1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực hành động vật học có dây sống

82 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hành Động Vật Học Có Dây Sống
Tác giả PGS. TS. Tống Xuân Tám
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Sinh Học
Thể loại Tài Liệu Tham Khảo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 6,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA SINH HỌC    THỰC HÀNH ĐỘNG VẬT HỌC CÓ DÂY SỐNG (Biên soạn và cập nhật 2007 2022) Người biên soạn PGS TS Tống Xuân Tám THÀNH.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Đào Văn Tiến (1971, 1977), Động vật có xương sống, Tập I, II, Nxb Đại học và

Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 463 tr, 236 tr

2 Hà Đình Đức (1977), Thực tập giải phẫu Động vật có xương sống, Nxb Đại học và

Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 214 tr

3 Lê Vũ Khôi (2017), Động vật học Có xương sống, Tái bản lần thứ 7, Nxb Giáo dục

Việt Nam, Hà Nội, 319 tr

4 Mai Đình Yên (1969), Bài giảng cơ sở sinh thái Động vật, Nxb Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội, 143 tr

5 Nguyễn Văn Khang (1998), Thực tập nghiên cứu thiên nhiên, Giáo trình dùng cho

các trường Cao đẳng Sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 140 tr

6 Thái Trần Bái (2010), Giáo trình Động vật học, Nxb Giáo dục Việt Nam, 284 tr

7 Tống Xuân Tám (2007-2022), Thực hành Động vật học có dây sống, Lưu hành nội

bộ, 65 tr

8 Trần Gia Huấn, Trần Kiên, Nguyễn Thái Tự, Đoàn Hiến, Đoàn Trọng Bình (1974,

1980), Động vật có xương sống, Tập I, II, III, Nxb Giáo dục Hà Nội, 146 tr., 138 tr

9 Trần Hồng Việt (Chủ biên), Nguyễn Hữu Dực, Lê Nguyên Ngật (2004), Thực hành

Động vật có xương sống, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 306 tr

10 Trần Hồng Việt, Trần Hồng Hải (2015), Giáo trình Động vật học - Phần Động vật Có

xương sống, Tập I: Cá, Lưỡng thê, Bò sát, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà

Nội, tr 1-440

11 Trần Hồng Việt, Trần Hồng Hải (2019), Giáo trình Động vật học - Phần Động vật Có

xương sống, Tập II: lớp Chim, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, tr

441-762

12 Trần Hồng Việt, Trần Hồng Hải (2020), Giáo trình Động vật học - Phần Động vật Có

xương sống, Tập III: lớp Thú, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, tr

15 Trần Kiên, Nguyễn Thái Tự (1979, 1980), Thực hành Động vật có xương sống, Tập I,

II, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 81 tr, 99 tr

16 Trần Kiên (Chủ biên), Trần Hồng Việt (2001), Động vật học có xương sống, Giáo

trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng Sư phạm, Tái bản lần thứ hai, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 240 tr

Trang 3

17 Trần Kiên (Chủ biên), Trần Hồng Việt (2003), Động vật có xương sống, Tập I, Cá và

Lưỡng cư, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 522 tr

18 Trần Kiên (Chủ biên), Trần Hồng Việt (2005), Động vật học có xương sống, Giáo

trình Cao đẳng Sư phạm, Dự án đào tạo giáo viên THCS, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 528 tr

19 Trần Thanh Tòng (2000), Thực tập Động vật có xương sống, Nxb Đại học Quốc gia,

TP.HCM, 168 tr

20 Trần Thanh Tòng (2007), Động vật có xương sống, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM,

287 tr

Tiếng Anh

21 Alfred Sherwood Romer and Thomas S Parsons (1986), The vertebrate Body, Sixth

edition, CBS College Publishing, 679 p

22 Charles F Lytle (2000), General Zoology Laboratory Guide, Thirteenth Edition, Mc

Graw Hill, Higher Education

23 Cleveland P Hickman Jr., Larry S Roberts, Allan Larson, Helen L’Anson (2004),

Integrated Principles of Zoology, Twelfth Edition, Mc Graw-Hill, Companies, Inc.,

New York, USA

24 Ezra Samberg (2018), Vertebrate Zoology, Syrawood Publishing House 247 p

25 George C Kent (1992), Comparative anatomy of the vertebrates, Seventh Edition,

Printed in The United States of America by Mosby-YearBook, Inc 11830 Westline Industrial Drive St Louis, MO 63146, 681 p

26 Kent, G.C (1965), Comparative anatomy of the vertebrates, Printed in The United

States of America by Mosby-YearBook, Inc., 457 p

27 Lisa A Urry, Michael L Cain, Steven A Wasserman, Peter V Minorsky, Jane B

Reece (2016), Campell Biology, 11th edition, Pearson, 1490 p

28 Miller, S.A., Harley, J.P (2016), Zoology, 10th edition, Printed in The United States

of America by McGraw-Hill, 641 p

29 Romer, A.S and Parsons, T.S (1968), The vertebrate Body, 3rd edition, Philadelphia:

W.B Saunders, 679 p

30 Singh, B.K.P (2018), Vertebrate Zoology, Kindle Edition Amiga Press Inc 354 p

31 Stephen A Miller and John P Harley (1996), Zoology, Printed in The United States

of America by Times Mirror Higher Education Group, Inc., 2460 Kerper Boulevard, Dubuque IA 52001, 752 p

Trang 4

NỘI QUY THỰC HÀNH ĐỘNG VẬT HỌC CÓ DÂY SỐNG

Tất cả học viên, sinh viên khi học thực hành Động vật học 2 (Động vật học có dây sống) phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nội quy sau đây:

1 Đi học phải đúng giờ, đến trễ quá 10 phút (nếu không có lí do chính đáng) sẽ không được vào học buổi hôm đó

2 Vắng bài nào sẽ không có điểm thực hành của bài đó (bao gồm điểm chấm trên lớp và điểm bài tường trình ở nhà)

3 Nếu vì lí do bất khả kháng (ốm đau, tai nạn,…) không thể tham dự buổi thực hành hôm đó, phải báo trước cho giảng viên (gặp trực tiếp, gọi điện thoại hoặc zalo,…)

để giảng viên sắp xếp cho học bù vào nhóm khác

4 Những vật dụng, tư trang không liên quan đến bài học để gọn lại một chỗ theo quy định

5 Tuyệt đối không đùa giỡn, nói chuyện và làm việc riêng trong giờ học

6 Ngồi đúng vị trí do giảng viên quy định

7 Bảo vệ các thiết bị, dụng cụ và hoá chất, nếu làm hư hỏng phải đền theo quy định

8 Khi sử dụng kính hiển vi hoặc kính lúp soi nổi phải nhẹ nhàng, đúng thao tác để tránh bị cháy bóng đèn hoặc làm trầy xước vật kính

9 Khi tiếp xúc với mẫu ngâm formol hoặc gia cầm sống, bắt buộc phải đeo khẩu

trang và găng tay y tế (học viên, sinh viên tự mua)

10 Sau khi thực hành xong, rửa dụng cụ, giặt khăn, lau chùi sạch bàn (bằng xà bông hoặc nước rửa chén), đổ rác, quét và lau nền nhà bằng nước lau sàn

MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ BÀI TƯỜNG TRÌNH

1 Bài tường trình phải ghi đầy đủ thông tin về: họ và tên sinh viên; số thứ tự trong danh sách chấm điểm; nhóm; lớp; tên bài; phải trình bày trên khổ giấy A4 Nếu có nhiều tờ thì đánh số trang từ 1 cho đến hết và bấm các tờ giấy lại theo thứ tự thành

1 xấp

2 Trình bày đầy đủ vị trí phân loại của đối tượng thực hành ở mỗi bài; không mô tả lại đặc điểm cấu tạo ngoài và trong

3 Vẽ hình bằng bút chì (khuyến khích dùng các màu bút chì khác nhau để thể hiện

rõ, đúng từng chi tiết mẫu vật), chú thích hình bằng bút bi, bút mực,…(tuyệt đối không dùng bút chì); tên hình phải được ghi đầy đủ ở phía dưới của hình

4 Hình vẽ trong bài tường trình được quy định tại mục I.2.c và do giảng viên yêu

cầu thêm ở mỗi bài thực hành

5 Không tô, vẽ, sao chụp lại,… hình vẽ có trong các tài liệu; hình vẽ phải phản ánh đúng mẫu vật thật khi thực hành

6 Đầu mỗi buổi học hôm sau, nhóm trưởng thu và nộp bài tường trình của nhóm cho giảng viên; nếu nộp trễ hoặc không nộp mà không có lí do chính đáng sẽ bị điểm không (0) bài tường trình đó

Trang 5

PHƯƠNG PHÁP HỌC THỰC HÀNH ĐỘNG VẬT HỌC CÓ DÂY SỐNG

1 Phải đọc kĩ và suy ngẫm các tài liệu ở nhà trước khi học thực hành bài mới

2 Quan sát kĩ hình cấu tạo ngoài và trong của các nhóm động vật cần thực hành

3 Tìm và tham khảo các hình vẽ, tranh ảnh màu liên quan (nếu có)

4 Chú ý và làm theo sự hướng dẫn của giảng viên trong giờ thực hành

5 Nếu có thắc mắc hoặc chưa hiểu rõ vấn đề nào, mạnh dạn trao đổi với giảng viên

KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ, THANG ĐIỂM

Điểm thực hành được tính một phần trong điểm học phần Điểm thực hành bao gồm các phần sau đây:

1 Nghiên cứu, giải phẫu

20%

3 Bài tường trình

Thực hiện đầy đủ các yêu cầu của giảng viên về bài tường trình; hình vẽ chính xác, cân đối, đẹp và ghi chú đầy đủ

40%

Cách tính điểm thực hành:

Điểm thực hành = (TB thực hành trên lớp x 60%) + (TB các bài tường trình x 40%)

Cách tính điểm 50% (điểm đánh giá quá trình):

Điểm 50% = Điểm chuyên cần 10% + Điểm thực hành 25% + Điểm kiểm tra lí thuyết giữa kì 15%

Trang 6

BÀI 1 QUAN SÁT CÁ LƯỠNG TIÊM, CÁ SỤN VÀ CÁ XƯƠNG

I MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU THỰC HÀNH

1 Mục tiêu

a Kiến thức

- Phân biệt được cấu tạo ngoài và trong của cá Lưỡng tiêm, từ đó nêu được những đặc điểm chung của ngành có dây sống và những đặc điểm nguyên thuỷ của ngành Đồng thời, thấy được đặc điểm của cá Lưỡng tiêm thích nghi với đời sống kém hoạt động ở môi trường đáy

- Nhận biết được đặc điểm chung chủ yếu của lớp Cá sụn và đặc điểm cấu tạo ngoài của

cá Mập và cá Đuối liên hệ với đời sống của chúng (cá Mập sống ở mọi tầng nước, bơi nhanh, săn bắt cá khác, còn cá Đuối thích nghi với đời sống tầng đáy, kém vận động,

ăn thân mềm, giáp xác)

- Hệ thống được đặc điểm chung về cấu tạo ngoài của lớp Cá xương

- Củng cố và đào sâu các kiến thức đã học ở phần lí thuyết

- Cấu tạo ngoài: quan sát hình cá Lưỡng tiêm nguyên vẹn: mô tả hình dạng, nêu kích

thước cụ thể Nêu đặc điểm vây lưng, vây bụng, vây đuôi, đặc điểm phễu miệng, xúc

tu, các tiết cơ Xác định vị trí lỗ bụng, lỗ hậu môn

- Cấu tạo trong: xác định tên, vị trí, phân biệt và mô tả các bộ phận thuộc các hệ tiêu

hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ thần kinh của cá Lưỡng tiêm

- Mô tả hình dáng chung của lớp Cá sụn, cấu tạo ngoài của cá Mập và cá Đuối, đặc điểm của vảy; đuôi; vây chẵn gồm vây ngực và vây bụng, vây lẻ gồm vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn; hình dạng đầu; hình dạng và vị trí miệng; mắt; lỗ mũi; lỗ thở; khe mang; lỗ huyệt; bộ phận giao cấu

- Quan sát cấu tạo ngoài của lớp Cá xương

c Vẽ hình

Dựa trên cơ sở mô hình, mẫu vật đã quan sát, vẽ hình và ghi chú thích đầy đủ:

- Cấu tạo ngoài của cá Lưỡng tiêm (mặt bên, mặt bụng)

- Cấu tạo trong (mặt bên cắt dọc) của cá Lưỡng tiêm

- Cấu tạo ngoài của cá Mập và cá Đuối

- Cấu tạo ngoài của Cá xương

II THIẾT BỊ, MÔ HÌNH, TIÊU BẢN, HÌNH ẢNH VÀ MẪU VẬT

1 Thiết bị

- Bộ đồ mổ: kẹp nhỏ, kẹp lớn, kim mũi nhọn

Trang 7

- Khay mổ nhỏ, khay mổ lớn

- Khăn lau, găng tay y tế

- Kính lúp 2 mắt, lúp cầm tay

- Kính hiển vi có độ phóng đại nhỏ

- Kính hiển vi có đường truyền với camera và màn hình (nếu có)

- Máy Overhead và màn chiếu

- Lam kính Đĩa đồng hồ hoặc đĩa thuỷ tinh (petri)

2 Mô hình

- Mô hình cắt dọc và cắt ngang cá Lưỡng tiêm bằng thạch cao

3 Tiêu bản hiển vi

- Tiêu bản cắt dọc cá Lưỡng tiêm

- Tiêu bản cắt ngang cá Lưỡng tiêm qua vùng hầu có mấu lồi gan, vùng ruột

4 Hình ảnh

- Hình vẽ và chụp cấu tạo ngoài của cá Lưỡng tiêm (mặt bên, mặt bụng)

- Hình vẽ cắt dọc cá Lưỡng tiêm, cắt ngang qua vùng hầu có mấu lồi gan, vùng ruột

- Hình vẽ đầu cá Lưỡng tiêm cắt dọc

- Hình vẽ mắt Hesse và vị trí mắt Hesse trên ống thần kinh

- Hình vẽ sơ đồ hệ tuần hoàn của cá Lưỡng tiêm

- Hình vẽ cấu tạo ngoài của cá Mập, cá Đuối, Cá xương

- Tranh một số loài cá nước ngọt, cá biển thường gặp ở Việt Nam

5 Mẫu vật

- Cá Lưỡng tiêm trưởng thành được định hình trong cồn hay formol

- Cá Mập, cá Đuối tươi hoặc ngâm trong cồn hay formol

- Một số loài Cá xương còn tươi hoặc ngâm trong cồn hay formol

III VỊ TRÍ PHÂN LOẠI CÁ LƯỠNG TIÊM

- Loài: cá Lưỡng tiêm Amphioxus belcheri (Gray, 1847)

Tên đồng vật (Synonym):

cá Guột Branchiostoma belcheri Chu, 1963

Branchiostoma belcheri Bedford, 1901 Branchiostoma japonicum Okada et Matsubara, 1938 Branchiostoma belcheri japonicus Andrews, 1895

- Giống: cá Lưỡng tiêm Amphioxus Yarrell, 1836

Tên đồng vật (Synonym):

Branchiostoma Costa, 1834

- Họ: cá Lưỡng tiêm Amphioxidae hay Branchiostomidae

(Branchio: mang; stom: miệng)

- Bộ: cá Lưỡng tiêm Amphioxiformes

- Lớp: cá Lưỡng tiêm Amphioxi hay Leptocardi

(Amphi: hai; oxi: nhọn)

- Phân ngành: Sống đầu Cephalochordata hay không có hộp sọ Acrania hay

Leptocardii (Cephalo: đầu); (A: không; crania: hộp sọ)

- Ngành: có Dây sống Chordata

- Giới: Động vật Animalia

Trang 8

IV QUAN SÁT CÁ LƯỠNG TIÊM

1 Quan sát cấu tạo ngoài của cá Lưỡng tiêm (hình 1.1)

Hình 1.1 Cấu tạo ngoài của cá Lưỡng tiêm Amphioxus belcheri (Gray, 1847)

(A: mặt bên; B: mặt bụng) Cấu tạo trong của cá Lưỡng tiêm (C: mặt bên cắt dọc)

- Cá Lưỡng tiêm sống vùi mình trong cát ở đáy biển nông, ít vận động nên cơ thể chưa

phân hoá thành 3 phần (đầu, thân, đuôi) rõ rệt và cơ quan vận động chưa phát triển,

thiếu vây chẵn

- Toàn bộ cơ thể Lưỡng tiêm gần như trong suốt, có màu trắng hơi hồng khi còn tươi, có thể nhìn thấy rõ một phần các cơ quan bên trong khi có ánh sáng mạnh chiếu qua

- Cơ thể hình thoi, dẹp hai bên, thuôn nhọn hai đầu (gọi là lưỡng tiêm)

- Chiều dài cơ thể từ 3 - 8 cm

- Dọc lưng có nếp da gấp lại tạo thành vây lưng, vây lưng kéo dài từ đầu tới đuôi, nối với vây đuôi Vây đuôi có hình mũi mác Phía dưới bụng, vây đuôi kéo lên đến lỗ bụng tạo thành một nếp vây bụng ngắn Từ lỗ bụng ngược lên đến phễu miệng hai bên thân, da gấp nếp nhô cao tạo thành 2 nếp bụng Nếp bụng không phải là vây, vì trong nếp bụng không có các que sụn (tia vây) nâng đỡ như ở vây lưng và vây bụng Dọc

giữa 2 nếp bụng còn có lớp cơ bụng mỏng, không phân tiết

- Phía lưng có hốc cảm giác Kolliker, bên trong được lót bởi những tế bào cảm giác có

tiêm mao rung động

- Đầu chưa phân hoá rõ, chưa tách biệt với thân Ở mút đầu có phễu miệng rộng, miệng phễu hướng xuống mặt bụng, xung quanh phễu miệng có 37 - 45 xúc tu ngắn (số lượng xúc tu tăng theo tuổi của cá), đáy phễu là lỗ miệng Xúc tu miệng có những tế

bào xúc giác tập trung quanh miệng và xúc tu

Trang 9

- Phần cuối thân, ở mặt bụng, khoảng 2/3 trước thân, có lỗ bụng là lỗ thông với xoang

bao mang (phòng mang) với môi trường ngoài

- Lỗ hậu môn ở gốc vây đuôi, hơi lệch về phía nửa bên trái Hậu môn nằm lệch sang bên

trái là di tích của sự mất đối xứng hai bên ở cá Lưỡng tiêm

- Ở mỗi bên thân có khoảng 63 - 66 tiết cơ có hình chữ V màu đỏ, lồng úp vào nhau, đỉnh hướng về phía trước Giữa các tiết cơ có vách ngăn cơ do bao dây sống tạo

thành Tiết cơ hai bên thân xếp so le nhau rõ rệt (các vách cơ hai bên không trùng khiết với nhau) giúp con vật dễ uốn mình khi vận chuyển

- Dọc hai bên thân, về phía bụng, còn nhìn thấy rõ 2 dãy tuyến sinh dục dạng túi kín

2 Quan sát cấu tạo trong của cá Lưỡng tiêm

- Qua mô hình lát cắt dọc cơ thể, nhìn rõ dây

sống chạy dọc lưng từ mút đầu tới mút

đuôi (hình 1.1)

- Ống thần kinh nằm trên dây sống Trên đầu

ống có một mắt lẻ duy nhất, dọc ống có

nhiều đốm đen nhỏ là những mắt Hesse,

cấu tạo rất đơn giản, mỗi mắt Hesse chỉ

gồm một tế bào cảm quang và một tế bào

sắc tố bao bên dưới (hình 1.2) Do da, thịt

cá Lưỡng cư trong suốt nên mắt Hesse tuy

nằm sâu bên dưới vẫn có thể cảm nhận

được sáng, tối Hình 1.2 Mắt Hesse và vị trí mắt Hesse trên

ống thần kinh

- Do dây sống chạy tới mút đầu, trước dây sống chưa có hộp sọ nên phần đầu ống thần

kinh (não nguyên thuỷ - được coi như mầm mống của não thất) nằm trên dây sống, chứ không nằm trong hộp sọ phía trước dây sống như các động vật có xương sống khác (hình 1.3)

Hình 1.3 Đầu cá Lưỡng tiêm cắt dọc

- Đầu chưa có ranh giới phân biệt với thân, trước đầu là phễu miệng với xúc tu Miệng nằm ở đáy phễu thông với hầu, hầu rất lớn và dài Chỗ miệng thông vào hầu có một

riềm cơ vòng được coi như cơ thắt hầu ngăn miệng với hầu, quanh riềm có nhiều chồi

Trang 10

cơ (velum) nhỏ (hình 1.3) Thành hầu thủng nhiều đôi khe mang đều đặn, khoảng trên

100 khe mang nằm xiên nghiêng hai bên cơ thể ở mỗi bên hầu (hình 1.1)

- Khoảng cách giữa thành hầu và thành cơ thể là xoang bao mang (phòng mang) rỗng Xoang thông ra ngoài qua lỗ bụng ở phía cuối bụng hầu Tiếp theo hầu là đoạn ruột

thẳng, ngắn, đầu ruột có mấu lồi manh tràng gan (túi gan) nằm ở phía bên phải của

hầu, cuối ruột là lỗ hậu môn đổ ra gốc vây đuôi phía bên trái (hình 1.1)

- Hai bên thành cơ thể ở vùng hầu, phía bụng còn có 2 dãy tuyến sinh dục, bên trái có 24

- 27 tuyến, bên phải 25 - 29 tuyến Tuyến sinh dục là những túi kín, hình bầu dục, màu thẫm, xếp sít nhau và rất giống nhau, chưa phân biệt tuyến đực và tuyến cái (hình 1.1)

- Có trên 100 đôi đơn thận rải dọc thể xoang 2 bên lưng hầu Thận gồm nguyên đơn thận và hậu đơn thận giống Giun Một đơn thận gồm: 1 ống ngắn, cong, nằm giữa 2 khe mang Nhiều miệng thận thông vào xoang cơ thể và 1 lỗ thận đổ vào xoang bao mang Trên mỗi miệng thận có nhiều tế bào mặt trời hình ống, dài, trong có sợi lông rung động Thận hút chất cặn bã từ thể xoang vào ống thận và đổ ra xoang bao mang qua lỗ thận

V QUAN SÁT CẤU TẠO NGOÀI CỦA CÁ SỤN (CHONDRICHTHYES)

1 Quan sát cấu tạo ngoài của cá Mập (hình 1.4)

Hình 1.4 Cấu tạo ngoài của cá Mập

a Quan sát đầu

- Để cá Mập xuống khay mổ hoặc cầm lên tay để thấy rõ đầu cá bằng, dẹp, mõm nhọn,

miệng rộng hình khe ở mặt dưới đầu

- Dùng kẹp mở rộng miệng cá để thấy được trên hàm có nhiều răng dẹp, viền có răng

cưa nhỏ, đầu răng chỉa ra ngoài

- Ở phía dưới đầu, trước miệng là 2 lỗ mũi Mỗi lỗ mũi có van mũi, đó là một nếp da

ngăn không hoàn toàn chia đôi lỗ mũi

- Hai bên đầu có 2 mắt lớn, có 3 mí mắt, mí trên và mí dưới không cử động được

- Lỗ thở không còn Khe mang 5 cái thông với hầu, 2 khe cuối ở trên vây ngực

Mõm

Mắt Khe mang

Vây lưng 1

Vây lưng 2 Vây đuôi

Vây hậu môn Vây bụng

Vây ngực Miệng

Lỗ

mũi

Trang 11

- Mỗi khe mang có một nếp da nhỏ che phủ chỉ để cho nước trong xoang miệng chảy ra ngoài qua khe mang

b Quan sát thân

- Thân cá hình thoi, kéo dài từ vách khe mang thứ 5 tới lỗ huyệt Lỗ huyệt có dạng khe

dài Dùng kẹp mở rộng lỗ huyệt có thể phát hiện được lỗ đổ của ống tiêu hoá, núm niệu sinh dục ở cá đực hoặc cả lỗ niệu và lỗ sinh dục ở cá cái

- Nằm ở mặt bụng thân cá có một đôi vây

ngực và một đôi vây bụng Chúng đều xếp

theo vị trí nằm ngang

- Ở cá thể đực phần trong vây bụng có phân

hoá thành bộ phận giao cấu dài có cạnh

trong xẻ rãnh gọi là trâm giao hợp (gai

giao hợp) (hình 1.5)

- Trên lưng cá có hai vây lưng Vây lưng thứ

nhất lớn còn vây lưng thứ hai có vị trí

ranh giới giữa thân và đuôi ở mặt lưng cơ

- Tiếp theo phần thân là phần đuôi, đuôi thon Phần đuôi không chứa nội quan Dưới lớp

da của phần đuôi có những khối cơ bao quanh cột sống phần đuôi tạo thành khúc đuôi

- Vây đuôi kiểu dị vĩ gồm hai thuỳ Thuỳ trên là thuỳ lưng lớn, thuỳ dưới là thuỳ bụng nhỏ Mặt dưới đuôi có vây hậu môn

2 Quan sát cấu tạo ngoài của cá Đuối bồng (hình 1.6)

Hình 1 6 Cấu tạo ngoài của cá Đuối bồng (mặt lưng)

Trang 12

a Quan sát chung và các vây

- Cá Đuối có thân dẹp theo hướng lưng bụng

- Vây ngực rất lớn, mở rộng ở hai bên thân, hợp nhau ở mút mõm

- Vây bụng nhỏ; phân thành hai lá, lá trước nhỏ, lá sau to

- Bộ phận giao cấu dẹp

- Vây bụng nằm ở phía lỗ huyệt

- Vây lưng biến thành gai cứng, có độc

- Đuôi mảnh có hình roi

b Quan sát mặt bụng

- Mặt bụng có lỗ miệng hình khe, hai lỗ mũi rộng Miệng hình lưỡi liềm, sau miệng là những khe mang

- Dùng kẹp mở rộng miệng cá thấy được những tấm răng dẹp xếp đều đặn như gạch lát,

có tác dụng nghiền vỡ những mồi có vỏ cứng như trai, ốc

c Quan sát mặt lưng

- Mặt lưng có hai mắt, sau mắt là lỗ thở hình bầu dục

- Vảy tấm không phân bố đều trên thân mà tập trung thành từng đám nhỏ trên lưng và trên đuôi

3 Quan sát cấu tạo ngoài của Cá xương (hình 1.7)

Hình 1.7 Cấu tạo ngoài của Cá xương

Trang 13

BÀI 2 TẬP NHẬN BIẾT VÀ ĐỊNH LOẠI CÁ TỚI BỘ

I MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU THỰC HÀNH

1 Mục tiêu

a Kiến thức

- Nêu được những đặc điểm hình thái cơ bản nhất trong định loại cá

- Nhận biết được một số đặc điểm cơ bản nhất, đặc trưng nhất về hình thái ở từng bộ cá

- Tập dùng khoá định loại đơn giản để xác định vị trí phân loại của một số loài cá từ lớp

- Dùng những đường nét đơn giản vẽ được một, hai mẫu thuộc mỗi bộ cá Hình vẽ mô

tả được đặc điểm đặc trưng của mỗi bộ cá

- Biết được tên và vị trí phân loại của các mẫu cá có trong buổi thực hành

II THIẾT BỊ, HOÁ CHẤT, HÌNH ẢNH VÀ MẪU VẬT

- Kính hiển vi có đường truyền với camera và màn hình (nếu có)

- Máy Overhead hoặc Projector và màn chiếu

- Lam kính Đĩa đồng hồ hoặc đĩa thuỷ tinh (petri)

2 Hình ảnh

- Hình vẽ cấu tạo ngoài của cá Mập, cá Đuối, Cá xương

- Tranh một số loài cá nước ngọt, cá biển thường gặp ở Việt Nam

3 Mẫu vật

- Cá Mập, cá Đuối tươi hoặc ngâm trong cồn hay formol

- Một số loài Cá xương còn tươi hoặc ngâm trong cồn hay formol

(Các mẫu cá ngâm trong formol cần được rửa sạch dưới vòi nước chảy từ 15 - 20 phút trước khi thực hành)

III HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP NHẬN BIẾT VÀ ĐỊNH LOẠI CÁ

1 Xác định một số đặc điểm hình thái cá

a Hình dạng cơ thể

Trang 14

Cơ thể cá ngoài hình dạng điển hình (hình thoi, thon dài, đối xứng hai bên) còn có dạng dài như rắn (Lươn, cá Chình,…) hoặc dạng ít nhiều có hình trụ dài (cá Lóc) hoặc cơ thể dẹp mất đối xứng hai bên (cá Bơn)

b Vảy

- Vảy tấm có phần lộ ra ngoài, hình dạng răng gắn chặt với da, khi vuốt nhẹ lên cá

Nhám hoặc cá Đuối từ đuôi lên phía đầu sẽ thấy nháp

- Vảy của Cá xương là vảy xương, mỗi vảy là một tấm hình tròn có một phần cắm vào

da, bờ ngoài vảy trơn (vảy tròn ở cá Chép, cá Mè, cá Trôi) hoặc bờ ngoài có những gai nhỏ (vảy lược ở cá Rô, cá Bơn hay cá Vược) do đó khi vuốt nhẹ lên cá có vảy lược từ

đuôi lên đầu ta thấy nháp Một số loài cá không có vảy (Lươn, cá Trê, cá Ba sa,…)

- Một số loài có đầu phủ vảy (cá Lóc,…)

c Vây

- Vây cá được nâng đỡ bởi các tia vây Các tia vây có thể phân làm nhiều nhánh (tia vây

phân nhánh hay tia vây mềm) hoặc không phân nhánh (tia gai hay tia cứng), tia cứng

có thể tách rời vây (tia gai tự do) biến thành gai cứng

- Vây lưng có thể có một hoặc hai cái Vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn có thể nối liền nhau (cá Chình,…) Vây bụng có thể thiếu (cá Chình,…) Kích thước các thuỳ của vây đuôi có thể khác nhau hoặc vây đuôi không phân thuỳ

- Vị trí của vây lưng, vây ngực, vây bụng, vây hậu môn là những đặc điểm quan trọng

trong định loại

- Miệng có thể rộng hoặc nhỏ (cá Nóc,…) Hàm có thể có răng hoặc không có (muốn phát hiện răng có thể lấy ngón tay sờ hoặc lấy kim mũi nhọn chà chà trên hàm cá) Răng hầu chỉ có ở bộ cá Chép Hàm trên có thể kéo dài thành vòi cử động được (Chạch,…) Mũi có thể kéo dài thành ống, đầu, mõm kéo dài tựa đầu ngực (cá Ngựa)

2 Cách sử dụng khoá định loại lưỡng phân

- Để định loại cá, ta dùng khoá định loại để xác định vị trí phân loại của chúng từ đơn vị

phân loại cao đến đơn vị phân loại thấp: Giới, Phân giới, Ngành, Phân ngành, Lớp,

Phân lớp, Bộ, Phân bộ, Họ, Phân họ, Giống, Phân giống, Loài, Phân loài

- Khoá định loại lương phân được cấu trúc theo những hệ thống đặc điểm có tính chất đối nhau Do đó, nếu tra trong khoá định loại thấy đặc điểm hình thái của mẫu cá đạng

định loại không đúng với số này thì sẽ đúng với số đặt trong ngoặc bên cạnh số đó

- Ví dụ: Khi đọc những đặc điểm của mẫu cá đang định loại thấy không đúng đặc điểm

ghi ở số 1 trong khoá định loại thì sẽ đúng với số ghi trong ngoặc cạnh số 1 (nghĩa là

số 4) Còn nếu khi đọc xong một số nào mà thấy đúng với mẫu cá mình đang định loại

thì tiếp tục đọc dòng dưới cho đến khi xác định được bộ hoặc họ của mẫu cá đó

3 Khoá tra đến bộ của tổng lớp cá (Pisces) ở Việt Nam

1 (4) Da trần hoặc phủ bởi vảy tấm Không có xương nắp mang che buồng mang Có từ

5 - 7 đôi khe mang thông thẳng ra ngoài

LỚP CÁ SỤN - CHONDRICHTHYES

2(3) Khe mang nằm ở hai bên đầu Thân thuôn dài, mõm nhọn, viền vây ngực không liền với mõm

Bộ cá Nhám - Carcharhiniformes

3(2) Khe mang nằm ở mặt bụng của đầu Thân dẹp theo hướng lưng bụng hoặc ít ra là

có phần đầu như thế Viền trước vây ngực gắn liền với mõm

Bộ cá Đuối - Rajiformes

Trang 15

4(1) Da trần hoặc phủ bởi vảy tròn hay vảy lược Có xương nắp mang che buồng mang

LỚP CÁ XƯƠNG - OSTEICHTHYES

5(30) Cơ thể đối xứng 2 bên Mắt nằm về 2 phía của đầu

6(13) Thân ít nhiều có dạng hình trụ hoặc dài dạng rắn Nếu không phải như thế thì có vây lưng thứ nhất nằm lùi về nửa sau của cơ thể gần sát với vây đuôi

7(8) Có 2 vây lưng, vây lưng trước ngay trên đầu và biến thành giác bám

Bộ cá Ép - Echeneiformes

8(7) Có 1 vây lưng, không có giác bám trên đầu

9(10) Vây lưng có rất nhiều gai mọc tự do ở phía trước, môi trên kéo dài thành vòi hoặc vây lưng và vây hậu môn giảm nhỏ dạng nếp da mỏng liền với vây đuôi

Bộ cá Mang liền - Synbranchiformes

10(9) Vây lưng không có gai mọc phía trước Môi trên không biến thành vòi

11(12) Có vây bụng Có vây ngực Các vây lưng và vây hậu môn nằm lùi về phía sau cơ

thể Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn không nối liền nhau Cơ thể thon dài

Bộ cá Nhái (cá Nhói) - Beloniformes

12(11) Thiếu vây bụng Vây ngực có thể có hoặc có thể không Vây lưng nằm lùi về

phía trước cơ thể hoặc ít nhất cũng từ giữa thân trở về phía đầu Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn nối liền nhau Cơ thể dài dạng rắn

Bộ cá Chình - Anguilliformes

13(6) Thân có dạng cá hoặc dạng khác, song không phải là dạng rắn Có vây lưng (thứ nhất) nằm ở giữa hoặc nửa trước cơ thể hoặc nằm lùi về phía sau cách xa vây đuôi

14(25) Vây bụng có thể có hoặc có thể thiếu Nếu có thì nằm ở phần chính giữa hoặc

gần chính giữa của bụng, cách xa vây ngực

15(18) Miệng nhỏ, thân trần, da có gai hoặc được phủ bởi những tấm xương bì

16(17) Mũi kéo dài thành ống, mõm và đầu kéo dài giống đầu ngựa

20(19) Hàm có răng Không có răng hầu

21(22) Thân trần, không phủ vảy

Trang 16

26(27) Các vây lưng, vây hậu môn, vây ngực không có tia vây phân nhánh

Bộ cá Dây - Zeiformes

27(26) Các vây lưng, vây hậu môn, vây ngực có tia vây phân nhánh

28(29) Thân trần, không phủ vảy

Bộ cá Lưỡi dong - Lophiiformes

29(28) Thân có phủ vảy Vây lưng thứ nhất có ít nhất 4 tia đơn trở lên

Bộ cá Vược - Perciformes

30(5) Cơ thể mất đối xứng Hai mắt nằm về một phía của đầu

Bộ cá Bơn - Pleuronectiformes

Trang 17

BÀI 3 & 4 GIẢI PHẪU, NGHIÊN CỨU CÁ LÓC ĐỒNG

I MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU THỰC HÀNH

- Rèn luyện kĩ năng vẽ hình chính xác, cân đối và đẹp các chi tiết cấu tạo trên mẫu vật

thật, tiêu bản hiển vi ứng với kiến thức đã học

2 Yêu cầu thực hành

a Giải phẫu và trình bày mẫu mổ

- Không làm thủng, rách, đứt các bộ phận được giải phẫu và những nội quan nằm bên dưới hay bên cạnh; đảm bảo mối liên hệ về mặt vị trí tự nhiên, mối liên hệ cấu tạo đối với các bộ phận khác có liên quan

- Trình bày mẫu mổ được đẹp, các nội quan được rõ; thấy được các mối quan hệ giữa các bộ phận của một nội quan mà không làm che lấp những nội quan khác

b Quan sát

- Cấu tạo ngoài: xác định tên, vị trí, phân biệt và mô tả các bộ phận thuộc các phần đầu,

thân và đuôi của cá Lóc

- Cấu tạo trong: xác định tên, vị trí, phân biệt và mô tả các bộ phận thuộc các hệ tiêu

hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ thần kinh (chỉ quan sát não bộ) và bong bóng bơi của cá Lóc

- Lưu ý đến những đặc điểm thích nghi với đời sống ở dưới nước

- Cần phân biệt những đặc điểm riêng chỉ có ở cá Lóc

c Vẽ hình

Dựa trên cơ sở mẫu vật đã mổ, vẽ hình và ghi chú thích đầy đủ:

- Cấu tạo ngoài của cá Lóc

- Các giai đoạn thực hiện giải phẫu cá Lóc

- Hệ cơ quan cá Lóc tại vị trí ban đầu

- Cấu tạo trong của cá Lóc: hệ tiêu hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục

- Hệ thần kinh: chỉ vẽ não bộ cá Lóc

II THIẾT BỊ, HOÁ CHẤT, HÌNH ẢNH VÀ MẪU VẬT

1 Thiết bị

Trang 18

- Bộ đồ mổ: dao mổ mũi nhọn, kéo mũi nhọn, kẹp, kềm bấm xương, kim mũi mác, kim mũi nhọn, đinh ghim (kim gút)

- Khay mổ, ván mổ (tấm mổ cao su)

- Hình vẽ cấu tạo ngoài của cá Lóc

- Hình vẽ các giai đoạn thực hiện giải phẫu cá Lóc

- Hình vẽ hệ cơ quan cá Lóc tại vị trí ban đầu

- Hình vẽ cấu tạo trong của cá Lóc: hệ tiêu hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ thần kinh

4 Mẫu vật

- Cá Lóc cần được mua trước, nên chọn con trưởng thành, cỡ 0,3 - 0,5 kg/con

- Một hoặc hai sinh viên giải phẫu 1 con

III VỊ TRÍ PHÂN LOẠI

- Loài: cá Lóc đồng Channa striata (Bloch, 1793)

Tên đồng vật (Synonym):

Ophicephalus striatus Bloch, 1793

- Giống: cá Lóc (cá Quả, cá Chuối) Channa Scopoli, 1777

- Họ: cá Lóc (cá Quả, cá Chuối) Channidae

- Phân bộ: cá Lóc (cá Quả, cá Chuối) Channoidei

Trang 19

- Cá Lóc đồng có cơ thể thuôn dài; da có nhiều tuyến nhầy, trơn nhớt; đỉnh đầu rộng,

hơi dẹp bằng (giống như đầu rắn), có phủ vảy tấm lớn Toàn thân được che chở bằng một lớp vảy xếp vòng như ngói lợp (vảy vòng - vảy cycloit)

- Cá có màu đen thẫm trên lưng, bụng trắng nhạt Bên hông có thể có những sọc đứng không đều và đứt quãng ở phía dưới Mặt bụng đôi khi lấm tấm các đốm đen nhỏ

- Các vây màu đen Vây lưng và vây hậu môn có thể có nhiều chấm đen xếp thành hàng

- Cơ thể được chia làm 3 phần: đầu, thân và đuôi (hình 3.1)

Hình 3.1 Cấu tạo ngoài của cá Lóc Channa striata (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

1 Đầu

- Đầu được giới hạn từ mút mõm đến hết bờ sau của xương nắp mang

- Đầu gắn liền với thân và bất động

- Trên đầu có một số lỗ nhỏ, sắp xếp theo qui luật

- Ở mút trước của đầu là miệng Miệng rộng, có thể co duỗi được, rạch miệng hơi xiên, kéo dài quá bờ sau ổ mắt; có hàm trên và hàm dưới, hàm dưới hơi nhô dài hơn hàm trên, hàm trên có 1 đôi râu nhỏ là cơ quan xúc giác

- Hàm trên và hàm dưới đều có răng nhỏ, nhọn, lởm chởm Ngoài ra, răng còn đính trên xương khẩu cái, xương lá mía

- 2 đôi lỗ mũi ngoài (2 lỗ đưa nước vào túi mũi và 2 lỗ nước ra) thông với xoang khứu giác (xoang mũi), vách túi mũi có nhiều chùm tận cùng của dây thần kinh khứu giác

Mũi chỉ làm nhiệm vụ khứu giác (không làm nhiệm vụ hô hấp)

- Mắt to, có thuỷ tinh thể hình cầu, lồi, có nhiều mạch huyết, không có mí và nằm ở mặt lưng của 2 bên đầu và quá về phía trước

- Sau mắt, ở 2 bên đầu là 2 nắp mang lớn, che 4 đôi cung mang và lá mang nằm trong buồng mang

Vây hậu môn Nắp mang

Vây ngực

Vây bụng Gai niệu sinh hậu môn Miệng

Lỗ mũi

Trang 20

+ Vây chẵn: 1 đôi vây ngực tròn, ở hai bên thân (dưới đỉnh nhọn của xương nắp

mang); 1 đôi vây bụng bé, ở hai bên bụng

+ Vây lẻ: 1 vây lưng dài đến gốc vây đuôi, dùng để bẻ lái khi bơi

- Mỗi bên thân có 1 đường bên không liên tục, bị gãy xuống 2 hàng vảy sau chóp vây

ngực, trước khởi điểm gốc vây hậu môn, do các vảy cảm giác tạo thành gọi là đường

cảm giác hay cơ quan đường bên Cơ quan đường bên là một đường ống chạy dọc

theo cơ thể, có lỗ mở ra ngoài để nước lưu thông, trên đường ống có những đám tế

bào cảm giác tạo thành các Neuromaste liên lạc với nhánh dây thần kinh số VII

- Gai niệu sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục trước khởi điểm vây hậu môn, là nơi đổ

chung ra của lỗ tiểu, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn

3 Đuôi

- Từ sau gai niệu sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục đến phần cuối của vây đuôi Đuôi dẹp bên

- Đuôi gồm có:

+ 1 vây hậu môn dài đến gốc vây đuôi

+ 1 vây đuôi song vĩ, cán đuôi dài, thuỳ chóp đuôi tròn, dùng để bẻ lái khi bơi

VI QUAN SÁT CẤU TẠO TRONG

1 Phương pháp giải phẫu

a Giai đoạn 1

- Dùng dao mổ hoặc kéo đánh bỏ lớp vảy

bụng từ gốc vây hậu môn (gần gai niệu

sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục) đánh

ngược hướng về phía trước đến khỏi ức

và đánh vảy hướng về phía sau dọc

theo vây hậu môn về phía bên phải của

- Cắt lớp màng da trắng nối hai nắp mang

theo đường số 1a (hình 3.2)

- Ghim ngửa cá xuống tấm cao su bằng

đinh ghim ở hai nắp mang và vây đuôi

(hình 3.3)

Hình 3.2 Cắt lớp màng da trắng nối hai nắp mang cá Lóc (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

b Giai đoạn 2

- Dùng kéo mũi nhọn bấm một đoạn ngang nhỏ ở điểm A cách gai niệu sinh hậu môn -

lỗ niệu sinh dục 1 cm (hình 3.3)

- Lấy nước vào khay, ngập mẫu vật 2 cm

- Từ A cắt thịt bụng hướng về phía trước theo đường số 2b lên đến điểm B, chóp thịt

nhọn của vùng ức (hình 3.3)

* Chú ý: Khi cắt ngang qua giữa 2 vây bụng, hãy cẩn thận đừng để mũi kéo chọc sâu

đâm thủng tim, mũi kéo phải luôn luôn hướng lên trên khi cắt

Trang 21

- Cắt xoang bao tim (màng trắng

bao bọc xung quanh tim)

- Cắt theo đường số 3c đến cách

cán đuôi 2 cm (hình 3.3)

- Ở phần cắt đường số 3c, phải

cắt vòng như hình 3.3, nửa

vòng này nằm ở bên phải của

cá, tâm điểm là gai niệu sinh

hậu môn - lỗ niệu sinh dục, bán

kính bằng 1 cm; vì ở vùng này

có bóng đái, bóng hơi, tuyến

sinh dục, không nên cắt phạm

- Tại điểm B (hình 3.3), cắt rời

- Kéo 2 miếng thịt nhọn hình tam

giác vừa cắt ghim lên tấm cao

nhưng còn nguyên thuỷ

✓ Miệng Hình 3.3 Đánh vảy và cắt thịt cá Lóc (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

- Hàm trên và hàm dưới có răng

nhỏ lởm chởm, răng chưa phân

hoá, hình dạng giống nhau, có

tác dụng giữ mồi, chưa có vai

trò tiêu hoá cơ học

- Trong hố miệng có lưỡi Lưỡi là

lưỡi giả, do khúc sụn gốc móng

phủ niêm mạc tạo thành Cơ

lưỡi không phát triển nên lưỡi

bất động hoặc cử động rất ít

Trên lưỡi chưa có chồi vị giác

để cảm nhận vị giác Hình 3.4 Cắt màng trắng dính giữa ống Cuvier và

thịt bụng cá Lóc (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

Trang 22

Hình 3.5 Hệ cơ quan cá Lóc tại vị trí ban đầu (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

Trang 23

- Vì cá Lóc là loài cá ăn thịt nên có dạ dày phân hoá rõ

- Dạ dày trắng to, nối với:

+ Hạ vị, là một đoạn ngắn

+ Tiếp theo, 2 manh tràng hạ vị (túi hạ vị) là 2 sợi dài nhọn đầu, có chức năng làm trung tính thức ăn trước khi chuyển xuống ruột, đồng thời cũng tham gia tiêu hoá và hấp thụ thức ăn

+ Cuối cùng là ruột tá (tá tràng)

✓ Ruột

- Vì cá Lóc là loài ăn động vật nên ruột ngắn

- Thành ruột có nhiều tuyến ruột, tiết dịch tiêu hoá

- Ruột là chặng đường tiêu hoá quan trọng vì đổ vào đây ngoài dịch ruột còn có thêm dịch mật và dịch tuỵ đều có vai trò tiêu hoá hoá học thức ăn

- Ruột cuộn lại thành nhiều khúc Ruột chưa phân hoá thành ruột non, ruột già, phần cuối phồng to là ruột thẳng, qua lỗ hậu môn riêng, rồi đổ ra ngoài qua lỗ huyệt

* Tuyến tiêu hoá

✓ Tuyến miệng: Trong miệng và cả thực quản có nhiều tuyến nhờn tiết chất nhờn

làm trơn thức ăn, dễ nuốt Các loài cá đều thiếu tuyến nước bọt

✓ Tuyến dạ dày: Tiết ra axit và pepsin, tiêu hoá hoá học thức ăn, axit có tác dụng

làm mềm và làm nở thức ăn, đồng thời kích thích pepsin hoạt động mạnh

✓ Tuyến gan: Gan là tuyến tiêu hoá lớn nhất, thường có màu vàng, phân thuỳ

Chức năng chính của gan là tiết mật Mật thường được tích trữ trong túi mật trước khi đổ vào ruột Túi mật màu xanh; ống chính dẫn mật ngắn (khó thấy) đổ mật vào ruột Mật có vai trò nhũ tương hoá mỡ giúp enzim lipase (lipaza) hoạt động dễ dàng Ngoài ra, mật còn kích thích nhu động ruột và làm tiệt trùng đường tiêu hoá Gan có vai trò rất quan trọng, nếu cắt đi cá sẽ chết nhanh chóng

✓ Tuyến tuỵ: Tuỵ tạng khuếch tán màu trắng, trong có lẫn chỉ máu màu đỏ, dọc

theo ruột tá (tá tràng) và ruột, có thể lẫn với thể mỡ màu trắng đục ở vùng này Tuỵ vẫn còn một phần phân tán trong gan Dịch tuỵ có ống dẫn đổ riêng vào ruột, ngay cạnh ống dẫn mật

✓ Tuyến ruột: Có dạng túi, xen kẽ trong lớp niêm mạc, chất tiết có tác dụng tiêu

hoá tiếp thức ăn từ dạ dày đưa xuống

b Hệ hô hấp

- Mang cá gồm 4 đôi cung mang nằm trong buồng mang (phòng mang), có xương nắp

mang che đậy Xương này không chỉ có ý nghĩa bảo vệ buồng mang mà quan trọng

hơn là trực tiếp thực hiện động tác hô hấp của cá

- Mỗi cung mang có lá mang và lược mang ở hai bên đầu Lá mang do rất nhiều sợi

mang xếp kề sít bên nhau tạo thành, nên lá mang có dạng như răng lược ken sít Từ các sợi mang lại mọc thêm nhiều sợi mang nhỏ trẽ ra 2 phía Do hình thành thêm nhiều sợi mang nhỏ mà diện tích trao đổi khí của mang tăng lên rất lớn

- Trong mang có mao mạch huyết đưa máu đến trao đổi oxi trong nước Ngoài chức

năng hô hấp, mang còn có vai trò bài tiết urê và ammoniac

- Ngoài cơ quan hô hấp chính thức là mang, cá Lóc còn có thêm cơ quan hô hấp phụ, đó

là những nếp da mỏng có nhiều mạch máu, có thể hô hấp được ở môi trường không khí nếu mang ẩm ướt Nhờ đó, cá Lóc khi bị đưa ra khỏi môi trường nước vẫn có khả năng sống trên cạn một thời gian lâu hơn cá Chép

Trang 24

Hình 3.6 Sơ đồ hệ tuần hoàn ở Cá xương (theo Matviep)

c Hệ tuần hoàn (hình 3.6)

- Là một hệ thống kín giống Cá sụn

* Tim gồm có 2 ngăn (1 tâm thất và 1 tâm nhĩ) và một số bộ phận khác:

+ 1 tâm nhĩ màu trắng hồng, có thành vách mỏng, ở mặt lưng của tim, có 1 đầu

thông với xoang tĩnh mạch, 1 đầu thông với tâm thất Xoang tĩnh mạch màu đỏ, hình ống hơi eo ở giữa (nếu đầy máu) 2 ống Cuvier màu đỏ thông với xoang

tĩnh mạch

+ 1 tâm thất màu đỏ, có thành vách dày, ở mặt bụng, nằm dưới tâm nhĩ, có 1 đầu

thông với tâm nhĩ và 1 đầu thông với bầu động mạch

* Hệ động mạch:

- Nếu côn động mạch rất phát triển ở Cá sụn (được xem như phần phụ, nối tiếp tâm thất,

có cấu tạo đặc biệt, thành côn có cơ, có khả năng co bóp tự động tống máu đi tiếp sau pha co tâm thất, làm tăng thêm lực đẩy máu đi và trong côn có nhiều van giữ cho máu

không dồn ngược lại tim) thì ở Cá xương (cá Lóc) côn động mạch tiêu giảm chỉ còn 1 đôi van (hình 79, trang 83-T.Tòng) và thay vào đó có 1 bầu động mạch (hành động mạch) rất phát triển, màu trắng, nằm ở phía trước của tâm thất Bầu động mạch không

có van và không có thành cơ nên không có khả năng co bóp đẩy máu đi như côn động

mạch Bầu động mạch là phần phình của gốc động mạch chủ bụng Tâm thất co bóp

tống máu đỏ thẫm (nghèo O2, giàu CO2) vào bầu động mạch, rồi vào động mạch chủ

bụng

- Nếu dùng kẹp nâng nhẹ động mạch chủ bụng thì ta sẽ thấy gốc các động mạch tới

mang Lần lượt gỡ theo các gốc đó ta sẽ thấy rõ 4 đôi động mạch tới mang dẫn máu đỏ

Trang 25

thẫm (nghèo O2, giàu CO2) tới mang để trao đổi khí Sau khi trao đổi khí ở mang (thải

CO2, nhận O2), máu trở nên đỏ tươi (giàu O2) theo 4 động mạch rời mang ở mỗi bên, tập trung máu đổ vào rễ động mạch chủ lưng ở mỗi bên Hai rễ động mạch chủ lưng nối với nhau cả phía trước và phía sau tạo thành vòng động mạch đầu (chỉ có ở Cá xương) Phía trước vòng động mạch đầu phát ra động mạch cảnh trong, động mạch

cảnh ngoài dẫn máu đến nuôi đầu Phía sau vòng động mạch đầu nối lại với nhau tạo

thành động mạch chủ lưng chạy xuôi dưới cột sống tới tận mút đuôi, phát nhiều nhánh

động mạch dẫn máu đi nuôi các chi (vây), thân, các nội quan và đuôi

* Hệ tĩnh mạch:

- Máu đỏ thẫm từ đuôi (nghèo O2, giàu CO2) đổ vào tĩnh mạch đuôi Tĩnh mạch đuôi

chia thành 2 nhánh:

+ 1 nhánh dẫn máu tới thận, phân thành 2 tĩnh mạch cửa thận (2 tĩnh mạch chậu)

và chỉ ở thận trái, tĩnh mạch cửa thận mới phân thành hệ gánh thận (phân thành

mạng mao mạch, hấp thụ lại các chất dịch từ vi thể thận tiết ra), còn ở thận phải tĩnh mạch cửa thận qua thận liên tục, không có hệ gánh thận (không phân thành

mạng mao mạch) Ra khỏi 2 thận là 2 tĩnh mạch chính sau, nhập chung với 2

tĩnh mạch dưới đòn (dẫn máu đỏ thẫm từ phía 2 vây ngực), rồi đổ máu vào 2 ống Cuvier, đến xoang tĩnh mạch, về tâm nhĩ

+ 1 nhánh dẫn máu đổ về gan, gặp tĩnh mạch ruột (nhận máu đỏ thẫm từ dạ dày, ruột, tì, tuỵ,…) nhập lại thành tĩnh mạch cửa gan, vào gan phân thành hệ gánh

gan, tại đây máu sẽ được lọc, gan giữ lại một số chất Sau đó, máu ra khỏi gan

tập trung vào tĩnh mạch gan (tĩnh mạch trên gan), rồi đổ máu vào xoang tĩnh

mạch

- Máu đỏ thẫm ở phía đầu theo 2 tĩnh mạch chính trước (tĩnh mạch cảnh) đổ về 2 ống

Cuvier, đến xoang tĩnh mạch, về tâm nhĩ

- Cá xương thiếu tĩnh mạch bên (có ở Cá sụn) nên máu ở chi sau (vây hậu môn, vây

- Thận (trung thận) màu đỏ (nâu thẫm) cặn rượu, nằm sát cột sống, chạy dọc thân, 2

thận dính vào nhau, tạo thành hình chữ Y

- 2 ống dẫn tiểu, ở vùng chót của thận, có lẫn chỉ máu màu đỏ, chập lại với nhau thành một trước khi đổ nước tiểu vào bóng đái (bàng quang) Bóng đái nhỏ, mỏng, có lỗ niệu thông với xoang niệu sinh dục, rồi thải ra ngoài qua gai niệu sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục

e Hệ sinh dục

- Khác với tất cả động vật có xương sống khác, hệ sinh dục Cá xương hoàn toàn không liên quan với hệ bài tiết Ống dẫn sinh dục không liên quan với ống dẫn niệu, lỗ sinh dục và lỗ niệu cũng tách biệt riêng

- Có 2 sinh tuyến màu đỏ hoặc màu hồng: 1 cái vắt chéo qua trên ruột; 1 cái nằm phía

dưới ruột

- Ở trạng thái trưởng thành:

+ Cá đực: có 2 sinh tuyến (dịch hoàn - tinh hoàn) lớn, dài, màu hồng, trong có

những hạt lấm tấm nhỏ là đầu của tinh trùng, tạo ra tinh trùng rồi đổ vào 2 ống

Trang 26

dẫn tinh (tinh quản) rất ngắn do phần cuối màng bao sinh tuyến thu nhỏ lại hình thành Hai ống dẫn tinh chập lại thành một trước khi đổ vào lỗ sinh dục trong xoang niệu sinh dục, rồi phóng ra ngoài qua gai niệu sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục đực

+ Cá cái: có 2 sinh tuyến (noãn sào - buồng trứng) lớn, dài, lúc còn non có màu

hồng, thời kì sinh sản có màu vàng, trong có những hạt to là những noãn cầu, tạo ra trứng rồi đổ vào 2 ống dẫn trứng (noãn quản) cũng rất ngắn do phần cuối màng bao sinh tuyến thu nhỏ lại hình thành Hai ống dẫn trứng chập lại thành một trước khi đổ vào lỗ sinh dục trong xoang niệu sinh dục, rồi phóng ra ngoài qua gai niệu sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục cái

- Cá xương không có cơ quan giao cấu như Cá sụn nên chúng thụ tinh ngoài Khi cá cái

đẻ trứng, cá đực bơi theo tưới tinh dịch thụ tinh cho trứng Trứng có thể đẻ rải rác hoặc thành từng đám, từng ổ, bám vào thực vật thuỷ sinh Đây là hình thức sinh sản còn nguyên thuỷ, không đảm bảo an toàn cho quá trình sinh sản, trứng không được bảo vệ, thường bị các động vật khác ăn mất Do đó số lượng trứng và tinh trùng của

Cá xương sản sinh ra rất lớn, buồng trứng thường có trên 100.000 trứng, một số loài như Cá trăng có trên 200 triệu trứng

- Bong bóng bơi là cơ quan giữ thăng bằng để giúp cá nổi lên mặt nước (khi túi phồng lên) hay để giúp cá lặn sâu dưới đáy (khi túi bị xẹp xuống) Ngoài ra, nó còn giúp điều chỉnh áp suất của nước với tỉ trọng của cá giúp cá di chuyển trong nước dễ dàng

- Khi ném chất nổ xuống nước, sức ép mạnh đột ngột, làm cho bong bóng bơi bể, cá chết nổi bụng lên mặt nước

* Chú ý: Tất cả các ống ruột, ống dẫn tiểu, ống sinh tuyến đều thông với gai niệu sinh

hậu môn - lỗ niệu sinh dục, do đó không được cắt các ống này rời khỏi gai niệu sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục

3 Cách tháo và trình bày riêng các hệ cơ quan

a Cách tháo

* Chú ý: Phần tận cùng của các hệ cơ quan như hệ tiêu hoá, hệ bài tiết và hệ sinh dục

phải để dính liền với gai niệu sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục

- Tách tuyến sinh dục (sinh tuyến) nằm vắt chéo trên ruột

- Rút kéo 2 manh tràng hạ vị nằm sát bìa phải ruột, không cho dính vào ruột, chỉ dính ở đầu dạ dày

- Gỡ mỡ khỏi ruột và tháo thẳng ruột, bắt đầu từ hậu môn lên đến dạ dày, khi cách dạ dày 5 cm lưu ý giữ mỡ phía trên này vì có lẫn mỡ với tuỵ tạng khuẾch tán

- Cắt màng trắng trên gan, kéo nhẹ gan xuống để thấy ống thực quản trắng ở bên dưới Cắt đứt thực quản để đem khối ruột tách khỏi thân cá, đầu ruột kia vẫn còn dính với gai niệu sinh hậu môn - lỗ niệu sinh dục

- Gỡ gan khỏi dạ dày để gan dính với ruột tá (tá tràng), nơi có túi mật, theo ống dẫn mật ngắn đổ vào ruột tá (tá tràng)

- Tì tạng giữ nguyên vị trí ban đầu

Trang 27

- Tuỵ tạng khu Ếch tán cũng dính vào ruột tá (tá tràng)

- Kéo nhẹ bóng bơi về phía đuôi để tách bóng bơi rời khỏi thận

* Chú ý: Tách khéo để không làm đứt ống dẫn tiểu

- Có 2 trường hợp:

+ Ống dẫn tiểu gắn vào thận ở phía trái của thận, ta chỉ cắt mỡ và màng mỏng quanh bóng bơi, rồi kéo bóng bơi về phía đuôi, ngón tay trỏ giữ chặt ống dẫn tiểu dính vào thận

+ Ống dẫn tiểu vắt ngang qua bóng bơi gắn vào phía phải của thận Trong trường hợp này, ta cắt màng dính chung quanh ống dẫn tiểu (thường có chỉ máu đỏ nằm trên ống dẫn tiểu) và bóng bơi, rồi luồn bóng bơi rút ra khỏi vùng có ống dẫn tiểu vắt ngang, làm thế nào để đầu dưới của bóng bơi dính vào đuôi cá Ghim đầu trên của bóng bơi vào tấm cao su

b Trình bày riêng các hệ cơ quan

Trình bày riêng các hệ cơ quan như: hệ tiêu hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục và một số cơ quan khác (tì tạng, bóng bơi) (hình 3.7)

Trang 28

Hình 3.7 Cấu tạo trong của cá Lóc (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

4 Giải phẫu và quan sát hệ thần kinh

Chỉ tiến hành giải phẫu và quan sát não bộ

a Giải phẫu

- Sau khi quan sát xong các nội quan, tiến hành cắt bỏ hết các nội quan vừa quan sát ở trên, tháo các kim gút, đổ nước trong khay mổ, rửa sạch cá, rồi tiến hành mổ não Dùng kềm bấm xương cắt 2 xương nắp mang ở bờ ngoài của ổ mắt (không cắt mất mắt), rồi lách kềm vào các hốc mắt, lần lượt bấm các xương ở vùng trán ngược về phía sau Sau khi bóc được các xương ở nóc sọ, sẽ thấy 1 lớp mỡ bao phủ bộ não

Trang 29

- Dùng kim mũi mác gạt thật nhẹ lớp mỡ này để bộ não lộ rõ

- Khi thấy não bắt đầu lộ ra, tiếp tục dùng kềm cắt bỏ hết các xương ở 2 bên não và giải phẫu tiếp về phía sau để lộ phần đầu của tuỷ sống

- Khi đã để lộ ra đủ các phần của não và một phần của tuỷ sống, thì dùng bông gòn thấm một ít cồn 900 nhỏ vài giọt vào não để não co lại không bị nát và tiến hành quan sát não ở mặt trên

- Sau khi quan sát não ở mặt trên, cắt đứt tuỷ sống, cắt đứt các dây thần kinh nhưng không cắt đứt đôi dây thần kinh thị giác khỏi 2 mắt, nghiêng đầu cá xuống dưới, dùng kim mũi nhọn luồn vào phía dưới tuỷ sống khẽ gạt úp não ra khỏi hộp sọ, bỏ não vào đĩa petri (hoặc đĩa đồng hồ) có nước để quan sát mặt dưới não

b Quan sát não bộ (hình 3.8)

* Mặt trên não

- Não trước: gồm 2 bán cầu não, có khối lượng nhỏ hơn so với Cá sụn Phía trước 2 bán

cầu não là 2 thuỳ khứu giác Từ 2 thuỳ này, xuất phát 2 dây thần kinh khứu giác chạy

đến 2 mũi Ở Cá xương, nóc não chưa có các nơron thần kinh như Cá sụn mà mới chỉ

là màng biểu mô, thiếu vách ngăn buồng não, nên buồng não I và buồng não II còn

thông với nhau Thuỳ khứu giác chưa phân hoá rõ

- Não trung gian: nằm ở phía sau hai bán cầu não Ở mặt lưng não trung gian chỉ thấy

mấu não trên nằm ngay chính giữa (dễ bị mất khi gạt bỏ mô mỡ) Còn các phần khác đều bị bán cầu não, não giữa và tiểu não che khuất

- Não giữa: là 2 thuỳ thị giác (mấu não sinh đôi) lớn bị đẩy sang hai bên Ở cá Chép,

xen giữa chúng là các van tiểu não Các thuỳ thị giác lớn liên quan tới sự phát triển của thị giác Chúng giữ vai trò quan trọng trong việc bắt mồi

- Não sau (tiểu não): rất phát triển, lớn hơn cả não giữa Ở cá Chép chúng phát triển cả

vào trong lòng não giữa Còn ở cá Trê, một phần tiểu não phủ lên một phần não giữa Tiểu não giữ vai trò quan trọng trong việc giữ thăng bằng của cá

- Não tuỷ (hành tuỷ): ở cá Chép phát triển lớn thành 3 thuỳ: chính giữa là thuỳ mặt, hai

thuỳ mê tẩu to hơn thuỳ mặt, nằm hai bên Cả hai thuỳ đều bị tiểu não che lấp một phần Ở cá Lóc và cá Trê, hành tuỷ không phân thuỳ

* Mặt dưới não:

- Khác với mặt trên, ở mặt dưới ta nhìn thấy não trung gian nổi rõ

- Từ đây xuất phát đôi dây thần kinh thị giác bắt chéo tạo thành giao thoa thị giác, phân nhánh vào nhãn cầu

- Dưới giao thoa thị giác, ở chính giữa là phểu não, tuyến yên và túi mạch, hai bên là thuỳ dưới não trung gian, tiếp đến là hành tuỷ lớn che khuất tiểu não và các phần của mặt trên ở cùng vị trí

Trang 30

BÀI 5 GIẢI PHẪU, NGHIÊN CỨU ẾCH ĐỒNG

I MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU THỰC HÀNH

- So sánh được những đặc điểm tiến hoá hơn của Ếch đồng nói riêng và lớp Lưỡng cư nói chung so với lớp Cá sụn, Cá xương

- Củng cố và đào sâu các kiến thức đã học ở phần lí thuyết

- Rèn luyện kĩ năng vẽ hình chính xác, cân đối và đẹp các chi tiết cấu tạo trên mẫu vật

thật, tiêu bản hiển vi ứng với kiến thức đã học

2 Yêu cầu thực hành

a Giải phẫu và trình bày mẫu mổ

- Không làm thủng, rách, đứt các bộ phận được giải phẫu và những nội quan nằm bên dưới hay bên cạnh; đảm bảo mối liên hệ về mặt vị trí tự nhiên, mối liên hệ cấu tạo đối với các bộ phận khác có liên quan

- Trình bày mẫu mổ được đẹp, các nội quan được rõ; thấy được các mối quan hệ giữa các bộ phận của một nội quan mà không làm che lấp những nội quan khác

b Quan sát

- Cấu tạo ngoài: xác định tên, vị trí, phân biệt và mô tả các bộ phận thuộc các phần đầu,

thân và các chi của Ếch đồng

- Cấu tạo trong: xác định tên, vị trí, phân biệt và mô tả các bộ phận thuộc các hệ tiêu

hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục, hệ thần kinh (chỉ quan sát não bộ) của Ếch đồng

- Lưu ý đến những đặc điểm thích nghi với đời sống vừa ở dưới nước vừa ở trên cạn

- Cần phân biệt những đặc điểm riêng chỉ có ở Ếch đồng

c Vẽ hình

Dựa trên cơ sở mẫu vật đã mổ, vẽ hình và ghi chú thích đầy đủ:

- Vị trí hủy tuỷ của Ếch đồng

- Cấu tạo ngoài của Ếch đồng

Trang 31

- Chi trước và túi kêu của Ếch đực

- Cấu tạo xoang miệng của Ếch đực

- Cấu tạo da Ếch để nguyên

- Vị trí cắt da của Ếch đồng

- Vị trí cắt thịt, xương của Ếch đồng

- Hệ cơ quan Ếch đồng tại vị trí ban đầu

- Cấu tạo trong Ếch đồng: hệ tiêu hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục

- Sơ đồ hệ tuần hoàn: tim, hệ động mạch, hệ tĩnh mạch

- Hệ thầnh kinh: não Ếch đồng nhìn mặt trên và mặt dưới

II THIẾT BỊ, HOÁ CHẤT, HÌNH ẢNH VÀ MẪU VẬT

- Hình vẽ vị trí hủy tuỷ của Ếch đồng

- Hình vẽ cấu tạo ngoài của Ếch đồng

- Hình vẽ chi trước và túi kêu của Ếch đực

- Hình vẽ cấu tạo xoang miệng của Ếch đực và Ếch cái

- Hình vẽ cấu tạo da Ếch để nguyên

- Hình vẽ vị trí cắt da của Ếch đồng

- Hình vẽ vị trí cắt thịt, xương của Ếch đồng

- Hình vẽ hệ cơ quan Ếch đồng tại vị trí ban đầu

- Hình vẽ cấu tạo trong của Ếch đồng: hệ tiêu hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết,

hệ sinh dục

- Hình vẽ hệ bài tiết và hệ sinh dục của Ếch đực và Ếch cái

- Hình vẽ hệ tuần hoàn: tim, hệ động mạch, hệ tĩnh mạch

- Hình vẽ não Ếch đồng nhìn từ mặt trên và mặt dưới

4 Mẫu vật

- Ếch đồng cần được mua trước, nên chọn con trưởng thành, có cả đực và cái, nhốt trong túi vải, túi lưới, bao tải, hoặc thùng Chú ý cần giữ ẩm cho Ếch bằng cách các dụng cụ đựng phải luôn luôn ẩm ướt; không nhốt Ếch quá chặt, cần phải có một khoảng trống cho Ếch hoạt động

- Một hoặc hai sinh viên giải phẫu 1 con Ếch đồng còn sống

Trang 32

III VỊ TRÍ PHÂN LOẠI

- Loài: Ếch đồng Hoplobatrachus rugulosus (Wiegmann, 1835)

Tên đồng vật (Synonym):

Rana tigrina rugulosa Wiegmann, 1835 Rana rugulosa Wiegmann, 1835

Limnonectes (Hoplobatrachus) rugolosus

- Giống: Ếch đồng Hoplobatrachus Peters, 1863

- Họ: Ếch nhái (Ếch chính thức) Ranidae

- Phân bộ: Lõm khác Diplasiocoela hay Ếch nhái mới Neobatrachia

- Bộ: Lưỡng cư không đuôi Anura hay Ecaudata

- Lớp: Lưỡng cư (Lưỡng thê) Amphibia hay Batrachia

ra che khuất não khó thấy

- Cách hủy: đặt Ếch nằm sấp trong lòng bàn tay, ngón

tay trỏ khẽ kéo đầu Ếch gập về phía bụng Tay còn

lại, dùng kim mũi nhọn dò tìm nơi tiếp giáp giữa

xương đầu và đốt sống cổ - điểm A (A là đỉnh của

tam giác đều mà đáy là đường nối 2 bờ sau của mắt

Ếch) Ấn kim sâu 3 - 5 mm vào vị trí của điểm A

xoay vòng kim qua lại vài vòng rồi đẩy mũi kim dọc

ống tuỷ sống xuôi về phía dọc xương sống khoảng 3

- 4 cm, xoay nhiều lần cây kim chọc tuỷ, khi thấy

Ếch như mềm ra, 2 chi sau buông thỏng (khẽ lắc

không thấy chi co lên) là được Nếu Ếch còn tự co

chi sau lên được thì phải chọc lại (hình 5.1) Hình 5.1 Vị trí hủy tuỷ Ếch đồng (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

V QUAN SÁT CẤU TẠO NGOÀI

Ếch đồng không có đuôi, đầu không phân biệt hẳn với thân vì cổ không rõ ràng, thân ngắn

và rộng, cơ thể được chia làm 3 phần (hình 5.2a, hình 5.2b):

1 Đầu

Trang 33

a Bên ngoài

- Từ mút mõm đến khớp giữa sọ và đốt sống đầu tiên

- Đầu tương đối dẹp và rộng, cử động được theo chiều lên xuống

- Miệng rộng đến mang tai, luôn khép kín vì liên quan đến cơ chế hô hấp của Ếch

- Gần mút mõm có 2 lỗ mũi

ngoài nhỏ, bên trong hốc

mũi có van mũi luôn đóng

mở khi Ếch thở, ứng với

nhịp nâng lên hạ xuống của

thềm miệng

- Mắt lớn và lồi, có 3 mí: mí

trên, mí dưới và màng nháy

Khi nhắm, mí trên che hết

phần ngoài của cầu mắt

- Giữa 2 mắt có 1 chấm nhỏ

màu sáng là cơ quan đỉnh

- Màng nhĩ ở phía sau mắt,

hình tròn che phía ngoài

xoang tai giữa; Ếch chưa có

lỗ tai ngoài Hình 5.2a Cấu tạo ngoài của Ếch đồng (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

Hình 5.2b Cấu tạo ngoài của Ếch (theo Charles F Lytle, 1998)

* Ở trường hợp con đực, mặt ngoài của góc hàm

dưới (nơi gần mép miệng) hai bên có màng mỏng

gọi là túi kêu, giữ vai trò cộng hưởng, làm tiếng kêu

to và vang xa hơn so với Ếch cái (con cái không có

túi này) Vào mùa sinh sản (đầu hè), túi kêu là phần

da nhăn nheo, phồng to và rõ hơn (hình 5.3)

b Xoang miệng (hình 5.4, hình 5.5) Hình 5.3 Túi kêu ở Ếch đực

Trang 34

Dùng cán dao mổ tách hàm dưới khỏi hàm trên và lấy ngón tay trỏ giữ chặt lấy hàm dưới cho miệng mở rộng ra sẽ thấy:

- Hàm trên: trên rìa xương hàm có đính nhiều răng nhỏ, đỉnh răng hướng vào trong để

giữ mồi, 2 hàng răng xương lá mía trước 2 lỗ mũi trong (thông với 2 lỗ mũi ngoài),

dùng kim gạt nhẹ hoặc dùng ngón tay sờ vào sẽ cảm nhận được Dùng kẹp nhổ lấy 1 chiếc răng hàm trên, để trên lam kính, rồi quan sát dưới kính lúp 2 mắt hoặc kính hiển

vi ở vật kính 4X

+ 2 khối cầu của nhỡn cầu (cầu mắt) lộ vào trong có thể sử dụng trong sự nuốt mồi

bằng cách thụt vào xoang miệng để đẩy thức ăn vào thực quản

+ Gần thực quản có 2 lỗ Eustache Dùng kim mũi nhọn chọc nhẹ vào lỗ Eustache

thấy thông xoang miệng với xoang tai giữa, qua lỗ này có thể nhìn thấy mặt trong của màng nhĩ

+ Giữa 2 lỗ Eustache là lối dẫn vào thực quản Thực quản nằm sau khe thanh quản

- Hàm dưới: không có răng, thềm miệng có lưỡi mềm, màu trắng, dính và luôn gập vào

phía trong họng, dùng để bắt mồi Dùng kim mũi nhọn gạt đầu lưỡi ra để thấy gốc lưỡi

có 1 đầu đính vào phần ngoài của thềm miệng, 1đầu tự do, đầu lưỡi chẻ đôi hình chữ

V nông

- Phía trong sau lưỡi có khe thanh quản hẹp (khí môn) được đậy bởi 2 sụn hạt cau Khi

Ếch còn sống, khe thanh quản luôn đóng mở theo nhịp thở và thường thấy bọt khí bị đẩy từ trong ra Dùng kim mũi mác luồn vào khe thanh quản rồi xoay ngang kim sẽ thấy rõ lỗ thanh quản hơn

- Ở con đực, góc hàm dưới có 2 lỗ nhỏ thông với túi kêu

Hình 5.4 Cấu tạo xoang miệng Ếch đực

(theo Trần Thanh Tòng, 2000) Hình 5.5 Cấu tạo xoang miệng Ếch cái

(theo Charles F Lytle, 1998)

2 Thân

- Ngắn, được phủ bởi da trần, luôn ẩm ướt, có nhiều chất nhầy Mặt lưng màu sẫm, có

những gờ dọc ngắn, những mảng màu hoặc những chấm hoa văn Mặt bụng, da có màu sáng trắng nhiều hơn Da Ếch không gắn chặt vào cơ thể hoàn toàn mà chỉ dính ở

những chỗ nhất định tạo thành những túi nhỏ (túi bạch huyết)

- Do Ếch không có xương sườn, nên hai bên thân và bụng mềm

- Cuối thân là lỗ huyệt Lỗ huyệt nằm thiên về phía lưng, là nơi thoát của phân (chất thải

từ ống tiêu hoá), nước tiểu (chất thải từ cơ quan bài tiết), tinh trùng hoặc trứng (sản phẩm của cơ quan sinh dục) (hình 5.2a)

* Quan sát cấu tạo da Ếch

Lỗ mũi trong Răng hàm

Răng xương lá mía Cầu mắt (bên trong)

Lỗ Eustache

Lối vào thực quản

Lưỡi

Trang 35

- Dùng kéo cắt 1 miếng da nhỏ ở phần lưng Ếch, đặt miếng da đó lên lam kính sao cho mặt trên của da nằm ở phía trên, dùng kim mũi nhọn dàn đều miếng da, rồi quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính 4X, 10X và 40X

- Dưới vật kính 40X ta thấy rõ da Ếch để nguyên gồm có các tế bào (hình 5.6):

+ Tế bào biểu bì: hình đa giác xếp

cạnh nhau

+ Tế bào sắc tố: là những tế bào

phân nhánh có chứa sắc tố, khi các

tế bào này co giãn sẽ làm cho da

Ếch đổi màu

+ Tế bào tiết chất nhầy: dạng hình

cầu, làm cho da luôn luôn ẩm ướt,

đóng vai trò quan trọng trong sự

hô hấp của da Hình 5.6 Cấu tạo da Ếch để nguyên (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

3 Chi

- 2 chi trước ngắn và nhỏ, chỉ dùng để đỡ phần trước cơ thể kể cả khi nhảy; gồm các

phần: cánh tay, ống tay, cổ - bàn (ranh giới giữa phần cổ tay và bàn tay khó phân

biệt) Có 4 ngón rời, đầu ngón tù, màng bơi không phát triển Khi Ếch ngồi, đầu ngón hơi hướng vào bên trong và phía trước Ở Ếch đực, gốc ngón cái phình to gọi là “chai

tay”, phát triển trong mùa sinh sản, dùng để giữ chặt Ếch cái khi giao hợp (Ếch cái không có chai này) (hình 5.7)

- 2 chi sau dài, to, khoẻ hơn hẳn 2 chi trước,

thường xếp hình chữ Z để tạo đà bật khi Ếch

nhảy hoặc bơi Chi sau gồm: phần đùi lớn, phần

ống chân dài, cổ chân, phân biệt rõ với bàn

chân Có 5 ngón chân, mỗi ngón có từ 2 đến 4

đốt dài, có màng bơi dính liền giữa các ngón

tạo thành chân bơi (màng chỉ phủ nửa ngón

chân) Mặt dưới ngón có các u khớp Chi của

Ếch mang đặc điểm chung của chi động vật có

xương sống ở cạn, đồng thời thích nghi với

kiểu vận chuyển nhảy (hình 5.2b) (theo Trần Thanh Tòng, 2000) Hình 5.7 Chi trước Ếch đực

TB biểu bì

TB sắc tố

TB tiết chất nhầy

Chai tay

Trang 36

VI QUAN SÁT CẤU TẠO TRONG

1 Phương pháp giải phẫu

a Cắt da và quan sát

- Đặt Ếch nằm ngửa trên khay mổ, kéo thẳng

2 chi trước và 2 chi sau, rồi ghim chặt 4

bàn chân xướng tấm cao su trong khay mổ

(hình 5.8)

- Đổ nước ngập con Ếch để giải phẫu lộ rõ

các nội quan bên trong

- Một tay dùng kẹp nâng da bụng ở phần

trước lỗ huyệt (điểm B), tay còn lại dùng

kéo cắt thủng da bụng

- Một tay luồn mũi kéo vào khoảng giữa lớp

da và lớp cơ ở điểm B, tay còn lại dùng

kẹp, kẹp lớp da lên, cắt da theo các đường

1, 2 và 3 (hình 5.8)

* Chú ý: luôn luôn hướng mũi kéo lên trên

trong khi cắt da

Hình 5.8 Vị trí cắt da Ếch đồng (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

- Khoảng trống giữa da và cơ là vị trí của các

túi bạch huyết, ranh giới các túi được xác

định bởi những đường da nối trực tiếp với

cơ (hình 5.9)

- Lật mặt trong của da Ếch lên ta thấy có rất

nhiều mạch máu nhỏ, màu đỏ, phân nhánh

- Dùng kéo cắt bỏ phần cơ bụng theo đường

ABC (hình 5.10), điểm A cách huyệt 1,5 -

2 cm Chú ý luôn luôn hướng mũi kéo lên

trên trong khi cắt để không đâm thủng các

cơ quan bên dưới

- Cắt bỏ cơ ngực và xương theo đường BD,

CE, DE (hình 5.10)

Hình 5.9 Sự sắp xếp các túi bạch huyết ở

Ếch đồng (theo Trần Hồng Việt và CS, 2004 )

A Nhìn trên B Nhìn dưới

Trang 37

- Khi thấy rõ bàng quang, cắt bỏ phần cơ còn

lại ở đỉnh hướng về phía huyệt

2 Quan sát hệ cơ quan tại vị trí ban đầu

(hình 5.11)

- Tim: nằm trong bao tim (ở chính giữa

ngực), bao tim màu ánh bạc Thường sau

khi mổ tim vẫn còn đập

- Phổi: màu hồng, nhọn ở chóp, nằm ở hai

bên tim, sát xương sống, trong phổi có

nhiều ô nhỏ hình tổ ong

- Gan: màu nâu thẫm hay hơi vàng, nằm ở

bên phải dạ dày, chia làm 3 thuỳ; thuỳ giữa

nhỏ chứa túi mật màu xanh đen, ống dẫn

mật đổ vào đầu ruột non

Hình 5.10 Vị trí cắt thịt, xương Ếch đồng (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

- Dạ dày: nằm dưới thuỳ gan trái, màu trắng, hơi cong, nối liền với ruột tá (tá tràng)

- Tuỵ tạng: màu trắng hoặc vàng đất, nằm cạnh ruột tá (tá tràng), dính với ống dẫn mật

ở vùng ruột tá (tá tràng), gồm nhiều thuỳ có ống dẫn đổ vào ruột non

- Tì tạng: có các hạt màu đỏ, dính với ruột tá (tá tràng)

- Ống dẫn tiểu (ống Vôn - Wolff): màu trắng, thành ống mỏng, chạy ven bờ ngoài của

mỗi thận, đổ vào xoang huyệt theo lỗ riêng

- Tuyến trên thận (tuyến thượng thận): là 1 dải vàng cam hoặc trắng ngà, nằm ngoằn

ngoèo trên quả thận

- Hệ sinh dục của Ếch:

+ Ếch đực: tinh hoàn (dịch hoàn) hình

quả trứng, dài khoảng 1 cm, màu

vàng nhạt hoặc trắng ngà, nằm trên

quả thận, chứa tinh dịch

* Chú ý: ở con đực ống dẫn tinh

không thấy vì tinh dịch và nước

tiểu đổ chung vào ống dẫn niệu -

sinh dục

+ Ếch cái: buồng trứng (noãn sào)

chứa nhiều trứng có dạng hạt, kích

thước và màu sắc của chúng tuỳ theo

lứa tuổi và tuỳ theo mùa, túi màu

vàng xanh ở Ếch non, túi chứa nhiều

trứng màu trắng đen ở Ếch trưởng

thành Ống dẫn trứng lớn, màu trắng,

dài ngoằn ngoèo, phần đầu ống dẫn

trứng là vòi Fallope, ở gần phổi, cuối

ống đổ vào huyệt Hình 5.11 Hệ cơ quan Ếch đồng tại vị trí ban đầu (theo Trần Thanh Tòng, 2000)

Trang 38

- Thể mỡ: phía trên tinh hoàn (dịch hoàn) hoặc buồng trứng (noãn sào) có thể mỡ màu

vàng hoặc trắng ngà, có tua hình ngón tay hoặc hình búi, gồm nhiều dải ngắn kích thước khác nhau, khối lượng và màu sắc cũng thay đổi theo mùa Mùa sinh sản thể mỡ teo lại, có màu vàng thẫm, ngoài mùa sinh sản thể mỡ lớn, chứa nhiều chất dự trữ

3 Cách tháo và trình bày riêng các hệ cơ quan

a Cách tháo

- Một tay dùng kẹp, kẹp vào bao tim ở phầm mỏm của tâm thất, nâng nhẹ lên, lợi dụng

khi tâm thất co lại thì tay còn lại dùng kéo mũi nhọn cắt thủng màng bao tim Dùng kim mũi nhọn và kéo cắt bỏ màng bao tim để thấy rõ tim

- Sau khi quan sát xong hệ tuần hoàn, dùng kéo cắt đứt mạch máu giữa tim và gan

- Cắt đứt mạch máu giữa gan và thận

- Tì tạng (lá lách) có các hạt màu đỏ, là cơ quan tạo huyết cầu, nằm gần với gan và tuỵ

tạng, dính với tá tràng, không thuộc hệ tiêu hoá, cũng để tại vị trí lúc ban đầu của nó

(không cắt rời tì tạng với tá tràng)

- Tháo dọc theo ống tiêu hoá và các cơ quan bên dưới dạ dày từ ruột thẳng (trực tràng) tới cách tá tràng 5 cm thì dừng lại

- Rạch đứt lớp da trắng ở vòm miệng (hàm trên) dưới 2 lỗ Eustache, làm cho thực quản

không gắn với hàm trên Cắt 2 mép miệng để hàm dưới không gắn với hàm trên

- Đem hàm dưới ra khỏi hàm trên: tim, phổi, ống tiêu hoá dính với hàm dưới để bên tay

phải người quan sát (Chú ý: tì tạng dính với vùng dưới của tá tràng)

- Tách rời gan khỏi dạ dày, chỉ để dính với ruột tá (tá tràng) bằng ống chính dẫn mật

- Để tuỵ tạng cùng dính với ống chính dẫn mật ở ruột tá (tá tràng)

- Dùng dao mổ chẻ đôi xương tiếp hợp đai mông để thấy rõ huyệt

- Hệ niệu sinh dục để nguyên ở vị trí ban đầu

b Trình bày riêng các hệ cơ quan

Trình bày riêng các hệ cơ quan như: hệ tiêu hoá, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ sinh dục (hình 5.12, hình 5.13)

Trang 39

4 Quan sát chi tiết các hệ cơ quan

a Hệ tiêu hoá

* Ống tiêu hoá: cũng chia thành 5 phần như Cá sụn, Cá xương

✓ Miệng

- Khe miệng rộng dẫn tới một khoang miệng lớn giúp cho con vật có thể đớp và nuốt

được mồi to

- Răng nhỏ, hình nón, có đỉnh hướng về phía sau, được gắn trên xương trước hàm

(xương gian hàm), xương hàm trên và trên xương khẩu cái hoặc xương lá mía (riêng ở lớp Lưỡng cư mới có xương là mía) Hàm dưới không có răng Răng giống nhau (lớp men ở ngoài, lớp ngà ở dưới), khi gãy được thay thế bằng răng khác và chỉ có vai trò giữ mồi trước khi nuốt

- Nhỡn cầu (cầu mắt) rất lớn, nằm trong ổ mắt, chỉ ngăn cách với xoang miệng bằng

một màng nhầy mỏng Nhỡn cầu cũng có vai trò trong động tác nuốt thức ăn Nhỡn cầu có một hệ cơ riêng nên khi Ếch nuốt mồi, nhờ sự co cơ đặc biệt, nhỡn cầu có thể được kéo thụt vào trong xoang miệng, đẩy thức ăn vào trong thực quản Sự tham gia của mắt vào động tác nuốt mồi chỉ thấy ở Lưỡng cư

- Lưỡi Ếch được phát triển hoàn chỉnh, được cấu tạo bởi khối cơ riêng rất đặc trưng cho

động vật có xương sống ở cạn Lưỡi Ếch được cấu tạo từ hai mầm, mầm sau ứng với lưỡi của cá, còn mầm trước rất giàu tuyến Khác với cá, lưỡi của Ếch có hệ cơ riêng làm lưỡi cử động được Gốc lưỡi có 1 đầu đính vào phần ngoài của thềm miệng, 1đầu

tự do, đầu lưỡi chẻ đôi hình chữ V nông, dính và luôn gập vào phía trong họng Do

đó, lưỡi có thể bật ra ngoài xa để bắt mồi Đặc biệt, mặt lưỡi có chất dính do tuyến trên lưỡi tiết ra, có thể dính các côn trùng nhỏ dùng làm thức ăn

✓ Hầu

Khoang miệng thông với hầu, không thủng thành các đôi khe mang thông sang 2 bên như ở cá

✓ Thực quản

- Thực quản ngắn và rộng, nằm sau khe thanh quản, tiếp theo sau hầu

- Thực quản có tiêm mao ở mặt trong, giúp cho việc chuyển thức ăn xuống dạ dày được tốt hơn

- Thành thực quản có tuyến nhầy và có tuyến vị như ở trong thành của dạ dày, tuyến vị vừa tiết axit chlohydric (HCl) vừa tiết pepsin

✓ Dạ dày

- Dạ dày tiếp nối với thực quản, thành có nhiều tuyến nhầy và tuyến vị tiết dịch tiêu hoá

- Dạ dày uốn cong, đã phân hoá rõ rệt, có cơ vòng, cơ dọc phát triển, cơ vòng thắt phần

hạ vị, chưa có cơ thượng vị Dạ dày có thành cơ khá dày và tạo thành bờ cong lớn ở bên ngoài, bờ cong bé ở bên trong Cuối dạ dày đã phân hoá thành lỗ hạ vị, thành có

cơ trơn phân biệt rõ với ruột

- Dạ dày đổ vào ruột tá (tá tràng)

- Dạ dày vừa là nơi tiêu hoá cơ học và hoá học vừa là nơi dự trữ thức ăn Do đó, dạ dày thường căng đầy thức ăn thành một khối lớn là do ở chỗ thực quản và dạ dày của Ếch vừa lớn vừa có khả năng co dãn cao

✓ Ruột

- Ruột được phân cách với dạ dày bằng sự có mặt của một van bên trong

- Ruột đã phân hoá, cuộn khúc nhiều vòng

Trang 40

- So với ruột cá, ruột của Ếch trưởng thành thường ngắn hơn (gấp từ 2 - 4 lần chiều dài thân)

- Ruột non có phần đầu hơi cong ở gần dạ dày gọi là ruột tá (tá tràng) Ruột non (ruột trước) và ruột già (ruột giữa) không phân biệt rõ rệt

- Trực tràng (ruột sau) phân biệt rõ ràng với ruột già (ruột giữa) Trực tràng là phần cuối của ruột, phình to, là nơi hấp thụ lại nước, thường chứa phân, đổ vào xoang huyệt

* Tuyến tiêu hoá

✓ Tuyến miệng: Khác với cá, trong xoang miệng Ếch còn có nhiều tuyến nhầy nhỏ

được coi là tuyến nước bọt Tuy nó không có vai trò tiêu hoá hoá học thức ăn, chỉ tẩm ướt, làm trơn thức ăn để dễ nuốt, nhưng đây là đặc điểm xuất hiện đầu tiên ở Ếch nhái, nhóm Động vật có xương sống ở cạn đầu tiên, thể hiện sự thích nghi đối với điều kiện sống khô ráo của môi trường cạn

✓ Tuyến thực quản: Thành thực quản có tuyến nhầy và có tuyến vị như ở trong

thành của dạ dày, chủ yếu làm trơn thức ăn để dễ nuốt Tuyến vị vừa tiết axit chlohydric (HCl) vừa tiết pepsin Pepsin và axit trong thực quản tuy thấm vào thức

ăn, song chỉ khi thức ăn xuống đến dạ dày mới có tác dụng tiêu hoá

✓ Tuyến dạ dày: Thành dạ dày có nhiều tuyến nhầy và tuyến vị Tuyến vị vừa tiết

axit chlohydric (HCl) vừa tiết pepsin, tiêu hoá hoá học các chất prôtit, axit có tác dụng làm mềm và làm nở thức ăn, đồng thời kích thích pepsin hoạt động mạnh

✓ Tuyến gan: Gan của Ếch có 3 thuỳ, thuỳ giữa đổ mật vào túi mật Mật tích trữ ở

túi mật theo ống dẫn mật đổ vào tá tràng Chức năng của mật giống ở Cá xương

✓ Tuyến tuỵ: Tuỵ của Ếch không còn phân tán như ở cá mà có cấu tạo thành khối

Tuỵ tiết dịch tiêu hoá hoá học prôtit, lipit vào tá tràng

✓ Tuyến ruột: Xen kẽ trong lớp niêm mạc ruột, chất tiết có tác dụng tiêu hoá tiếp

thức ăn từ dạ dày đưa xuống Thức ăn còn lại ở ruột được tiếp tục tiêu hoá nhờ dịch tuỵ (trypsin, amylaza, lipaza) và mật đi từ túi mật đổ vào

Chất dự trữ được tích lại trong các mô Đặc biệt, glucogen được tích trong gan, còn mỡ tích trong thể mỡ màu vàng nằm trên hai tuyến sinh dục

b Hệ hô hấp

- Ếch là loài động vật vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước nên hệ hô hấp khác so với

cá, để thích nghi với những điều kiện sống mới

- Ở giai đoạn ấu trùng hô hấp bằng mang; ở giai đoạn trưởng thành, Ếch hô hấp bằng phổi và qua da

* Hô hấp bằng phổi

- Đường hô hấp bắt đầu từ lỗ mũi ngoài qua lỗ mũi trong vào xoang miệng; tiếp theo là

khe thanh khí quản (khí môn) được giới hạn bởi 2 sụn hạt cau Sụn hạt cau làm khe

họng mở rộng ra nhờ có các cơ đặc biệt Khí quản rất ngắn, chưa có cấu tạo bằng vòng sụn, thông trực tiếp với phổi

- Ở Ếch đực, thềm miệng còn có một đôi lỗ thông với 2 túi thanh âm (túi kêu) Túi thanh

âm là cơ quan cộng hưởng quan trọng

- Phổi màu hồng, nằm ở hai bên tim, có cấu tạo đơn giản, do bong bóng bơi phức tạp

dần thành phổi

- Phổi gồm 2 túi nhỏ, có thành mỏng, mặt trong có nhiều nếp nhăn (vách ngăn) tạo thành những phế nang đơn giản, tựa như những lỗ tổ ong nhỏ, nên diện tích hô hấp bé

không đủ cung cấp O2 và thải CO2 Vì thế, sự hô hấp bằng phổi được bổ sung thêm

bằng hô hấp qua da

Ngày đăng: 28/11/2022, 19:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu tạo ngoài của cá Lưỡng tiêm Amphioxus belcheri (Gray, 1847) - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 1.1. Cấu tạo ngoài của cá Lưỡng tiêm Amphioxus belcheri (Gray, 1847) (Trang 8)
Hình 1.3. Đầu cá Lưỡng tiêm cắt dọc - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 1.3. Đầu cá Lưỡng tiêm cắt dọc (Trang 9)
Hình 1.4. Cấu tạo ngoài của cá Mập - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 1.4. Cấu tạo ngoài của cá Mập (Trang 10)
Hình 1. 6. Cấu tạo ngoài của cá Đuối bồng (mặt lưng) - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 1. 6. Cấu tạo ngoài của cá Đuối bồng (mặt lưng) (Trang 11)
Hình 1.7. Cấu tạo ngoài của Cá xương - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 1.7. Cấu tạo ngoài của Cá xương (Trang 12)
Hình 3.1. Cấu tạo ngoài của cá Lóc Channa striata (theo Trần Thanh Tòng, 2000) - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 3.1. Cấu tạo ngoài của cá Lóc Channa striata (theo Trần Thanh Tòng, 2000) (Trang 19)
Hình 3.2. Cắt lớp màng da trắng nối hai nắp  mang cá Lóc (theo Trần Thanh Tòng, 2000) - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 3.2. Cắt lớp màng da trắng nối hai nắp mang cá Lóc (theo Trần Thanh Tòng, 2000) (Trang 20)
Hình 3.5. Hệ cơ quan cá Lóc tại vị trí ban đầu (theo Trần Thanh Tòng, 2000) - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 3.5. Hệ cơ quan cá Lóc tại vị trí ban đầu (theo Trần Thanh Tòng, 2000) (Trang 22)
Hình 3.6. Sơ đồ hệ tuần hoàn ở Cá xương (theo Matviep) - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 3.6. Sơ đồ hệ tuần hoàn ở Cá xương (theo Matviep) (Trang 24)
Hình 3.7. Cấu tạo trong của cá Lóc (theo Trần Thanh Tòng, 2000) - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 3.7. Cấu tạo trong của cá Lóc (theo Trần Thanh Tòng, 2000) (Trang 28)
Hình  tròn  che  phía  ngoài - Thực hành động vật học có dây sống
nh tròn che phía ngoài (Trang 33)
Hình 5.4. Cấu tạo xoang miệng Ếch đực - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 5.4. Cấu tạo xoang miệng Ếch đực (Trang 34)
Hình 5.8. Vị trí cắt da Ếch đồng  (theo Trần Thanh Tòng, 2000) - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 5.8. Vị trí cắt da Ếch đồng (theo Trần Thanh Tòng, 2000) (Trang 36)
Hình 5.18. Tuỷ sống và các đôi dây thần kinh tuỷ của Ếch đồng - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 5.18. Tuỷ sống và các đôi dây thần kinh tuỷ của Ếch đồng (Trang 44)
Hình 7.2. Cấu tạo trong của Rắn - Thực hành động vật học có dây sống
Hình 7.2. Cấu tạo trong của Rắn (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w