1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) đề tài phân tích luận điểm của hồ chí minh “bao nhiêu lợi ích đều vì dân bao nhiêu quyền hạn đều của dân… chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra

40 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra.”
Tác giả Nhóm 4 - Lớp học phần LLTT1101(221)_03
Người hướng dẫn Nguyễn Thùy Linh
Trường học Trường đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 362,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. CƠ SỞ LUẬN ĐIỂM (5)
    • 1. Cơ sở thực tiễn (5)
    • 2. Cơ sở lý luận (6)
    • 3. Sự lựa chọn hình thức nhà nước của Hồ Chí Minh (8)
  • II. NỘI DUNG CỦA LUẬN ĐIỂM (8)
    • 1. Các khái niệm (0)
      • 1.1. Khái niệm nhà nước (8)
      • 1.2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh (9)
      • 1.3. Khái niệm dân chủ (9)
      • 1.4. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ (9)
    • 2. Nội dung luận điểm (10)
      • 2.1. Nhà nước vì dân: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân” (10)
      • 2.2. Nhà nước của dân: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” (12)
      • 2.3. Nhà nước do dân: “Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra” (15)
  • III. Ý NGHĨA CỦA LUẬN ĐIỂM (18)
    • 1. Soi sáng quá trình nhận thức và giải quyết những vấn đề Cách mạng Việt Nam (18)
    • 2. Giúp chúng ta xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh (18)
    • 3. Là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, để Đảng trở thành người lãnh đạo đáng tin cậy của nhân dân, để xây dựng nhà nước thực sự của dân, (19)
  • IV. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM HIỆN NAY (19)
    • 1. Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các kỳ đại hội (19)
    • 2. Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua 35 năm đổi mới (22)
      • 2.1. Thực tiễn Việt Nam về mặt chính trị qua 35 năm đổi mới (22)
        • 2.1.1. Những thành tựu nổi bật (22)
        • 2.1.2. Những hạn chế còn tồn đọng (23)
        • 2.1.3. Một số giải pháp cụ thể (24)
      • 2.2. Thực tiễn Việt Nam về mặt kinh tế qua 35 năm đổi mới (26)
        • 2.2.1. Những thành tựu nổi bật (26)
        • 2.2.2. Những hạn chế còn tồn đọng (27)
        • 2.2.3. Một số giải pháp cụ thể (28)
      • 2.3. Thực tiễn Việt Nam về mặt văn hóa – xã hội qua 35 năm đổi mới (30)
        • 2.3.1. Những thành tựu nổi bật (30)
        • 2.3.2. Những hạn chế còn tồn đọng (31)
        • 2.3.3. Một số giải pháp cụ thể (32)
    • 3. Một số vấn đề thực tiễn khác (33)
      • 3.1. Về quyền bầu cử của nhân dân (33)
      • 3.2. Luật an ninh mạng 2019 (34)
      • 3.3. Các chỉ thị phòng chống dịch Covid-19 (36)

Nội dung

Thế giới quan và phương pháp luận Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổngkết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước: “trong cuộcđấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Má

CƠ SỞ LUẬN ĐIỂM

Cơ sở thực tiễn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng dân là gốc của nước, là những người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước Nước không thể tồn tại nếu thiếu dân; nước do dân làm chủ, do dân xây dựng nên và bảo vệ bằng xương máu Vì vậy, dân chính là chủ của đất nước.

Quay lại dòng lịch sử từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX, sau khi thực dân Pháp đô hộ và dưới ngọn cờ Cần Vương nhằm cứu nước, các phong trào yêu nước trên toàn quốc liên tục được mở ra: miền Nam có Trương Định và Nguyễn Trung Trực; miền Trung có Phan Đình Phùng, Đặng Như Mai; miền Bắc có Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám Dù dũng cảm kiên cường, các phong trào này đều thất bại Đầu thế kỉ XX, trước ảnh hưởng của các vận động cải cách của cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc và tấm gương Duy Tân Nhật Bản, Việt Nam xuất hiện các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo: phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng (1906-1909), Phong Trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động (1906-1908), và Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và một số nhân sĩ (3/1907 – 11/1907) Tuy nhiên, kết cục của các phong trào này vẫn là thất bại.

Những thất bại của con đường cứu nước do hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đem lại đã dẫn tới khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước ở Việt Nam Trong bài phát biểu Kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác Hồ đã mô tả thời kỳ ấy với câu nói: "tình hình đen tối như không có đường ra", nhấn mạnh sự bế tắc của các khuôn mẫu cổ trung và thách thức của thời đại mới Từ đó, bài học lịch sử nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới tư duy cách mạng và sự đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để mở đường cứu nước Chỉ có sự tập hợp lực lượng và cải đổi đường lối mới mới có thể hướng đất nước tới độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

Nguyên nhân thất bại gồm hai yếu tố chính: thứ nhất là thiếu cương lĩnh đúng đắn để giải quyết mâu thuẫn cơ bản, thiếu phương pháp đấu tranh thích hợp và tổ chức chặt chẽ; thứ hai là thiếu lực lượng, vì các cuộc khởi nghĩa thường mang tính bộ phận, chưa tập hợp được lực lượng của toàn dân, đặc biệt là hai lực lượng cơ bản là nông dân và công nhân Trải qua các cuộc chiến tranh khốc liệt cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhân dân ta cho thấy một lòng nồng nàn yêu nước và ý chí đoàn kết đứng lên chống giặc ngoại xâm Nhân dân là lực lượng xây dựng đất nước, là lực lượng hợp thành, nuôi dưỡng và bảo vệ các tổ chức chính trị, vì vậy nhân dân có quyền làm chủ đất nước, làm chủ chế độ và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Cơ sở lý luận

Một là, về giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam:

Truyền thống văn hiến của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Bằng chứng sống động của truyền thống ấy là ý chí kiên cường và khát vọng độc lập, cùng niềm tự hào và tự tôn dân tộc được nuôi dưỡng qua từng thế hệ Chính những giá trị này tạo nền tảng cho sự tự tin của Việt Nam trước mọi thách thức, đồng thời định hình bản sắc văn hóa và mở rộng ảnh hưởng của văn hóa Việt ra với bạn bè năm châu.

Tư tưởng xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ được phản ánh qua các bộ sử lớn của dân tộc như Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí, qua những bộ luật nổi bật như Bộ luật Hồng Đức (đời Lê), và qua những tác phẩm xuất sắc như Nam quốc sơn hà Nam đế cư (Lý Thường Kiệt) và Bình Ngô đại cáo, thể hiện tinh thần pháp quyền và niềm tự hào dân tộc do Nguyễn Trãi viết Những yếu tố tích cực của chế độ phong kiến như nước lấy dân làm gốc và sự tiếp thu Nho giáo đã làm hành trang đầu tiên cho Hồ Chí Minh trên con đường cứu nước và tìm kiếm một mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành độc lập, đó là nhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Hai là, về tinh hoa văn hóa nhân loại:

Song song với nhận thức lý luận, Hồ Chí Minh đã đi sâu vào thực tiễn, tiến hành nghiên cứu và khảo sát thực tế ở Việt Nam để hình thành một quan niệm về nhà nước Quá trình này kết hợp phân tích lý thuyết với kiểm nghiệm thực tiễn, từ đó Người xác lập nguyên tắc xây dựng một nhà nước lấy nhân dân làm chủ, tôn trọng quyền tự do và công bằng, đồng thời bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và mục tiêu giải phóng dân tộc Quan niệm về nhà nước của Hồ Chí Minh nhấn mạnh mối liên hệ giữa dân chủ, pháp quyền và hiệu lực quản lý, phản ánh mong muốn một Nhà nước phục vụ nhân dân và phát triển đất nước dựa trên thực tiễn và nhu cầu của cộng đồng.

Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” đòi các quyền tự do tối thiểu cho dân tộc mình Đây là văn kiện pháp lý đầu tiên đặt vấn đề kết hợp khăng khít quyền tự quyết của các dân tộc với các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, kết hợp chặt chẽ quyền dân tộc và quyền con người.

Trên hành trình cứu nước, Người đã nghiên cứu, khảo sát các loại hình nhà nước tiêu biểu lúc bấy giờ:

Một là, nhà nước thực dân phong kiến

Hồ Chí Minh đã nghiên cứu mô hình này trên tất cả các mặt văn hoá, kinh tế, chính trị, tư tưởng và đi đến kết luận: Nhà nước thực dân phong kiến là một nhà nước phản văn hoá, phản tiến bộ, cần phải đập tan và tiêu diệt, thay vào đó một nhà nước khác tiến bộ hơn.

Hai là, nhà nước dân chủ tư sản

Trong hành trình khảo sát và tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc, tìm hiểu và nghiên cứu các cuộc cách mạng tiêu biểu trên thế giới cũng như bản chất và hình thức của các nhà nước ở Pháp và Mỹ Hình thức nhà nước mà Người chọn để áp dụng vào điều kiện Việt Nam được định hình bởi tiêu chí đầu tiên là phải đại diện cho đa số và mưu cầu cho lợi ích của số đông Từ nhận thức chung ấy, Hồ Chí Minh nói: một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, phản ánh ý chí của nhân dân và bảo đảm quyền lợi của đa số là chìa khóa để độc lập, tự do và hạnh phúc cho đất nước.

“Ta làm cách mạng ta sẽ không xây dựng mô hình nhà nước như của Mỹ, của Pháp, mà ta sẽ xây dựng mô hình nhà nước khác”.

Ba là, nhà nước Xô viết

Sau khi đến Liên Xô, Người tìm thấy một mô hình nhà nước kiểu mới: phát ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng Những nguyên lý này gợi ý cho Người về một kiểu nhà nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai, một ý tưởng Người trình bày trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930 Từ đó, Người nhấn mạnh con đường phát triển đất nước dựa trên phân công lao động và đoàn kết xã hội, nhằm hướng tới mục tiêu độc lập, tiến bộ và xã hội công bằng.

Ba là, về chủ nghĩa Mác – Lênin:

Xuất phát từ nhu cầu giải phóng dân tộc và tinh thần yêu nước, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận và vận dụng chủ nghĩa Mác–Lênin như hệ tư tưởng cách mạng tiên tiến của thời đại Dưới ảnh hưởng của phương pháp biện chứng và qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Người đã nhận diện vị trí lịch sử của các chế độ nhà nước đang vận hành, đồng thời phân tích và so sánh chúng để đặt vào dòng chảy tiến bộ của lịch sử Quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác–Lênin ở Hồ Chí Minh thực chất là một chặng đường chiến thắng đầy thử thách, với sự lựa chọn kiên định nhằm tránh những sai lầm dẫn tới ngõ cụt.

Gần một thập kỷ thực tiễn đi tìm đường cứu nước cho thấy mọi bài học lớn đều bắt nguồn từ sự kết hợp giữa thực tiễn và lý luận, nhất là sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin Những phân tích của Lênin về dân tộc và thuộc địa làm sáng tỏ vai trò của sự đoàn kết và sự thức tỉnh của các tầng lớp bị áp bức, từ đó hình thành một chiến lược đấu tranh dựa trên thực tiễn Việt Nam Sự giao thoa giữa thực tế và lý luận giúp nhận diện đúng đắn các mối quan hệ xã hội, xây dựng lực lượng cách mạng và phương thức cứu nước hiệu quả và bền vững.

Vào năm 1920, Nguyễn Ái Quốc cảm động, phấn khởi và tin tưởng khi nhận ra con đường giải phóng dân tộc Chính Luận cương của V.I Lênin đã nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng, phù hợp với những tình cảm, suy nghĩ và hoài bão được ấp ủ từ lâu nay đã trở thành hiện thực Ban đầu, động lực của người là lòng yêu nước chứ chưa phải là chủ nghĩa xã hội; sau này Lênin và Quốc tế thứ ba đã dẫn đường cho Hồ Chí Minh tin tưởng vào con đường cách mạng.

Thế giới quan và phương pháp luận Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước: “trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới”; “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”; “Chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được thắng lợi to lớn”.

Sự lựa chọn hình thức nhà nước của Hồ Chí Minh

Ngay từ khi còn trẻ, chứng kiến đất nước bị đô hộ và dân chúng lầm than, Nguyễn Tất Thành đã nhận thức sâu sắc về tính chất phản nhân của chế độ thực dân phong kiến và ấp ủ một con đường cách mạng làm ánh sáng cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho nhân dân Việt Nam Ngày 5-6-1911, chàng trai này đã quyết định lên đường trên tàu Amiral Latouche Tréville từ bến Nhà Rồng (thành phố Sài Gòn) để đến với vùng đất phương Tây được coi là thiên đường tự do dân chủ, với hy vọng tìm ra con đường cứu nước thoát khỏi cảnh nô lệ.

Trong những năm tháng ở Mỹ và Pháp, Người nhận thấy dù hai nước đã xây dựng hệ thống giá trị theo chuẩn mực dân chủ và nhân đạo, thực chất Nhà nước dân chủ tư sản ở hai nước này vẫn là công cụ thống trị của tầng lớp quyền lực vì lợi ích của thiểu số; Người kiên quyết không chọn con đường cách mạng tư sản, cho rằng đó là những cuộc cách mạng “không đến nơi”, không triệt để vì nó không hề đề cập tới vấn đề giải phóng mọi tầng lớp nhân dân lao động khỏi sự áp bức, bóc lột và bất công.

Qua những khảo nghiệm thực tiễn và tư duy chính trị nhạy bén từ những năm 1920, Hồ Chí Minh quyết định đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười và xây dựng một nhà nước theo học thuyết Mác-Lênin Câu hỏi về con đường xóa bỏ nhà nước thực dân phong kiến và thay thế bằng một thiết chế mới đã được Người làm sáng tỏ với lời giải xác đáng Để lựa chọn kiểu nhà nước phù hợp với xu thế vận động của lịch sử, Hồ Chí Minh dựa trên hai cơ sở chủ yếu: tính chất nhân dân của nhà nước và khả năng bảo đảm cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, đồng thời thỏa mãn các nhu cầu trần thế của nhân dân và của con người Việc lựa chọn kiểu nhà nước gắn bó chặt chẽ với mục tiêu giải phóng con người và phát triển xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám mở ra sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, kết quả của 15 năm đấu tranh gian khổ và hy sinh của nhân dân ta, đồng thời là hệ quả tất yếu của sự phát triển nhận thức và sáng tạo trong thử nghiệm các hình thức chính quyền từ thấp đến cao của Đảng Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nhà nước dân chủ thực sự, nơi mọi cán bộ, đảng viên được xem như công bộc của dân.

NỘI DUNG CỦA LUẬN ĐIỂM

Nội dung luận điểm

2.1 Nhà nước vì dân: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân”.

Lợi ích là khái niệm mang hai chiều: theo từ điển Tiếng Việt, lợi ích là những điều có lợi, có ích cho một đối tượng nhất định trong mối quan hệ với đối tượng ấy; theo Triết học Mác - Lênin, lợi ích là các điều kiện vật chất và tinh thần có tính khách quan đối với sự tồn tại và phát triển bình thường của các cá nhân, các cộng đồng, các giai cấp và của xã hội nói chung.

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, dân là gốc của nước và là nguồn lực quyết định mọi sự tồn tại của quốc gia; nước chỉ thực sự tồn tại và phát triển khi có nhân dân tham gia xây dựng, chăm lo và bảo vệ bằng xương máu của mình Dân là chủ của nước vì nước do dân làm nên, do dân bảo vệ và làm chủ vận mệnh đất nước Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất, khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa dân và Đảng trong quá trình cách mạng và xây dựng đất nước.

Không có sự đồng thuận của nhân dân, sự tồn tại của Đảng cũng mất ý nghĩa; tương tự, Chính phủ và các tổ chức quần chúng chỉ có giá trị khi nhận được sự tham gia của nhân dân Nhân dân là lực lượng then chốt trong xây dựng đất nước, là nguồn lực hợp thành, nuôi dưỡng và bảo vệ các tổ chức chính trị, vì vậy nhân dân có quyền làm chủ đất nước và mọi lợi ích quốc gia đều phục vụ nhân dân.

Nhà nước Việt Nam ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhiều thế hệ người Việt và của toàn dân tộc Từ giữa thế kỷ XIX, khi đất nước bị ngoại xâm, các tầng lớp nhân dân Việt Nam đã không quản hy sinh, xương máu chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trở thành lực lượng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng với chiến lược đại đoàn kết đúng đắn, sức mạnh của toàn dân đã được tập hợp và phát huy cao độ, chiến thắng ngoại xâm, giành lại độc lập, tự do, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước đầu tiên ở Đông Nam châu Á Nhà nước Việt Nam mới không phải của riêng giai cấp, tầng lớp nào, mà thuộc về nhân dân, do đó mọi lợi ích đều vì dân.

Về khái niệm Nhà nước vì dân

Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, kiệm liêm chính Hồ Chí Minh là một vị Chủ tịch vì dân và Người yêu cầu các cơ quan nhà nước, các cán bộ nhà nước đều phải vì nhân dân phục vụ Người nói: các công việc của Chính phủ phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người, vì vậy Chính phủ của nhân dân luôn đặt lợi ích của người dân lên trên hết thảy Việc gì có lợi cho dân thì làm, việc gì có hại cho dân thì phải tránh.

Vậy, thế nào là biểu hiện của một Nhà nước vì dân?

Theo Hồ Chí Minh, thước đo của một Nhà nước vì dân là nhận được lòng dân; cán bộ phải làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu, đồng thời phải yêu dân và đặt quyền lợi của dân lên trên hết, có tinh thần chí công vô tư Trong Nhà nước vì dân, cán bộ vừa là đày tớ vừa là người lãnh đạo nhân dân, đòi hỏi hai phẩm chất tưởng chừng mâu thuẫn nhưng thực chất bổ sung cho nhau: trung thành, tận tụy, kiệm liêm, chí công vô tư ở vai trò phục vụ; và trí tuệ, minh mẫn, sáng suốt ở vai trò lãnh đạo, gần gũi dân, trọng dụng hiền tài Như vậy, người đại diện cho nhân dân phải vừa hiền vừa minh, để có thể làm những việc trực tiếp mang lợi cho dân, và cả những quyết định ban đầu trông như gây hại nhưng thực chất vì lợi ích toàn cục và lâu dài của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh mọi chủ trương, chính sách và quy định của nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều phải xuất phát từ lợi ích của dân, và mọi cán bộ nhà nước phải vì dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Một nhà nước vì dân phải đảm bảo cho dân có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc; Người đã nêu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi” Nhà nước vì dân không chỉ biết làm lợi cho dân mà còn phải kính dân, và ta phải yêu dân, kính dân để dân yêu ta, kính ta; đồng thời làm cho nhân dân hiểu rõ rằng họ có quyền lợi làm chủ, đi kèm với nghĩa vụ công dân và việc giữ đúng đạo đức công dân.

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ phải chú ý tới mọi kiến nghị và đề đạt của nhân dân, coi đó là thước đo công việc và sẵn sàng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến đời sống dân dù khó khăn đến đâu Cần tiếp nhận đơn thư, xử lý vụ việc cho dân khi họ mang đến, chăm lo cứu tế nạn nhân một cách chu đáo, và chú trọng trừ nạn mù chữ cho dân để nâng cao hiệu quả cuộc sống Nói ngắn gọn, mọi biện pháp có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân phải được đặc biệt quan tâm.

Nhà nước Việt Nam kiểu mới đặt lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; mọi hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của dân và không chấp nhận bất kỳ lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân Chính quyền là của dân, do dân làm chủ và như vậy phải trở thành công bộc của dân, hoạt động để phục vụ nhân dân Vì vậy, tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.

Đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của nhân dân là tiêu chí số một để đánh giá hiệu quả năng lực hoạt động của nhà nước Để hoàn thành mục tiêu này, Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng một thể chế pháp quyền nhân nghĩa nhằm hợp pháp hóa quyền lợi của nhân dân, đồng thời xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh để bảo đảm thực thi và bảo vệ quyền lợi đó một cách triệt để.

Không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng; không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường, nên Chính phủ và nhân dân phải đoàn kết thành một khối để duy trì sức mạnh và định hướng phát triển Chức năng đối nội cơ bản của Nhà nước là hướng dẫn nhân dân tổ chức tốt đời sống, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, và từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu hàng ngày Chúng ta đã giành được tự do và độc lập, nhưng nếu dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì; dân chỉ nhận ra giá trị của tự do và của độc lập khi được ăn no, mặc đủ.

Chúng ta phải thực hiện ngay:

Làm cho dân có ăn.

Làm cho dân có mặc.

Làm cho dân có chỗ ở.

Làm cho dân có học hành.

Chúng ta đi đến mục đích là bốn điều quan trọng: để dân nước ta xứng đáng với tự do và độc lập, và để mỗi người có thể đóng góp cho sự tự do và độc lập của đất nước; từ đó xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và bền vững, nơi giá trị của tự do được gìn giữ và phát huy.

2.2 Nhà nước của dân: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”.

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị về quyền con người từ Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp năm 1789 Người nêu cao quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền được hưởng độc lập của dân tộc Việt Nam như những chuẩn mực căn bản cho sự tự do và hạnh phúc của mỗi người Qua đó, tư tưởng nhân quyền được vận dụng để khẳng định quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam và ưu tiên quyền con người trong mục tiêu xây dựng đất nước độc lập, dân chủ và văn minh.

1789 lên một tầm cao mới khi nhấn mạnh rằng tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng và được ban cho các quyền bất khả xâm phạm: quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Những nguyên tắc này, được nêu lên trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, thiết lập nền tảng cho một xã hội tôn trọng phẩm giá con người và quyền tự quyết Đây là bước ngoặt lịch sử, khẳng định quyền con người ở mọi quốc gia và thời đại, đồng thời thúc đẩy các cuộc cải cách pháp lý và xã hội dựa trên bình đẳng và quyền tự do.

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng nước ta đã từng bị cai trị bởi chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân, nên không có Hiến pháp và nhân dân không được hưởng quyền tự do, dân chủ; Người cho rằng ta phải có một Hiến pháp dân chủ và cùng Đảng, Nhà nước quyết tâm tổ chức Tổng tuyển cử, lập Quốc hội khóa I để thực hiện mục tiêu ấy Điều thứ nhất của Hiến pháp năm 1946 đã long trọng ghi nhận: tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.

Về khái niệm nhà nước của dân

Ý NGHĨA CỦA LUẬN ĐIỂM

Soi sáng quá trình nhận thức và giải quyết những vấn đề Cách mạng Việt Nam

Trước khi có Đảng, nhân dân ta sống trong vòng nô lệ của chế độ thực dân phong kiến Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và cùng với đó thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn cho sự phát triển của đất nước Nhờ tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng, cách mạng Việt Nam đã tìm ra con đường đúng đắn, vượt qua mọi thử thách và giành được một chuỗi thắng lợi Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp nhận thức và hành động đúng đắn trong việc đề ra các mục tiêu chiến lược, chiến thuật của cách mạng; huy động tối đa nguồn lực của nhân dân; và có đường lối đối nội, đối ngoại sáng tạo.

Giúp chúng ta xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh

Những chỉ đạo về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nền tảng để Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo của cuộc cách mạng nước ta, hướng tới xây dựng một nhà nước và hệ thống chính quyền thực sự của dân, do dân, vì dân Đồng thời, việc củng cố các đoàn thể và phát huy vai trò của cán bộ là công bộc của dân vẫn giữ nguyên giá trị, đảm bảo mọi công việc đều xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân và phục vụ nhân dân Những nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục là kim chỉ nam cho sự lãnh đạo của Đảng cũng như chất lượng, hiệu lực của hệ thống chính quyền và niềm tin của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và của dân tộc, với giá trị được khai thác hiệu quả phụ thuộc vào ý thức, trình độ và năng lực vận dụng của mỗi người Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là công việc rất quan trọng và cần thiết, đặc biệt ở thời điểm hiện nay Nếu mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc những tư tưởng và quan điểm của Người, tự giác rèn luyện, tu dưỡng theo những lời dạy của Người, Đảng ta sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, khắc phục được nguy cơ của một đảng cầm quyền và tiếp tục nhận được sự tin yêu, ủng hộ của nhân dân.

Là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, để Đảng trở thành người lãnh đạo đáng tin cậy của nhân dân, để xây dựng nhà nước thực sự của dân,

sự của dân, do dân, vì dân.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Đảng khẳng định từ năm 1991: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân” Điều này được nhấn mạnh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch ngày càng mạnh và đẩy mạnh các chiến dịch từ bên ngoài, câu kết với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị và sự hình thành của hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước nhằm truyền bá thông tin sai lệch, vu khống và xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, công khai tấn công vào những vấn đề căn bản của cách mạng Việt Nam, của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, việc chủ động phòng ngừa và đối phó với sự xuyên tạc tư tưởng là nhiệm vụ cấp thiết; cần tăng cường giáo dục, tuyên truyền và đấu tranh phê phán để bảo vệ các giá trị cốt lõi, củng cố niềm tin xã hội vào đường lối cách mạng, đồng thời kiên trì bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh trở nên bức thiết.

LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM HIỆN NAY

Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các kỳ đại hội

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm xuyên suốt của Đảng ta, đó là:

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; để đáp ứng yêu cầu mở rộng dân chủ, Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đại hội VI mở đầu công cuộc đổi mới với phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và rút ra bài học kinh nghiệm: “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Đại hội VII nêu yêu cầu tổ chức và vận động các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng pháp luật, đóng góp ý kiến với cơ quan nhà nước các cấp, xây dựng các quy chế, quy ước phù hợp với luật pháp và chủ trương, chính sách của Nhà nước, tham gia phổ biến pháp luật trong nhân dân và tổ chức các phong trào quần chúng thực hiện pháp luật và chính sách của Nhà nước Đại hội VIII xác định nhiệm vụ xây dựng cơ chế để thực hiện phương châm đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử, làm chủ trực tiếp bằng hình thức tự quản, bảo đảm dân chủ trong quá trình ra quyết định và thực hiện các quyết định Đại hội IX nêu rõ: thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức; xây dựng Luật trưng cầu ý dân Đại hội X xác định: mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011), một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”,

“Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Các đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, đồng thời được nhân dân tham gia ý kiến Dân chủ được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, và nhân dân được tham gia ở tất cả các khâu của quá trình ra quyết định liên quan đến lợi ích, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận và tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm dân là gốc, dân là chủ thể, dân là trung tâm; dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng Từ đó hình thành các chủ trương thân dân, tin dân, trọng dân, gần dân, sát dân, hiểu dân, yêu dân, kính dân và vì dân, hướng tới một nền dân chủ thực sự, trong đó mọi chính sách được thiết kế và thực thi dựa trên ý kiến và quyền lợi của nhân dân, đồng thời tăng cường sự tham gia của dân vào quản lý và giám sát đất nước.

Vận động dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa được khẳng định trong đường lối của Đảng vừa được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về thực hiện dân chủ, Đại hội XII đánh giá rằng Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp hiện hành.

Vào năm 2013, hệ thống pháp luật Việt Nam được ban hành và sửa đổi nhằm làm rõ và củng cố quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội Những quyền này được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật, đồng thời quyền công dân được gắn với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội.

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc hiến định về thực hành dân chủ và phát huy dân chủ như một khung pháp lý định hình quyền tham gia của nhân dân vào quá trình ra quyết định, giám sát và kiểm tra hoạt động của hệ thống chính trị Các quy định này được cụ thể hóa qua các cơ chế như bầu cử, công khai thông tin, đối thoại xã hội và quyền khiếu nại tố cáo, nhằm bảo đảm sự tham gia rộng rãi của cộng đồng và tăng tính minh bạch của cơ quan nhà nước Nhờ nguyên tắc này, hệ thống pháp lý hướng tới ổn định chính trị, phát triển kinh tế và nâng cao trách nhiệm giải trình của công quyền.

“1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân;

2 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2),

Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, để mọi người có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Điều 6 khẳng định nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hai hình thức dân chủ là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước Dân chủ trực tiếp cho phép người dân tham gia trực tiếp vào quyết định của đất nước, trong khi dân chủ đại diện được thực thi qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân cùng các cơ quan Nhà nước khác, đại diện cho ý chí của nhân dân và thực thi quyền lực thay mặt.

Quyền dân chủ của nhân dân còn được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp năm

Trong năm 2013, quy định về quyền con người và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân được nhấn mạnh và thể chế hóa thông qua hệ thống văn bản pháp luật phong phú Những nguyên tắc này được hiện thực hóa không chỉ ở mức khái quát mà còn được cụ thể hóa qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật trưng cầu dân ý và các văn bản liên quan đến đất đai, tố tụng hình sự và tố tụng dân sự Đồng thời, quyền và nghĩa vụ của công dân được đảm bảo thông qua cơ cấu và tổ chức nhà nước, với những luật nổi bật như Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức Chính quyền địa phương Bên cạnh đó, công khai thông tin, tự do báo chí và việc phổ biến, giáo dục pháp luật được củng cố bằng các luật như Luật tiếp cận thông tin, Luật báo chí, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, cùng với các quy định về Bộ luật lao động và Luật bảo hiểm y tế để bảo vệ và thực thi quyền lợi của người dân.

Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua 35 năm đổi mới

2.1 Thực tiễn Việt Nam về mặt chính trị qua 35 năm đổi mới

2.1.1 Những thành tựu nổi bật

Việc thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nhằm gắn bó mật thiết giữa Nhà nước và Nhân dân được tiến hành đồng bộ và toàn diện Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân và là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Do đó, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước.

Với tư cách cơ quan thực thi quyền hành pháp, Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất và là cơ quan chấp hành của Quốc hội - đã chú trọng đẩy mạnh tính dân chủ và pháp quyền, hướng tới một nền hành chính nhà nước thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh và có hiệu lực, hiệu quả Trong 35 năm đổi mới, Chính phủ tập trung đổi mới, cải cách thể chế, tổ chức, cán bộ và tài chính công theo hướng dân chủ, khoa học và hiện đại để xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, văn minh Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001–2010 và 2011–2020 được triển khai nhằm hình thành một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại và minh bạch; đồng thời, Chính phủ ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật và từng bước đổi mới phương thức hoạt động, chuyển từ cơ chế quản lý bằng mệnh lệnh sang cơ chế quản trị hiện đại và hiệu quả.

- cho sang quản lý bằng pháp luật, đề cao trách nhiệm phục vụ nhân dân.

Hai là, sự tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị và quản lý nhà nước ngày càng gia tăng

Trên cơ sở triển khai thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ động phối hợp với các tổ chức thành viên để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tham gia xây dựng hệ thống chính trị và pháp luật, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, giám sát và phản biện xã hội nhằm tăng cường đồng thuận xã hội và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã liên tục đổi mới phương thức vận động, thúc đẩy nhân dân tham gia thực hiện Hiến pháp và pháp luật, đồng thời đẩy mạnh giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước Các luật về tổ chức chính trị - xã hội, như Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã cụ thể hóa vai trò của các tổ chức này được quy định trong Hiến pháp đối với quản lý nhà nước, giám sát và phản biện xã hội, góp phần quan trọng vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thông qua Nghị định số 29/1998/NĐ-CP (ngày 11-5-1998) về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và Nghị định số 71/1998/NĐ-CP (ngày 8-9-1998) về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, Chính phủ đã bổ sung cơ sở pháp lý cho phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đi vào cuộc sống Nhờ các thể chế pháp luật và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân ngày càng tích cực, chủ động tham gia vào công việc của Nhà nước, đóng góp trí tuệ, nhân tài và vật lực để xây dựng một Nhà nước vững mạnh Từ đó, sự gắn bó mật thiết giữa Nhà nước và nhân dân được tăng cường, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và củng cố hệ thống dân chủ.

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sự phát triển đồng bộ cả về năng lực và phẩm chất là yếu tố quan trọng, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là gốc của mọi công việc, vì vậy việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức có đủ năng lực và phẩm chất tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước trong thời kỳ đổi mới được Đảng và Nhà nước chăm lo Nghị quyết 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp đó Kết luận của Hội nghị Trung ương 9 khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020, đã định hướng phát triển nguồn nhân lực cho quản lý nhà nước Gần đây, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII nhấn mạnh tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức đã bổ sung, làm rõ trách nhiệm của cán bộ, công chức và viên chức trong thực hành công vụ, tăng cường kỷ luật và xóa bỏ quan niệm “hạ cánh an toàn” khi nghỉ hưu mắc sai lầm, khuyết điểm; cán bộ tham nhũng bị buộc thôi việc; bỏ chế độ biên chế suốt đời với viên chức; đồng thời công khai kết quả đánh giá cán bộ, công chức tại nơi làm việc.

2.1.2 Những hạn chế còn tồn đọng

Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta có thể nhận thấy một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết như:

Nhận thức về vai trò và địa vị của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn chưa đầy đủ và toàn diện Điều này thể hiện ở việc các quyết định và chính sách còn chưa phản ánh đầy đủ ý kiến và sự tham gia của người dân Để phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong quá trình chuyển đổi, cần tăng cường giáo dục nhận thức chính trị–xã hội, tăng cường dân chủ và minh bạch trong quản trị công, và xây dựng các cơ chế tham gia, giám sát hiệu quả Chỉ khi nhận thức về địa vị của nhân dân được khẳng định và thực thi đồng bộ thì quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội mới có sự đồng thuận và bền vững.

Quyền tiếp cận thông tin của nhân dân đã được luật hóa, nhưng ở nhiều lĩnh vực và tại nhiều cơ quan từ Trung ương đến địa phương vẫn còn hạn chế minh bạch thông tin, đặc biệt trong công tác tổ chức cán bộ, thi tuyển, bổ nhiệm, công khai các dự án đấu thầu, quản lý tài sản và thu nhập cá nhân, quản lý tài nguyên và môi trường cũng như quản lý tài chính công Trách nhiệm giải trình và xử lý sau giải trình qua các kỳ họp Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp chưa đạt hiệu quả và chưa đồng bộ Vai trò kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước của Quốc hội và hội đồng nhân dân chưa đáp ứng mong đợi, trong khi vai trò phản biện và giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên còn hạn chế Các phương thức thực hiện quyền làm chủ trực tiếp còn hạn chế Vấn đề bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình ra quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân vẫn còn bất cập Hơn nữa, việc quan tâm đến hưởng thụ các thành quả lao động sáng tạo của nhân dân còn bộc lộ nhiều thiếu sót, dẫn đến phân hóa xã hội, gia tăng lợi ích nhóm và nguy cơ nghèo đói, tái nghèo tiềm ẩn cao.

Hai là, khoảng cách giữa việc ban hành luật pháp và thực hiện luật pháp chưa được rút ngắn

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoảng cách giữa việc ban hành và thực hiện pháp luật vẫn còn khá rõ Một nguyên nhân chủ yếu là người dân chưa nhận thức đầy đủ vai trò của từng văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, đặc biệt là những văn bản liên quan trực tiếp đến đời sống và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Ba là, thực hành dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật còn nhiều bất cập

Thực tế cho thấy tình trạng vừa thiếu dân chủ vừa thiếu kỷ cương vẫn chậm được khắc phục Trong hoạt động của cơ quan nhà nước vẫn còn nhiều biểu hiện mất dân chủ hoặc dân chủ quá mức; việc thực hành dân chủ ở nhiều nơi mang tính hình thức, pháp luật và kỷ cương không được tuân thủ nghiêm Quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan công quyền chưa được quy định rõ ràng và thực hiện chưa nghiêm Còn thiếu các chế tài bảo đảm thực thi dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật.

2.1.3 Một số giải pháp cụ thể

Do những tồn đọng còn lại, mục tiêu của Đảng ta là tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nhằm củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân trong thời gian tới Cụ thể, cần tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; mở rộng sự tham gia của nhân dân ở nhiều cấp độ và lĩnh vực; cải cách hệ thống pháp luật và hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ nhân dân; đồng thời tăng cường giám sát và kiểm tra, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và thúc đẩy sự đồng thuận xã hội.

Tiếp tục nghiên cứu sâu và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đây là di sản lý luận và thực tiễn vô cùng quý giá, cần được học tập, vận dụng và triển khai nghiêm túc trong mọi hoạt động của cơ quan nhà nước và xã hội, nhằm tạo động lực tinh thần mạnh mẽ để xây dựng và phát triển đất nước bền vững.

Tiếp tục cụ thể hóa và hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011 và gắn với Hiến pháp năm 2013, nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, cơ chế tham gia của nhân dân và hoạt động giám sát của xã hội Việc này sẽ tăng cường vai trò của công dân trong quản lý nhà nước và quá trình phát triển đất nước, đồng thời nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các cơ chế dân chủ ở mọi cấp.

Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ ở cơ sở theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, tăng cường vai trò của người dân trong tham gia và giám sát quá trình xây dựng, thực thi và kiểm soát bộ máy nhà nước Quán triệt quan điểm của Đảng về xử lý các vi phạm pháp luật trên nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật, không có vùng cấm và không có ngoại lệ Thực hiện nhất quán chủ trương thực hành dân chủ một cách đồng bộ và toàn diện; phát huy tinh thần tích cực và chủ động của nhân dân trong tham gia thực hành dân chủ, tham gia xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, liêm chính, có hiệu lực và hiệu quả.

Một số vấn đề thực tiễn khác

3.1 Về quyền bầu cử của nhân dân

Ngày nay, theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013: Điều 6:

Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, được thực thi qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước.

1 Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

2 Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân.

Và, quy trình và quy tắc bầu cử được quy định cụ thể trong Luật bầu cử đại biểu

Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Cụ thể một số điều: Điều 1 Nguyên tắc bầu cử

Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, nhằm đảm bảo quyền tham gia của công dân và sự công bằng, minh bạch của cuộc bầu cử Điều 2 quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử, làm khung điều kiện cho việc tham gia bỏ phiếu và ứng cử của công dân.

Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này; Điều 3 Tiêu chuẩn của người ứng cử.

1 Người ứng cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội.

2 Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương. Điều 69 Nguyên tắc bỏ phiếu

1 Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.

2 Cử tri phải tự mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.

3 Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.

4 Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.

5 Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.

6 Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.

7 Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.

8 Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu. v.v…

Ngày 01/01/2019, Luật An ninh mạng chính thức có hiệu lực

Với 7 chương, 43 điều, Luật An ninh mạng quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan.

Dưới danh nghĩa các tổ chức quốc tế và phi chính phủ, nhiều cá nhân đã lên tiếng phản ứng trước Luật An ninh mạng của Việt Nam, tuy nhiên số lượng và bản chất các phản ứng này vẫn dễ nhận ra Ví dụ, Freedom House cho rằng Việt Nam tiếp tục là kẻ thù của tự do Internet khi đánh giá về Luật An ninh mạng và đưa ra nhiều quan điểm gây tranh cãi Trên một số báo nước ngoài như BBC, RFA, VOA, RFI và trên các trang mạng xã hội xuất hiện dày đặc các bài viết xuyên tạc, bóp méo nội dung Luật An ninh mạng với nhan đề như: “Bị trói thêm một nuộc”, “Tôi bất tuân an ninh mạng”, “Tản mạn về Luật An ninh mạng Việt Nam”, “Đảng quyết, Google hay Facebook cũng phải nghe”, “Luật An ninh mạng: Tuân thủ hay viết - nói theo ý mình?” Các bài viết này cho rằng Luật An ninh mạng “chống lại loài người”, “bịt miệng dân chủ”, “đàn áp bất đồng chính kiến”, “tạo rào cản kinh doanh”, “tăng chi phí cho doanh nghiệp”, “thêm giấy phép con”, “lạm quyền”.

“cấm sử dụng Facebook, Google”,…

Luật An ninh mạng đang được tranh luận về ảnh hưởng của nó đối với tính dân chủ của nhân dân và sự phù hợp với tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh Liệu luật này có thật sự làm mất đi quyền tự do của người dân hay đi ngược với nguyên tắc dân chủ mà Người từng đề cao? Việc xem xét này nhấn mạnh sự cân bằng giữa an ninh mạng và các quyền tự do căn bản, đồng thời đặt ra câu hỏi về mục tiêu và hiệu quả của luật pháp hiện hành.

Câu trả lời là không Những thông tin bịa đặt và xuyên tạc đang gieo hoang mang, tạo sự nghi ngờ trong quần chúng đối với chính sách của Đảng và Nhà nước và làm cản trở việc triển khai Luật An ninh mạng Việt Nam đã trải qua 35 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cùng với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, và nay bước vào thời đại mới của Cách mạng Công nghiệp 4.0, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra thách thức liên quan đến mạng xã hội và số hóa Trong bối cảnh đó, cần sự tỉnh táo và đồng thuận của toàn xã hội để bảo đảm an ninh mạng và tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.

… liên tục xuất hiện Các vấn đề xã hội nảy sinh nhanh chóng cả về quy mô và mức độ khi có sự trợ giúp từ các nền tảng công nghệ, mạng xã hội,… Đạo đức, lối sống gia đình, học đường có mặt xuống cấp đáng lo ngại, gây bức xúc Môi trường văn hóa có những mặt chưa thực sự lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hóa dân tộc Trên không gian mạng xuất hiện tràn lan các văn hóa phẩm đồi trụy, các clip rác, mang nội dung xấu đã gây ra không ít hệ lụy cho người dân, không ít vụ tự tử đã xảy ra vì những lời lăng mạ không suy nghĩ Chính vì vô vàn rủi ro, nguy hại như vậy nên Nhà nước ta phải xây dựng pháp luật đặc biệt điều chỉnh văn hóa mạng xã hội để bảo vệ người dùng Việt Nam.

Ngày đăng: 08/12/2022, 03:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w