Theo tư tưởng của Người, đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, nhất quán và xuyên suốt để tập hợp lực lượng cách mạng và là nhân tố quyết định sự thành công.Năm 1941, để tuyên truyền
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Giáo viên: Nguyễn Thùy Linh
Lớp học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh (221)_03
Hà Nội, 2021
Trang 2THÀNH VIÊN NHÓM
1 Nguyễn Thị Ngọc Anh 11190387 Làm nội dung
3 Nguyễn Thị Thu Hằng 11191710 Làm nội dung
4 Trần Thị Hiền 11191883 Làm nội dung
5 Trần Thị Huyền 11192505 Làm nội dung
6 Nguyễn Thị Thùy Linh 11192957 Thuyết trình
7 Nguyễn Khánh Ly 11193221 Làm nội dung
8 Trần Thanh Thúy 11195050 Tổng hợp word, làm Powerpoint
9 Đinh Thị Quỳnh Trang 11195210 Nhóm trưởng, làm nội dung
Trang 34.1 Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trong
4.2 Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công- nông- trí
4.3 Đại đoàn kết toàn dân tộc phải kết hợp với đoàn kết quốc tế 25
Trang 4MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam có tình yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất, ý thức cố kết dântộc tạo thành một truyền thống bền vững Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cốkết cộng đồng đó thể hiện qua suốt chiều dài lịch sử của dân tộc chính là cơ sở quan trọng
để từ đó hình thành tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong cuộc đời hoạtđộng cách mạng của mình, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rất nhiều lần nói vềđoàn kết Theo tư tưởng của Người, đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, nhất quán
và xuyên suốt để tập hợp lực lượng cách mạng và là nhân tố quyết định sự thành công.Năm 1941, để tuyên truyền rộng rãi về chủ trương, chính sách của Mặt trận Việt Minhnhằm thu hút ngày càng đông đảo sự ủng hộ của các tầng lớp, đồng bào các dân tộc, Bác
Hồ đã sáng tác Diễn ca “Mười chính sách của Việt Minh” trong đó Bác khẳng định:
"Dân ta nên nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
Đoàn kết chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do và sự thành công Vớinhãn quan chính trị sắc bén, với tinh thần nhân văn cao cả; suốt cả cuộc đời, Chủ tịch HồChí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đoàn kếtdân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn Đảng và các cấp chính quyền,trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc Trong bất cứ hoàncảnh nào dù là thời chiến hay thời bình, 4 chữ “đồng” theo lời Bác cũng có một sức mạnh
to lớn, tạo thành khối đại đoàn kết vững chắc thì không một thế lực nào có thể chống lại,tàn phá dân tộc ta Như vậy, đoàn kết tạo nên sức mạnh và đại đoàn kết dẫn đến độc lập,
tự do và thành công
Trang 51.1.1 Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hình thành nên tinh thầnyêu nước, tinh thần cố kết dân tộc và tinh thần đó đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm củamỗi người dân đất Việt Đó chính là căn nguyên về sức mạnh cội nguồn của dân tộc ViệtNam, tạo ra sức mạnh vô địch trong đấu tranh chống thiên tai và đấu tranh chống giặcngoại xâm Nó là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vìdân vì nước của mỗi người dân Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự pháttriển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nêntruyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc Dù lúc thăng, lúc trầm nhưng chủ nghĩa yêunước và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam bao giờ cũng là tinh hoa đã đượchun đúc và thử nghiệm qua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống giặcngoại xâm bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết,cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng HồChí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân (quan trọng nhất)
Trang 6Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Cộng đồng xã hội nào cũng
được tạo nên từ những con người cụ thể, do đó sự tồn tại và phát triển của con người làđiều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Trong quá trình sản xuất vật chất đó, conngười tất yếu phải liên kết lại với nhau theo những cách thức nhất định, đó chính là quan
hệ sản xuất Trong Lao động làm thuê và tư bản, C.Mác viết: “Trong sản xuất, người takhông chỉ quan hệ với tự nhiên Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp vớinhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốnsản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; vàquan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ nhữngmối liên hệ và quan hệ xã hội đó” V.I.Lênin chỉ rõ: “Lực lượng sản xuất hàng đầu củatoàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Chính sự phát triển của lực lượng sảnxuất đã dẫn đến sự thay thế các quan hệ sản xuất lỗi thời bằng những quan hệ sản xuấtmới, dẫn đến sự thay đổi toàn bộ kiến trúc thượng tầng của xã hội Như vậy, lịch sử của
xã hội loài người trước hết là lịch sử của sản xuất, lịch sử của sự thay đổi các phươngthức sản xuất khác nhau qua các thời đại, lịch sử của những người sản xuất của cải vậtchất, của quần chúng nhân dân
Thứ hai, quần chúng là lực lượng cơ bản của các cuộc cách mạng xã hội Đấu
tranh giai cấp không phải là những cuộc bạo loạn, khủng bố, lật đổ, chỉ có ý nghĩa pháhoại, tiêu cực mà là những cuộc đấu tranh rộng khắp của quần chúng nhân dân lao độngchống lại giai cấp thống trị bảo thủ Theo V.I.Lênin, mọi cuộc cách mạng xã hội đều biểuhiện dưới hình thức đấu tranh giai cấp và thông qua đấu tranh giai cấp mà đưa xã hội tiếnlên từ thấp đến cao Trong mọi cuộc cách mạng xã hội, quần chúng nhân dân lao độngluôn giữ vai trò quyết định “Cuộc cách mạng chỉ thực sự là một cuộc cách mạng khi nàohàng chục triệu người đồng lòng hăng hái nổi dậy”
Thứ ba, quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo, bảo tồn các giá trị văn hóa trong xã hội Quần chúng nhân dân đóng vai trò to lớn trong sự phát triển khoa học, nghệ
thuật, văn học đồng thời áp dụng thành tựu đó vào thực tiễn Những sáng tạo về mọi mặt vừa
là cội nguồn, vừa là điều kiện thúc đẩy sự phát triển nền văn hoá tinh thần của dân tộc
Trang 7trong mọi thời đại Mặt khác, giá trị văn hóa có thể trường tồn khi được đông đảo quầnchúng nhân dân chấp nhận và truyền bá rộng rãi, trở thành giá trị phổ biến.
Mác- Lênin chỉ rõ: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nhân dân làngười sáng tạo ra lịch sử, giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò lãnh đạo thì phải trởthành dân tộc, liên minh Công- Nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cáchmạng Hồ Chí Minh đến với quan điểm Mác - Lênin là chỉ ra cho các dân tộc bị áp bứccon đường đoàn kết tập hợp các lực lượng cách mạng trong phạm vi từng nước cũng nhưtrên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Vừa hoạt động thực tiễn vừanghiên cứu lý luận, Người đã có cơ sở đánh giá chính xác những tích cực cũng như hạnchế trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt nam tiền bối cũng nhưcác nhà cách mạng lớn trên thế giới Từ đó hoàn chỉnh tư tưởng về đoàn kết dân tộc
Quan điểm Mác - Lênin là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ ChíMinh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạnchế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nướcViệt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng HồChí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1.1.3 Tổng kết kinh nghiệm thành công và thất bại của cách mạng Việt Nam
và cách mạng thế giới
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã khảo sát tình hình các nước
tư bản chủ nghĩa và các nước thuộc địa trên thế giới, tổng kết thực tiễn đấu tranh của cácdân tộc thuộc địa và thấy được sức mạnh đấu tranh tiềm ẩn và các hạn chế của họ Cácdân tộc thuộc địa chưa có sự lãnh đạo đúng đắn, chưa có tổ chức và chưa biết đoàn kếtvới nhau
Với cách mạng Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Hồ Chí Minh cho rằng cácphong trào diễn ra hết sức mạnh mẽ nhưng đều đến thất bại chứng tỏ trong thời đại mới nếuchiri có tinh thần yêu nước thì chưa đủ mà cần phải có lực lượng lãnh đạo, có khả năng đề rađường lối cách mạng đúng đắn, có khả năng quy tụ cả dân tộc vào cuộc đấu tranh chungchống Đế quốc và phong kiến tay sai Ngoài ra, bác thấy được những hạn chế trong
Trang 8việc tập hợp lực lượng của các nhà lãnh đạo tiền bối Vì vậy, Bác ra đi tìm đường cứunước, sang Pháp học hỏi và giúp đỡ đồng bào.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Cách mạng Việt Nam
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà mở đầu cuộc chiến tranh xâmlược Việt Nam Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp cơ bản đã hoàn thành công cuộc xâm lược
và bình định nước ta, mong muốn biến Việt Nam thành thuộc địa của Pháp Như vậy, ở thời
kì này, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến với hai mâu thuẫn cơ bản:
Một là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược
và bè lũ tay sai
Hai là, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam mà chủ yếu là nông dân với giai cấp
địa chủ phong kiến
Chính sự áp bức bóc lột nặng nề của bọn thực dân mà ngày càng có nhiều phongtrào khởi nghĩa nổ ra nhằm chống lại ách thống trị tàn bạo và giành lấy lại hòa bình chođất nước Sang đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chuyển dần sang xu hướng dân chủ
tư sản với các phong trào Đông du, Duy tân, Đông kinh nghĩa thục, nổi lên mạnh mẽ vàrộng khắp Tuy nhiên, các phong trào này nhanh chóng thất bại vì đường lối cách mạngkhông rõ ràng, không huy động được mọi tầng lớp nhân dân, không độc lập tự chủ,
Sự thất bại của phong trào yêu nước nói lên sự khủng hoảng về đường lối chính trị
ở Việt Nam, sự thiếu hụt về lực lượng, vũ khí, đặc biệt là thiếu đi đường lối chỉ đạo đúngđắn Hồ Chí Minh đã thấy được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng của cácnhà yêu nước tiền bối và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử trong giaiđoạn này Đồng thời, khi nghiên cứu về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộcmình, Hồ Chí Minh nhận thức được trong thời phong kiến, qua những cuộc đấu tranh thayđổi triều đại, đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng
Trang 9“Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thư sức dân để làm kếsâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kếtcủa dân tộc trong chiều sâu và bề dày của lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh
và được Người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình
1.2.2 Cách mạng thế giới
Lịch sử thế giới trong giai đoạn này cũng có những biến chuyển hết sức to lớn.Công xã Paris thất bại do mối quan hệ giữa hai giai cấp công - nông ở Pháp khi tiến hànhcông xã chưa thực sự chặt chẽ, bền vững Qua sự thất bại của các phong trào cứu nướccuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh tuy chưa nhận thức được đặc điểm củathời đại, nhưng Người cũng thấy rõ con đường cứu nước của các bậc tiền bối cách mạng
là không phù hợp, không đem lại kết quả
Năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi Đây được xem là sựkiện chính trị lớn nhất của thế kỷ XX, mở ra một trang thời đại mới trong lịch sử loàingười, thời đại chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, thời đại thắng lợi của cách mạnggiải phóng dân tộc và cách mạng vô sản Khi nghiên cứu Cách mạng tháng Mười Nga, HồChí Minh nhận thấy, sở dĩ Cách mạng tháng Mười Nga thành công là do có liên minhcông - nông làm gốc cách mạng, hai giai cấp này liên kết chặt chẽ và đưa đến cách mạngthành công Bị thu hút bởi sự kiện lịch sử gây chấn động thế giới, Hồ Chí Minh nhận rađược tầm quan trọng của đoàn kết trong cách mạng, từ đó, Người đã nghiên cứu để hiểumột cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quýbáu mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho phong trào cách mạng thế giới Đặc biệt làbài học về sự huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng công nông binh đôngđảo để giành và giữ chính quyền cách mạng
II TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT 2.1 Giải thích luận điểm của Hồ Chí Minh
Trang 10“Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”
Đồng tình có thể hiểu một cách đơn giản là hành động thể hiện sự đồng ý, ủng hộ.Đồng sức là hành động thể hiện việc mọi người cùng góp sức của mình để hoàn thànhmột mục tiêu chung Đồng lòng là mọi người có cùng một lòng, một ý chí Đồng minh làlực lượng cùng đứng về một phía để phối hợp hành động vì mục đích chung Bốn từ
“Đồng tình”, “Đồng sức”, “Đồng lòng”, “Đồng minh” có mối liên hệ vô cùng chặt chẽvới nhau Bởi lẽ, đồng sức sẽ không xảy ra nếu không có sự đồng tình từ mọi người Mọingười sẽ chỉ có thể cùng nhau góp sức tạo ra vật chất khi tất cả đã cùng ủng hộ thứ đó Vàsau khi sự đồng tình của nhân dân đã chuyển tải thành sự đồng sức thì sự đồng lòng sẽxuất hiện, các lực lượng sẽ ra đời Khi các lực lượng có cùng một mục tiêu chung thì sẽhình thành liên kết giữa các lực lượng gọi là đồng minh
Đặt vào bối cảnh nước ta lúc bấy giờ, trong lúc thù trong giặc ngoài, đất nước đang
ở trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng chính quyền cách mạng vẫn được giữ vững, conthuyền cách mạng vẫn đang tiến đến bến bờ vinh quang, lý do đầu tiên có thể kể đến đó là dotrong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã chú ý tổng kết thực tiễn dưới ánh sángchủ nghĩa Mác – Lênin để từng bước phát hiện ra sức mạnh vĩ đại tiềm ẩn trong phong tràocách mạng thế giới mà Việt Nam cần tranh thủ Và một lý do quan trọng hơn cả đó là toàndân ta đã đồng lòng cùng Đảng thống nhất mặt trận, đem tất cả sức lực để giành quyền độclập, tự do cho dân tộc Đây chính là nguyên nhân cách mạng thành công mà Hồ Chí Minh đãtừng chỉ rõ: “Nước nhà giành lại nhờ gan sắt Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng Tổ chức,tuyên truyền càng rộng rãi Tức là cách mạng chóng thành công”
Như vậy, 4 chữ Đồng đã thể hiện rõ tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách xây dựng
và phát triển lực lượng cách mạng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hiệnđoàn kết quốc tế Đại đoàn kết chính là tư tưởng xuyên suốt, là nội dung mà Người quantâm sâu sắc nhất
Trang 11Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là một công việc hếtsức hệ trọng, to lớn và vô cùng khó khăn Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải có lựclượng đủ mạnh, muốn có lực lượng mạnh phải quy tụ cả dân tộc thành một khối thốngnhất, phải đoàn kết toàn dân Hơn nữa Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng ViệtNam là một bộ phận của cách mạng thế giới Người cho rằng, cách mạng Việt Nam chỉ
có thể thành công khi thực hiện đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới.Chính vì vậy, đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công củaCách mạng và đại đoàn kết toàn dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế
2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc
2.2.1 Vai trò của đại đoàn kết dân tộc
Vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết dân tộc được khẳng định quahai luận điểm chính:
a Đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng Việt Nam.Trong nội dung này Hồ Chí Minh đưa ra 3 quan điểm nêu nên tầm quan trọng củađoàn kết:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn làm cách mạng thì phải có lực lượng
và muốn có lực lượng thì cần phải đoàn kết” Chính vì lẽ đó trong quá trình lãnh đạo cáchmạng Việt Nam Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh: “Đoàn kết là sức mạnh củachúng ta, đoàn kết là then chốt để đi đến thành công”
Thứ hai, Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến
lược không phải sách lược hay thủ đoạn chính trị” Điều đó có nghĩa là đại đoàn kết dântộc là một chủ trương, đường lối mang tính nhất quán, xuyên suốt trong toàn bộ tiến trìnhCMVN từ CM dân tộc dân chủ nhân dân đến CMXHCN
Thứ ba, Hồ Chí Minh khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng rất to lớn, khó khăn,
phức tạp, đòi hỏi cần phải có sự đoàn kết thì cách mạng mới thành công”
Trang 12b Hồ Chí Minh khẳng định đoàn kết là mục tiêu là nhiệm vụ hàng đầu của Cách Mạng Việt Nam.
Điều đó được thể hiện qua 2 điểm sau:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh khẳng định sự nghiệp cách mạng có nhiều mục tiêu có
nhiều nhiệm vụ nhưng có thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ này thì mới có sức mạnh
để thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ khác của cách mạng Chính vì lẽ đó
người khẳng định: “Trước cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc Một là đoàn kết Hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập Chỉ đơn giản thế thôi Bây giờ mục đích của tuyên truyền, huấn luyện là: “Một là đoàn kết, Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội Ba
là đấu tranh thống nhất nước nhà.”
Thứ hai, quan điểm này được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng
ta trong mọi giai đoạn của CMVN Cụ thể:
● Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 2 – 1930) Hồ Chí Minh cóchỉ ra: Liên minh công - nông phải đoàn kết; Bạn đồng minh của công - nông là tiểu tưsản, tư sản dân tộc, những người Việt Nam yêu nước, các nhân sĩ, thân sĩ
● Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng lao động VN (03/03/1951) Hồ Chí Minhtuyên bố mục tiêu hoạt động của Đảng và Nhà nước gồm 8 chữ: “Đoàn kết toàn dân,phụng sự tổ quốc.”
● Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội: Lực lượng xây dựng CNXH là toàndân dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân có sức mạnh vô địch mà không súng ống nào,không quân lính nào có thể địch lại nổi
Như vậy, nhiệm vụ xuyên suốt của Đảng chính là lãnh đạo đoàn kết toàn dân Đạiđoàn kết là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là đòi hỏi khách quan của quầnchúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng Do vậy Đảng phải có sứ mệnh thứctỉnh, tập hợp, tổ chức vận động quần chúng chuyển những nhu cầu đòi hỏi khách quan đóthành hiện thực trong cuộc đấu tranh giải phóng cách mạng
Trang 132.2.2 Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân
a Lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc là toàn thể nhân dân Việt Nam
Là tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tuổi tác hay giới tính
Hồ Chí Minh từng kêu gọi: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà Bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc…”
b Nội hàm khái niệm đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, bao gồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ
Đoàn kết trong Đảng: Đoàn kết là một truyền thống quý báu của Đảng và Đảng
cần phải giữ gìn đoàn kết, nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình
Đoàn kết giai cấp, tôn giáo: Dân tộc mất độc lập thì tôn giáo cũng mất tự do ➔Tôngiáo cần phải đoàn kết
Đoàn kết dân tộc: Dân tộc lớn, dân tộc nhỏ: Cần phải đoàn kết; cần xóa bỏ mọi
thành kiến, tránh tư tưởng kiêu ngạo hay tự ti
Tóm lại, đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết toàn dân: đoàn kết những người Việt Namyêu nước có cùng một mục tiêu chung, “ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổquốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”
c Đại đoàn kết dân tộc phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân, giải quyết hài hòa mối quan hệ dân tộc, giai cấp
Đại đoàn kết toàn dân để đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và mang lại lợi ích cho giai cấp, đặc biệt ở đây là giai cấp công nhân - giai cấp trung tâm của cuộc cách mạng
d Nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công - nông – trí
Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân
là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đạiđoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, cònphải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác
Trang 142.2.3 Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quy tụ, đoàn kết được mọi giai cấp, tầng lớp cần phải bảo đảm các điều kiện:
a Phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc
Những truyền thống này được hình thành cùng quá trình dựng nước và giữ nước củadân tộc nó đã thấm sâu vào tâm hồn, khối óc của con người Việt Nam Do đó cần phảikhơi dậy tinh thần yêu nước; tinh thần yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; tinh thầnđoàn kết, lá lành đùm lá rách Tạo cơ sở nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân
Thật vậy, soi vào lịch sử truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc ta được thể hiệnqua giai đoạn đấu tranh lịch sử từ 179 TCN-Năm 1979 với hơn 1200 năm đất nước bị đô
hộ, trải qua tổng cộng 14 cuộc chiến với 11 cuộc chiến giành được thắng lợi, để giữ đượctinh thần đấu tranh oanh liệt đó điểm mấu chốt xuất phát từ chính chủ nghĩa yêu nước củanhân dân ta Trong thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, mặc dù bị mất độc lập tự do, nhân dân tavẫn giữ vững bản sắc văn hóa, để giữ gìn tiếng nói, phong tục tập quán của mình, đồngthời tranh thủ tiếp thụ những yếu tố tiến bộ, hợp lý của văn hóa Hán nhằm hoàn thiện vànâng cao nền văn hóa, văn minh của người Việt, củng cố tinh thần tự lực tự cường, tăngthêm ý chí đấu tranh giành độc lập tự chủ
b Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người
Hồ Chí Minh đã nói về lòng khoan dung, độ lượng của con người: “Năm ngón tay cũng
có ngón ngắn ngón dài nhưng ngắn hay dài đều hợp lại nơi bàn tay Trong mấy triệu ngườiViệt Nam cũng có người thế này người thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõicủa tổ tiên ta, chúng ta cần phải có tấm lòng khoan hồng, đại lượng ở trong lòng.”
Mục đích chỉ rõ trong mỗi cá nhân cộng đồng đều có những ưu điểm, khuyết điểm, đều
có những mặt tốt, mặt xấu, chúng ta phải trân trọng khoan dung độ lượng, phải biết chia sẻcảm thông với nỗi thống khổ của con người, đặc biệt chúng ta phải biết tha thứ nếu họ từnglầm đường lạc lối nhưng đã biết nhận thức sửa chữa trở về với dân tộc thì chúng ta cần dangrộng vòng tay của mình đón họ trở về, tránh thành kiến, chống định kiến
Trang 15c Phải có niềm tin vào nhân dân, coi nhân dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng
Hồ Chí Minh từng nói: “Có nhân dân là có tất cả” Tư tưởng nước lấy dân làm gốcxuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh Đó cũng là cơ sở khẳng định đại đoànkết toàn dân tộc cần phải dựa trên nền tảng là nhân dân Muốn đại đoàn kết toàn dân đượcchặt chẽ, mở rộng thì phải quán triệt quan điểm có niềm tin vào nhân dân và coi nhân dân
là chỗ dựa vững chắc
Do đó, cần phải phát triển nguồn nhân lực con người, đào tạo đội ngũ cán bộ tốt, đủnăng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khơi dậy,phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, coi dân chủ là mục tiêu, là động lực để xây dựng đấtnước, chú trọng nâng cao ý thức làm chủ cho nhân dân Vận dụng và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh, chúng ta coi đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân vớinông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo là động lực chủ yếu để phát triển đất nước
2.2.4 Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt trận dân tộc thống nhất
a Mặt trận dân tộc thống nhất
Là hiện thân của khối đại đoàn kết dân tộc, có tổ chức, có sức mạnh Tập hợp rộng rãicác giai cấp, tầng lớp, người Việt Nam sống ở trong nước và nước ngoài,…trên cơ sở lấyphục vụ lợi ích dân tộc và nhân dân làm mục tiêu chung
Hồ Chí Minh cũng lưu ý mỗi thời kỳ cách mạng thì có những hình thức tổ chức Mặttrận khác nhau để phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ đặt ra của từng giai đoạn, từng thời kỳlịch sử cụ thể:
– Năm 1930 thành lập Hội phản đế đồng minh đấu tranh chống phản đế;
– Năm 1936 thành lập Mặt trận dân chủ đấu tranh đòi dân sinh dân chủ;
– Năm 1941 thành lập Mặt trận Việt Minh đấu tranh giành độc lập dân tộc;
– Năm 1951 thành lập Mặt trận Việt Minh với Hội liên hiệp Quốc dân Việt Nam;– Năm 1960 thành lập Mặt trận giải phóng miền Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước;
Trang 16– Năm 1955 và 1977 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
b Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất
– Phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân – trí thức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là nguyên tắc cốt lõi nhất do:
• Liên minh công - nông là đông hơn hết, có ý chí cách mạng kiên quyết hơn hết, triệt để hơn hết
• Trong cách mạng giải phóng dân tộc, trí thức có 1 vai trò rất quan trọng Trong giai đoạn cách mạng XHCN, tri thức lại càng quan trọng hơn bao giờ hết
• Tuy nhiên liên minh này cần phải có lực lượng dẫn dắt, soi đường, dẫn lối là
ĐCSVN
• Vai trò của ĐCSVN đối với mặt trận:
• Đảng vừa là thành viên của mặt trận nhưng lại là tổ chức lãnh đạo mặt trận
• Đảng tỏ rõ mình là lực lượng hăng hái, anh dũng, kiên trung nhất ➔Sẽ giữ được vị trí và vai trò lãnh đạo của mình đối với mặt trận
– Phải hoạt động trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của dân tộc, quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân
• Lợi ích tối cao: Độc lập dân tộc
• Quyền lợi cơ bản: Hạnh phúc cho nhân dân
Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, là ngọn cờ đoàn kết và là mẫu số chung để quy tụ các tầng lớp, giai cấp, đảng phái dân tộc và tôn giáo vào trong Mặt trận
– Hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, đảm bảo đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững
– Đứng trước những vấn đề lãnh đạo của mặt trận thì mặt trận cần phải được đưa ra bàn bạc, thảo luận 1 cách công khai, minh bạch để cùng nhau đi đến thống nhất và đoàn kết
– Là khối đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
Trang 172.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
2.3.1 Sự cần thiết của đoàn kết quốc tế
a Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo
ra sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam
Sức mạnh dân tộc là tổng hợp của vật chất và tinh thần, song trước hết là sức mạnhcủa chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường dân tộc; sức mạnh của tinh thần đoànkết; của ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do…
Sức mạnh thời đại là sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới, là sức mạnhcủa chủ nghĩa Marx – Lenin được xác lập bởi thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga(1917), sức mạnh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ…
Hồ Chí Minh thấy được khả năng đoàn kết giữa cách mạng Việt Nam với cáchmạng thế giới tạo ra sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc.Tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc
tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại để tạothành sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam Đây là một trong những nội dungchủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và cũng là một trong những bàihọc quan trọng nhất, mang tính thời sự sâu sắc nhất của cách mạng Việt Nam
b Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợicác mục tiêu cách mạng của thời đại
– Đoàn kết quốc tế không chỉ vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà còn vì các mục tiêu cách mạng của nhân loại tiến bộ, đó là đấu tranh chống:
• Xâm lược của chủ nghĩa đế quốc
• Các thế lực phản động quốc tế
Vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
– Để tăng cường đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung chúng ta phải:
Trang 18• Kiên trì chống lại mọi khuynh hướng sai lầm của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dântộc vị kỷ, Sô vanh nước lớn…
• Giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân ở các nước
Đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung rộng lớp,sâu sắc, cao đẹp, trong đó trước hết là đoàn kết trong phong trào cộng sản, công nhânquốc tế và đoàn kết trong đại gia đình các nước xã hội chủ nghĩa anh em Như vậy, trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế, kết hợp chặt chẽ với chủ nghĩa yêunước với chủ nghĩa quốc tế vô sản là nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiệnthắng lợi các mục tiêu cách mạng của dân tộc và thời đại
2.3.2 Lực lượng đoàn kết và hình thức tổ
chức a Lực lượng đoàn kết quốc tế
Theo Hồ Chí Minh, có 3 lực lượng cần đoàn kết đó là:
– Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Hồ Chí Minh quan điểm:
“Rằng đây bốn biển một nhà,Bốn phương vô sản đều là anh em.”
Như vậy, Hồ Chí Minh nói lên tình cảm chân thành và nguyện vọng thiết tha củanhân dân Việt Nam được sống trong hòa bình, độc lập, có quan hệ hữu nghị, với tất cảcác dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới không phân biệt chủng tộc màu da
Người cho rằng, sự đoàn kết với giai cấp công nhân quốc tế là một đảm bảo vữngchắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản Phong trào cộng sản và công nhân thế giới làlực lượng nòng cốt của Đoàn kết quốc tế, ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đấu tranh của cácnước thuộc địa Vì vậy chúng ta phải đoàn kết, nhất trí, sự đồng tình và ủng hộ của laođộng thế giới cùng nhau thực hiện lí tưởng vì độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội