người học phải học thực, thi thực, thì một phần quan trọng lại nằm ở phía sử dụng sản phẩm đầu ra của giáo dục, đó là việc dùng người, tuyển người, đánh giá người Nếu tuyển người chỉ dựa trên giấy tờ, theo quan hệ và bị chi phối bởi các yếu tố không thực chất, thì người học sẽ có xu hướng chỉ lo sao cho đẹp hồ sơ, chuẩn các điều kiện, mà không lo phần thực chất Nếu việc tuyển người, dùng người, đánh giá người theo năng lực thật, ai có tài năng thực được trọng dụng, được đánh giá đúng thì khi đó sinh viên sẽ đua nhau mà học thật, thi thật Dùng người chỉ căn cứ theo năng lực, theo phẩm chất thật, thì việc dạy và học sẽ chuyển động theo một cách nhanh chóng Trên nền tảng của việc học thực chất, người lao động đúng theo năng lực, khi đó người học sẽ càng nỗ lực hơn nữa

Trang 9

KẾT LUẬN

Để nâng cao chất lượng lượng giáo dục phù hợp với mục tiêu giáo dục, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp và điều quan trọng nhất là sự đồng lòng của toàn xã hội chứ không phải chỉ từ phía các nhà trường, có như vậy mới có thể hướng tới một nền giáo dục thực chất

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 https://giaoducthoidai.vn/giao-duc/bo-truong-bo-gddt-tat-ca-huong-toi-hoc-that-thi-that-nhan-tai-that-gWm4uGqGR.html

2 https://tuoitre.vn/dong-long-noi-khong-voi-tieu-cuc-153496.htm

3 https://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:HQOnzAQ9kQcJ:https:// moet.gov.vn/content/vanban/Lists/VBDH/Attachments/2315/6122BGD%25C4%2590T-T%25C4%2590KT.docx+&cd=3&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

4 http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=431148

5 Phạm Minh Mục, “Một số giải pháp đảm bảo chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Giáo dục.

6 Australian Universities Quality Agency (2002) AUQA Glossary Retrieved October 17,

2000 from the World Wide Web: http://www.auqa.edu.au/tools/glossary/index.shtml.

7 Burrows, A & Harvey, L (1993) Defining quality in higher education – the stakeholder

approach In M Shaw & E Roper (Eds.) Quality in Education and Training (pp 44-50)

London: Kogan Page.Harvey và Green (1993).

Ngày đăng: 08/12/2022, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w