1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Mỹ học đại cương pdf

47 6,1K 164

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mỹ học đại cương
Tác giả Vũ Minh Tiến
Trường học Trường đại học Đà Lạt
Chuyên ngành Mỹ thuật
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2005
Thành phố Đà Lạt
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 412,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói theo danh từ mỹ học thì cái thẩm mỹ chính là những phẩm chất thẩm mỹ của đối tượng, hoặc như I.U.Bôrép: “Cái thẩm mỹ là bản chất và cơ sở của các thuộc tính thẩm mỹ của hiện thực của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

F 7 G

GIÁO TRÌNH

MỸ HỌC ĐẠI CƯƠNG

VŨ MINH TIẾN

2005

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC - 1 -

CÁI THẨM MỸ - 3 -

I Khái niệm - 3 -

II Tính khách quan và tính xã hội của cái thẩm mỹ - 4 -

CÁI ĐẸP - 7 -

I Cơ sở khách quan của cái đẹp - 7 -

1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm - 7 -

2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật - 8 -

II Đặc điểm về mỹ cảm .- 9 -

1 Tính toàn vẹn - 9 -

2 Vô tư không vụ lợi khi cảm nhận cái đẹp .- 9 -

3 Sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính cá biệt của mỹ cảm .- 11 -

III Bản chất của cái đẹp - 11 -

IV Cái đẹp trong nghệ thuật - 13 -

1 Trong tác phẩm nghệ thuật, cái đẹp bộc lộ ở ba điểm: - 13 -

2 Nghệ thuật như là một hoạt động thẩm mỹ - 14 -

3 Nghệ thuật như là tiếng nói của con người đối với cuộc sống - 15 -

CÁI BI KỊCH - 16 -

I Bản chất thẩm mỹ của cái bi kịch - 16 -

1 Nội dung phản ánh của cái bi kịch - 16 -

2 Xung đột bi kịch - 16 -

3 Kết thúc bi kịch - 17 -

II Những hình thức điển hình của cái bi kịch - 17 -

1 Bi kịch của cái mới .- 17 -

2 Bi kịch của cái cũ - 18 -

CÁI HÀI KỊCH - 20 -

I Vài nét về lịch sử nghiên cứu cái hài kich - 20 -

II Bản chất thẩm mỹ của cái hài kịch - 22 -

III Những sắc thái thẩm mỹ của cái hài kịch - 24 -

1 Châm biếm: - 25 -

2 Trào lộng: - 25 -

3 Khôi hài: - 26 -

CÁI TRÁC TUYỆT - 27 -

I Bản chất thẩm mỹ của cái trác tuyệt - 27 -

II Tình cảm thẩm mỹ của cái trác tuyệt - 28 -

III Cái trác tuyệt trong nghệ thuật - 28 -

CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT - 30 -

I- Sự phát triển của những quan điểm về các loại hình nghệ thuật trong lịch sử mỹ học .- 30 -

1 Quan điểm duy tâm về sự phân chia nghệ thuật các loại hình - 30 -

2 Quan điểm duy vật về sự phát triển của các loại hình nghệ thuật .- 32 -

II- Các nguyên tắc hiện đại về phân loại nghệ thuật - 33 -

III- Đặc trưng của một số loại hình nghệ thuật - 35 -

Trang 3

1 Nghệ thuật ứng dụng: - 35 -

2.Kiến trúc: - 36 -

3 Nghệ thuật tạo hình 40

4.Âm nhạc 41

5 Sân khấu và điện ảnh 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 4

CÁI THẨM MỸ

I Khái niệm

Trong thực tiễn cuộc sống, nhiều người chưa học một giờ về mỹ học, nhưng

họ đều có quan niệm thế nào là đẹp, xấu, cái đáng thán phục, cái đáng chê cười,

cái bi thương… Quan niệm có tính “thẩm mỹ” này xuất hiện ngay từ hồi còn rất

nhỏ: các em thích những bộ quần áo mới, màu sắc rực rỡ… Càng lớn, giao tiếp

nhiều, càng học cao hơn thì các quan niệm “thẩm mỹ” ở trên càng được mở rộng,

phong phú

Thanh niên mặc hết moden này đến kiểu khác Ngay một cái tóc cũng muôn

hình muôn vẻ Dần dần, quan niệm trên được mở rộng sang lĩnh vực khác có tính

nghệ thuật Nhận xét về một ngôi nhà, một công trình kiến trúc, một tấm hình, một

bức tranh, một pho tượng, một bài hát, một bản nhạc, hoặc đi xem một vở kịch chẳng

hạn: diễn viên diễn giỏi (nghệ thuật diễn xuất); nội dung phong phú, xúc động… hay

nói theo danh từ lý luận là hình tượng nghệ thuật chân thật, sinh động, có sức truyền

cảm mạnh mẽ…

Tất cả những đánh giá trên đều thuộc về đánh giá thẩm mỹ Cái thẩm mỹ

chính là những phẩm chất đẹp, xấu, cái đáng khâm phục, cái đáng chê cười, cái bi

luỵ … của đối tượng hiện thực mà chỉ có những con người có “con mắt thẩm mỹ”

mới phát hiện ra được Nói theo danh từ mỹ học thì cái thẩm mỹ chính là những

phẩm chất thẩm mỹ của đối tượng, hoặc như I.U.Bôrép: “Cái thẩm mỹ là bản chất

và cơ sở của các thuộc tính thẩm mỹ của hiện thực của cái đẹp, cái xấu, cái cao

thượng, cái đê tiện, cái bi kịch, cái hài kịch, cái đầy kịch tính” …1

Thói quen về cái đẹp đó lan sang cả lĩnh vực sinh hoạt: phòng ở trang trí cho

đẹp, lịch sự Việc trang trí cũng phụ thuộc vào “năng khiếu thẩm mỹ” của con

người Có người treo la liệt hết bức tranh này đến bức tranh khác, nhưng có người,

chỉ treo một, hai bức tranh mà mình thích

Sự đánh giá về thẩm mỹ có ý nghĩa bao quát nhất so với những sự đánh giá

khác

Hiện thực là vô cùng đa dạng và phong phú về mặt thẩm mỹ

Hoạt động thực tiễn của con người càng mở rộng thì phạm vi cái thẩm mỹ

càng mở rộng theo Những phẩm chất thẩm mỹ mới không ngững xuất hiện trong

quá trình phát triển của lịch sử văn học và nghệ thuật

Trong những thời kỳ phát triển nhất định của văn học và nghệ thuật, có những

phẩm chất thẩm mỹ chủ đạo được đưa lên hàng đầu:

Thời cổ đại: cái đẹp và cái bi kịch

Thời trung cổ: cái cao thượng

1 I.U.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản Hoàng Xuân Nhị dịch Trường đại học tổng hợp Hà nội

xuất bản 1974, trang 229

Trang 5

Thời phục hưng: cái đẹp trần thế và cái hài kịch

Chủ nghĩa lãng mạn: cái phi thường

Chủ nghĩa hiện thực: đối tượng thẩm mỹ mang tính đa dạng, phong phú, kết

hợp nhiều phẩm chất thẩm mỹ khác nhau trong một đối tượng

Nghệ thuật tái hiện cuộc sống thông qua những hình tượng nghệ thuật Hình

tượng nghệ thuật thể hiện sự khách quan hoá của con người về cái thẩm mỹ của đối

tượng Hình tượng nghệ thuật là sự thể hiện đối tượng một cách sinh động, với ý

nghĩa xã hội rộng lớn của đối tượng Hình tượng bao gồm trong bản thân nó:

1 Chất liệu của cuộc sống, những thuộc tính cảm tính, cụ thể của những hiện

tượng thực tại

2 Tư tưởng, lý tưởng thẩm mỹ của tác giả, thái độ, quan điểm của nhà văn, nghệ

Hình tượng được định nghĩa:

“Hình tượng vừa là bức tranh cụ thể, vừa khái quát của cuộc sống con người,

được xây dựng nhờ hư cấu và có ý nghĩa thẩm mỹ” (Timôfiép)

Hình tượng là phương tiện đặc thù của nghệ thuật để phản ánh hiện thực

khách quan Hình tượng nghệ thuật phản ánh tính khái quát, tính qui luật của hiện

tượng qua hình thức cá thể, độc đáo; nó là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, là đứa

con tinh thần của nghệ sĩ trong quá trình nhận thức và tái hiện cuộc sống

II Tính khách quan và tính xã hội của cái thẩm mỹ

Cái thẩm mỹ chính là bản chất và cơ sở của các thuộc tính thẩm mỹ của hiện

thực Cái thẩm mỹ đó có tính khách quan và tính xã hội

Đứng trước một đối tượng, nhiều trường hợp có những cách đánh giá khác nhau

Điều này thể hiện tính phong phú về phẩm chất thẩm mỹ của đối tượng Nhưng nếu

chỉ có như vậy thôi thì mọi người sẽ trở nên không hiểu nhau, mỗi người sẽ trở thành

một xã hội riêng

Cái đẹp (cũng như cái xấu và các phẩm chất thẩm mỹ khác nhau) có những

tiêu chuẩn chung Các nhà mỹ học xưa nay đã tốn nhiều giấy mực chỉ ra những tiêu

chuẩn chung đó Chính những tiêu chuẩn chung này nói lên tính khách quan và tính

xã hội của cái thẩm mỹ

Điểm qua lịch sử mỹ học, thì các tiêu chuẩn mà các nhà mỹ học đề ra lại

không giống nhau, nó còn tuỳ thuộc vào quan niệm của từng khuynh hướng và trào

lưu nghệ thuật, từng thời đại lại có những người lại không thừa nhận tính khách

quan và tính xã hội của cái thẩm mỹ

Nhà triết học lỗi lạc thời cổ đại là Platon là người đầu tiên phát hiện ra tình

cảm thẩm mỹ khi con người đứng trước cái đẹp, nhưng ông là nhà triết học duy tâm,

ông đã chứng minh cho một cái đẹp vĩnh cửu, xuất phát từ “ý niệm tuyệt đối” do

thượng đế ban phát, từ đó ông phủ nhận tính khách quan của cái thẩm mỹ

Trang 6

Mỹ học duy tâm cổ điển Đức lại có những quan điểm khác: Hêghen thừa

nhận tính khách quan của cái thẩm mỹ, nên các nhà lý luận gọi ông là nhà duy tâm

khách quan; còn Kăng lại không thừa nhận tính khách quan của cái thẩm mỹ Ông

cho rằng mọi phẩm chất thẩm mỹ của đối tượng đều do chủ quan con người phát

hiện ra rồi gán ghép cho nó mà thôi Chính vì vậy mà ông đã nói: “Cái đẹp không

có trên đôi má hồng của người thiếu nữ mà chỉ có trong đôi mắt của kẻ si tình”

Một ví dụ mà chủ nghĩa hiện sinh hay dẫn ra, đó là hiện tượng cành lá đu đưa

trước gió: đối với người này thì đó là một hiện tượng vui mắt, đối với người kia thì

đó là một hiện tượng nhàm chán

Theo quan điểm mỹ học Mác-Lênin, cái thẩm mỹ trong hiện thực mang trong

bản thân nó một ý nghĩa thực tiễn xã hội khách quan rộng lớn, vì những phẩm chất

thẩm mỹ của đối tượng đã nhập vào lĩnh vực hoạt động, có nhiều cảm xúc và bao

gồm nhiều ngành khác nhau của con người, đã nhập vào thực tiễn của con người

Chúng ta cần phải chú ý thêm rằng thế giới bao quanh chúng ta và được chúng ta

cảm thụ hoàn toàn không phải là cái gì trực tiếp, đã hiện ra một lần là trọn vẹn

ngay Trong quá trình cảm thụ thẩm mỹ, từ những hiện tượng và đối tượng, chúng

ta rút ra nội dung xã hội, tinh thần, có tính người của chúng, vì chúng ta bao giờ

cũng tiếp xúc với những sự vật hoặc đã từng được con người biến thành những sư

vật thực sự có hồn trong quá trình hoạt động thực tiễn vật chất của mình, hoặc đang

được thu hút dưới hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay ở mức độ

khác,vào hệ thống những hoạt động của con người, những hoạt động cải tạo xã hội ,

biến tất cả thành những vật có hồn Sự sản xuất xã hội đã in đậm dấu vết con người,

đã biến thế giới đó thành hiện thân thực sự của những sức mạnh thuộc bản chất con

người Về vấn đề này, Mác đã viết: “Lịch sử của công nghiệp và sự tồn tại khách

quan mà công nghiệp đã đạt được là quyển sách để mở nêu rõ những sức mạnh

thuộc bản chất con người, là tâm lý con người hiện ra trước chúng ta một cách có

thể sờ mó được”1

Toàn bộ cuộc sống của con người là sự tác động qua lại với thế giới vật chất

và những hiện tượng của nó, con người đồng hoá chúng Những đối tượng và hiện

tượng đó làm cho cuộc sống của con người trở nên phong phú và đa dạng Đó là

thuộc tính khách quan của đối tượng, nhờ đó mà chúng có ý nghĩa về mặt xã hội, có

tầm quan trọng đối với cuộc sống con người, là cơ sở khách quan của cảm xúc thẩm

mỹ

Phẩm chất thẩm mỹ của một hiện tượng là ý nghĩa của một hiện tượng này

không phải đối với những yêu cầu thực tiễn công lợi của con người, cũng không

phải đối với một khoảng khắc nhất định (một trường hợp, một tình huống nhất thời

cá biệt, một vành của đường xoắn ốc chung), đó là ý nghĩa xã hội rộng lớn của hiện

tượng, ý nghĩa của nó đối với sự phát triển chung của lịch sử

1 C-Mác – Ph.Angghen Toàn tập Tập 3 Theo I.U.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản, sđd,

trang 218

Trang 7

Việc cảm thụ những phẩm chất thẩm mỹ của thiên nhiên bao giờ cũng được

qui định bởi sự nhận thức của con người về thiên nhiên, bởi trình độ làm chủ thiên

nhiên, bởi trình độ và tính chất của sự đồng hoá thiên nhiên Có thể lấy làm lạ vì

sao bông hoa rừng, mảnh trăng, ngôi sao lại có được những thuộc tính xã hội ?

Nhưng chỉ những ai không nghĩ rằng sự sản xuất xã hội có một tác dụng tích cực

bao trùm đối với hiện thực, rằng con người đã đồng hoá những đối tượng và hiện

tượng, sáng tạo ra chúng, thì mới thấy điều đó làm lạ

Cũng cần phải nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của lý tưởng thẩm mỹ trong

việc đồng hoá hiện thực

Lý tưởng thẩm mỹ- sự biểu hiện tật trung của thực tiễn xã hội, sự nhận thức

rộng lớn nhất và bao quát nhất về mục đích của quá trình phát triển xã hội là thước

đo, là nhân tố xác định ý nghĩa xã hội rộng lớn của các hiện tượng hiện thực Chính

nhờ lý tưởng thẩm mỹ mà nội dung và ý nghĩa thẩm mỹ của các sự vật trong hiện

thực được phát hiện và diễn ra việc đồng hoá thế giới bằng nghệ thuật, nhận thức

hiện thực bằng hiện thực bằng hình tượng

Những lý tưởng thẩm mỹ tiên tiến đều có nội dung gần gũi với những lý tưởng

xã hội tiên tiến Lý tưởng thẩm mỹ là kết tinh của thực tiễn xã hội, là tiêu chuẩn

đánh giá rộng nhất và phổ biến nhất, do đấy nó được dùng làm thước đo các hiện

tượng của hiện thực về mặt thẩm mỹ

Nghệ thuật - sự đồng hoá hiện thực bằng nghệ thuật - là hình thái cao nhất

của sự đồng hoá thẩm mỹ

Việc sáng tạo của nghệ sĩ bao giờ cũng được tiến hành trên cơ sở những lý

tưởng thẩm mỹ nhất định Cần phải có những lý tưởng thẩm mỹ tiên tiến, tích cực

để sáng tạo nên những hình tượng nghệ thuật giầu giá trị nhân văn cao cả mang ý

nghĩa xã hội sâu sắc, những tính cách anh hùng và bi kịch để phản ánh cái đẹp, cái

cao thượng trong hiện thực, cũng như để sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật

của cái ác, cái xấu xa đê tiện, những tính cách hài kịch

Trong loại hình châm biếm hiện thực chủ nghĩa, bao giờ cũng có sự đối lập

giữa cái được miêu tả và những lý tưởng thẩm mỹ cao quí

Trang 8

CÁI ĐẸP

I Cơ sở khách quan của cái đẹp

1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm

Platon đề xướng cái đẹp tuyệt đối, vĩnh cửu, không thay đổi Oâng viết: “Tôi

gọi những cầu tạo đó là đẹp không phải so sánh chúng với một đối tượng nào đó,

như người ta có thể so sánh khi nói tới những vật khác, nhưng đẹp vĩnh cửu, do bản

thân chúng, do bản chất chúng, và có tác dụng gợi nên ít nhiều khoái cảm đặc biệt

mà chỉ riêng chúng mới gợi nên được”.1

Toàn bộ nền nghệ thuật cổ đại Hy lạp là sự hoà điệu của các tỉ lệ, của sự đối

xứng và tính mực thước Platon đã dựa vào truyền thống đó Platon là người đầu

tiên phát hiện ra khoái cảm thẩm mỹ do cái đẹp gợi nên Platon đưa ra khái niệm

về “ý niệm tuyệt đối” mang tính chất siêu hình Oâng cho rằng thế giới vật chất chỉ

là sự hồi quang của thế giới ý niệm Nghệ thuật phản ánh thế giới vật chất, vậy

nghệ thuật chỉ là “cái bóng của cái bóng” mà thôi

Mỹ học cổ điển Đức (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) nổi bật tinh thần duy

tâm chủ nghĩa Triết học duy tâm cổ điển Đức có hai đại biểu lỗi lạc nhất, đó là

Em-ma-nu-en Kăng (1724-1804) và Giocgiơ Vin hem Phơri đơrích Hêghen

(1770-1831) Cả hai ông đều theo chủ nghĩa duy tâm, nghĩa là họ coi ý niệm là cái có

trước Nhưng Kăng không nhất quán trong quan niệm duy tâm của mình V.I.Lênin

khi nghiên cứu về triết học cổ điển Đức đã cho rằng: “Nét cơ bản của triết học

Kăng là sự điều hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, sự thoả hiệp cả hai

thứ, sự kết hợp vào trong một hệ thống những trào lưu triết học khác loại nhau, đối

lập nhau”.2 Kăng là người theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan “Ý niệm” là ở trong

chính bản thân con người, đó là những tư tưởng và cảm giác của con người, nó có

trước và là điểm xuất phát, khởi thuỷ

Kăng cho rằng cái đẹp chân chính mang lại cho ta khoái cảm, làm cho ta

thích thú Tình cảm thẩm mỹ mang tính chất vô tư không vụ lợi Oâng viết: “Mỗi

người phải đồng ý rằng phán đoán nào về vẻ đẹp có lẫn chút thiên tư dù nhỏ nhất,

đều rất thiếu công bằng và không phải là phán đoán thẩm mỹ thuần khiết của thị

hiếu”.3 Oâng coi về khoái cảm vô tư là tiêu chuẩn phổ biến, bắt buộc phải có để

đánh giá nghệ thuật và tình cảm thẩm mỹ của tất cả mọi người, mọi thời đại

Hêghen cũng theo chủ nghĩa duy tâm, nhưng là duy tâm khách quan Oâng

cũng coi ý niệm là cái có trước, nhưng theo ông, ý niệm nằm ở đầu đó bên ngoài

con người, bên ngoài vật chất; ý niệm tuyệt đối, lý trí tuyệt đối của Hêghen – đó là

ý thức đã tách khỏi con người, đó là tư tưởng nói chung mà ông coi là nền tảng và

1 Chuyển dẫn theo I.U.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản Trường đại học Tổng hợp Hà nội

xuất bản 1974 trang 33

2 Dẫn theo A.E.Ren – Groxx Mỹ học-khoa học kỳ diệu Pham Văn Bích dịch NXB Văn hoá.1984,

trang 32

3 Theo A.E Ren-Groxx Mỹ học khoa học kỳ diệu Sđd, trang 34

Trang 9

là cái sáng tạo ra tất cả mọi cái hiện đang tồn tại Oâng cho rằng nghệ thuật là trình

độ thấp hơn của nhận thức, còn khoa học là trình độ cao hơn Trong nghệ thuật,

chân lý xuất hiện dưới dạng vẻ đẹp, đó là biểu hiện cảm tính của ý niệm Oâng coi

sự khác biệt giữa khoa học và nghệ thuật là ở hình thức Khoa học phản ánh nội

dung trong các khái niệm, còn nghệ thuật trong các hình tượng Oâng cho rằng vẻ

đẹp của tự nhiên còn chưa hoàn thiện Nó chỉ là ánh phản quang của vẻ đẹp ý

niệm Do sự không hoàn thiện vẻ đẹp trong tự nhiên, tất yếu phải sáng tạo ra vẻ

đẹp trong nghệ thuật Vẻ đẹp trong nghệ thuật do con người tạo ra nên gắn bó với

tinh thần, với ý niệm tuyệt đối qua tư tưởng của nhà nghệ sĩ Chính vì vậy cái đẹp

trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong tự nhiên

Hêghen đã định nghĩa cái đẹp như sau :

“Một sự vật nào đó là đẹp khi qua nó ý niệm về sự vật đó được biểu hiện đầy đủ”.1

Hêghen là nhà triết học duy tâm, nên ông cho rằng thế giới phát triển bởi vì

tư duy phát triển, thực tại biến đổi bởi vì những biến đổi đã diễn ra trong lý trí

Những phát triển, biến đổi, đó chính là cái quí giá nhất trong triết học Hêghen

V.I.Lênin đã nhận xét về triết học và mỹ học của Hêghen như sau: “Hêghen đã

đoán được một cách thiên tài phép biện chứng của các sự vật (các hiện tượng, thế

giới, tự nhiên) trong phép biện chứng của các khái niệm, đúng là đã đoán được,

không hơn”.2

2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật

Chủ nghĩa duy vật từ Aristtote đến Tnư sépxki đều khẳng định cái đẹp là có thực,

có cơ sở khách quan, tồn tại khách quan, đều xuất phát từ đời sống xã hội để giải thích

cái đẹp

Vậy cơ sở khách quan của cái đẹp là gì?

- Cái đẹp là sự hài hoà – Những biểu hiện của nó là:

+ Cân đối, đối xứng, tỉ lệ

+ Nhịp điệu

+ Sự thống nhất giữa các mặt đối lập: ví dụ như màu đen trắng trong hội

hoạ, trầm bổng cao thấp trong âm nhạc …

+Trong triết học nó là tính mực thước, chừng mực, khái niệm “độ” Hài hoà

là đẹp, bởi vì hài hoà là nguyên lý cấu tạo nên sự sống Sự sống là tự nhiên, là hài

hoà

- Cái đẹp là sức sống

Cái đẹp phải tràn đầy sức sống, là sự sống trẻ trung Thân hình người phụ nữ

là hài hoà, là sự hoàn thiện, nhưng đó là cô gái chứ không phải là một bà già, hơn

nữa là một cô gái tràn đầy sức sống trần thế chứ không là một xác chết Một bức

1 Theo I.U.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản Sđd, trang 154

2 Theo A.E Ren – Groxx Mỹ học – khoa học kỳ diệu Sđd, trang 37

Trang 10

tranh phong cảnh đẹp không phải chỉ là sự hài hoà, sự hoàn thiện, mà còn là một

bức tranh mang hơi thở của cuộc sống Cái ác cũng có sự hài hoà, sự hoàn thiện của

cái ác Cái ác nhiều khi mang bộ mặt của thánh thần

Ca dao ta cũng đã từng nói : “Mật ngọt thì ruồi chết tươi”

Vậy: hài hoà, hoàn thiện, sức sống là ba phẩm chất khách quan của cái đẹp

Tsécnưsepki viết: “cái đẹp là cuộc sống” chính là vì vậy

II Đặc điểm về mỹ cảm

1 Tính toàn vẹn

Cảm xúc về cái đẹp bao gồm nhiều mặt, vừa là cảm giác bản năng, vừa là

cảm giác tinh thần, vừa là trực giác, vừa cao hơn trực giác, vừa hướng về nhục thể,

vừa hướng về tinh thần: ăn uống, đàn hát mê say Khoái cảm nghệ thuật là cả tinh

thần lẫn nhục thể

Xúc cảm rung động của con người thể hiện ra bằng yêu ghét, căm thù Không

có những cái đó không ra xúc cảm thẩm mỹ

Nguồn gốc văn học đầu tiên không phải là vấn đề tư tưởng, mà là vấn đề trực

giác, vấn đề cảm nhận, vấn đề tâm hồn Cần phải kết hợp giữa vấn đề cảm nhận,

trực giác và lý trí, tư tưởng Tôi đọc một bài thơ tôi thấy hay trước hết là tôi cảm

thấy hay, là vấn đề cảm nhận, sau đó mới đến vấn đề tư tưởng, vấn đề lý trí

Một thời gian dài phê bình văn học của ta thường chú ý đến tư tưởng, đến lý

trí mà bỏ quên đến vấn đề cảm nhận Hoài Thanh lại chú ý đến cảm nhận, đến trực

giác

2 Vô tư không vụ lợi khi cảm nhận cái đẹp

Khi cảm nhận cái đẹp, đứng trước cái đẹp tình cảm chúng ta nảy nở một cách

tự nhiên, vô tư không vụ lợi

Người ta không đòi hỏi tại sao lại thích cái này, thích cái kia? Thích là tự

nhiên thích mà thôi

Vô tư là thoát khỏi lợi ích vật chất Cảm giác thẩm mỹ không đòi hỏi sự

chiếm đoạt, nó khác với cảm giác vật chất khác Khát vọng của con người đứng

trước cái đẹp là khát vọng vô tư, thoát khỏi sự chiếm đoạt Vô tư là không ích kỷ, là

không thu về cho mình Tình cảm thẩm mỹ là tình cảm chia sẻ, không ích kỷ Viết

văn là giải thoát, là giãi bày, là chia sẻ Tính ích kỷ là không phù hợp với nghệ

thuật

Vô tư là không có mục đích thực dụng cụ thể, nó cũng không đòi hỏi giải

thích lý do vì sao Nó là tình cảm hoàn toàn tự nhiên của con người, không bị chi

phối bởi lý trí

Vô tư hiểu theo nghĩa công bằng, không thiên vị không phải là vô tư thẩm

mỹ Vô tư thẩm mỹ là vô tư không chiếm đoạt, không vụ lợi Độc đáo của mỹ cảm

Trang 11

trong cảm thụ cái đẹp là không có ranh giới rõ ràng, chính vì vậy khó định nghĩa

cái đẹp Cái đẹp không giải thích được Cái đẹp là gì?, vì sao nó đẹp? là những câu

hỏi luôn luôn đặt ra cho mọi thời đại và là những câu hỏi rất khó cắt nghĩa Mỹ học

là khoa học cung cấp cho con người những khái niệm để con người cảm nhận cái

đẹp, chứ không phải để cho con người cắt nghĩa cái đẹp

Bản chất của cái đẹp là cái thêm vào cho cuộc sống, trang trí cho cuộc sống,

thoát khỏi sự ích kỷ, vụ lợi, thực dụng Nghệ thuật trước hết là cái đẹp, là sự tô

điểm cho cuộc sống, là cái dư thừa không dùng được, nhưng lại hết sức quan trọng

Trong văn chương, tu từ là rất quan trọng Tu từ là sửa chút ít, không sửa cơ

bản, là cái thêm vào một chút ít nhưng lại rất quan trọng

Để đạt thái độ vô tư không vụ lợi rất khó khăn

Trong tình yêu thật sự mới có thái độ vô tư: cho mà không cần đòi lại Chính

vì vậy mà Tsécnưsepxki đã viết câu rất đúng:

“Cảm giác của cái đẹp gợi nên ở con người là một niềm vui tươi sáng giống

như niềm vui mà chúng ta cảm thấy nỗi lòng tràn ngập khi tiếp xúc với người yêu

Chúng ta yêu cái đẹp một cách vô tư, chúng ta thưởng thức nó, vui sướng vì nó như

vui sướng vì người yêu”.1

Con người bị chìm trong gông cùm của cái đói, cái khổ, bị miếng cơm manh

áo ghì sát đất Khi con người thoát khỏi cái đói mới có thể làm nghệ thuật Đối với

xã hội cũng vậy “Con người đạt được tự do khi thoát khỏi vương quốc của sự tất

yếu” (Angghen) Tự do của con người chỉ có thể có được khi con người thoát khỏi

gông cùm của cái đói

“Mỗi bước đi tới văn hoá là mỗi bước đi tới tự do” (Ăngghen)

Cái nghèo giết chết nghệ thuật Cái khổ đau là nguồn gốc của nghệ thuật

Mỹ cảm làm cho con người trở nên người hơn, cao hơn, vì con người đã thoát

khỏi những ràng buộc vật chất

Nghệ thuật là khắc phục sự sợ hãi của con người Có nghĩa là nghệ thuật làm

cho con người tự do hơn đối với sự sợ hãi, vô tư hơn đối với cuộc đời đầy hăm doạ

Nghệ thuật có chức năng vô cùng cao quí đối với con người, cần thiết cho con

người Chính vì vậy mà nghệ thuật tồn tại cùng với con người

Vô tư nhưng không vô ích

Vô tư là vô tư với chính anh, là thoát khỏi vòng kiềm toả vật chất của anh,

là bước vào với cuộc đời Vô tư là thoát khỏi thế giới của ta chứ không phải là

thế giới của chúng ta

Nghệ thuật với cuộc đời có một khoảng cách Nghệ thuật đã thoát khỏi sự

ràng buộc vật chất Nghệ thuật đã bay lên trên cuộc sống

1 I.U.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản Sđd, trang 169

Trang 12

Trước đây chúng ta quan niệm nghệ thuật chính là cuộc sống, dùng cuộc

sống làm thước đo nghệ thuật Cần để cho nghệ sĩ có một khoảng cách rộng lớn

trong sáng tạo nghệ thuật

3 Sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính cá biệt của mỹ cảm

- Tính phổ biến:

Cái đẹp ai cũng thích, cái đẹp là tình cảm tự nhiên, phổ biến của con người

Cái đẹp có phạm vi rất rộng, mỹ cảm ít bị ngăn cách bởi ranh giới giai

cấp, dân tộc, quốc gia Bởi vì: mỹ cảm mang tính toàn vẹn, nhiều mặt, chính vì

vậy nó rộng lớn, phổ biến

Là lĩnh vực không phải là của khái niệm Khái niệm thì có ranh giới, không

phải khái niệm thì ranh giới rất mong manh Cái đẹp ít chịu chi phối bởi tính giai

cấp

Cái đẹp là phổ biến nhưng lại chấp nhận cái cá biệt, tức là thị hiếu cá nhân

Không ở đâu, cái tôi lại có vị trí lớn lao như trong nghệ thuật Trong nghệ thuật,

nếu chỉ nhấn mạnh cái chung là sai về bản chất của nghệ thuật

Thị hiếu của con người rất khác nhau Cái riêng trong nghệ thuật hết sức quan

trọng Tạo ra cái riêng cho mình, nhất là đối với nhà nghệ sĩ là có ý nghĩa sống còn

Có một thời gian chúng ta hay nói đến cái chung mà bỏ quên cái riêng, hoặc

không dám nói đến cái riêng Ai nói đến cái riêng là lập tức bị lên án

Chính cuộc đời của mỗi con người, số phận riêng lẻ của mỗi cá nhân luôn

luôn là nguồn cảm hứng cho mọi sáng tạo nghệ thuật Chỉ thông qua những cá nhân

riêng lẻ ấy, nghệ thuật mới phản ánh được số phận của dân tộc, của thời đại

Không nên gò ép xã hội chỉ có chung một thị hiếu thẩm mỹ Không nên áp

đặt sinh viên chỉ có một thị hiếu thẩm mỹ khi cảm thụ văn chương

III Bản chất của cái đẹp

Cái đẹp là một phạm trù giá trị Cái được cho là đẹp là cái được đánh giá bởi

giá trị của nó Cái đẹp là các giá trị cuộc sống

- Cái đẹp và cái ích lợi

Cái đẹp có nguồn gốc sâu xa từ cái có lợi, dần dần cái đẹp tách khỏi cái có

lợi

Ơû Châu mỹ, những cô gái ở một số bộ lạc đeo vòng bằng sắt nặng tới 15kg

(theo Lê Ngọc Trà)

Nhưng có nhiều cái lợi không đẹp Lợi cho mình mà hại cho người khác, hoặc

có nhiều cái tiện lợi cho việc làm điều ác

- Cái đẹp và cái thiện

Trang 13

Cái đẹp gắn liền với cái thiện, với cái đạo đức Trong văn học cổ Việt nam,

cái đẹp gắn với cái thiện, cái đạo đức

Nhưng cái đẹp không trùng với cái thiện Có nhiều cái thiện không đẹp Có

những người tốt mà mình không thích, nhưng lại yêu một cô không tốt theo quan

điểm đạo đức

Cũng có nhiều cái đẹp không thiện: nhiều người nói đẹp mà trong bụng một

bồ dao găm Có nhiều trái đẹp mà độc

Trong quan hệ ứng xử hàng ngày người ta đối xử bằng quan hệ thẩm mỹ

nhiều hơn quan hệ đạo đức, chính trị

Có thời gian ta đồng nhất thẩm mỹ với đạo đức và chính trị

Văn học và đạo đức:

Văn học cổ trước đây là đạo đức, tuyên truyền cho đạo đức Văn học ngày

nay không thể như vậy, nhưng không thể bỏ qua đạo đức, vì đạo đức là cái kiềng ba

chân của xã hội, là nền tảng của xã hội Vậy mối quan hệ giữavăn học và đạo đức?

Văn học là sự ăn năn về đạo đức Lương tâm của con người bị cắn rứt trong văn

học

- Cái đẹp với cái chân

Cái chân là phạm trù nhận thức Nhận thức là giá trị rất lớn của con người, dùng

thước đo này đo tất cả giá trị của con người Nghệ thuật kêu gọi nâng cao giá trị nhân

thức Từ lâu nhận thức là giá trị rất lớn của nghệ thuật Phương tây chú ý nhiều đến

khách quan, đến nhận thức, đồng thời cũng rất nhấn mạnh vai trò chủ thể Người đầu

tiên là Aristtote đặt vấn đề chân lý Vẻ đẹp gắn với vấn đề nhận thức Một tác phẩm có

giá trị là tác phẩm đó giúp cho chúng ta nhận thức được thế giới một cách chính xác

như nó đang tồn tại

Sáng tác mà chỉ gắn với tình cảm không thôi mà không gắn với vấn đề nhận

thức thì không thể có giá trị cao được Nghệ thuật không chỉ có nỗi buồn vui mà

phải chiêm nghiệm, tự nhận thức về nỗi buồn vui ấy

Từ Phục hưng trở đi nghệ thuật đặt vấn đề nhận thức vấn đề rất lớn Sécpia đã

từng nói nghệ thuật sẽ trăm lần đẹp hơn khi nó được trang hoàng bằng chân lý quí

giá vô ngần

Văn học Việt nam, với Nguyễn Du lần đầu tiên ý nghĩa nhận thức được đặt

ra:

“Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” Văn học hiện đại Việt nam đặt

vấn đề nhận thức con người, nhận thức cuộc sống rất lớn Con người luôn luôn là bí

ẩn, văn học có nhiệm vụ chiêm nghiệm về con người

Nhưng nếu đặt vấn đề nhận thức quá lớn, nghệ thuật chỉ có nhận thức không

thôi thì sẽ là nguy cơ đối với nghệ thuật, vì nghệ thuật là sự đồng hoà rất nhiều mặt,

tạo nên sự cân bằng trong đời sống con người Con người không phải lúc nào cũng

Trang 14

có sự chính xác, duy lý, mà nhiều khi còn phải có cái gì rất mập mờ, không xác

định được

Đôáttôiepxky viết Tội ác và trừng phạt là chống lại khuynh hướng duy lý, đề

cao tình yêu thương

Nghệ thuật không phải chỉ có vấn đề nhận thức mà còn là vấn đề tình cảm,

vấn đề cuộc đời, vấn đề thế giới quan

Chân lý nghệ thuật có hai mặt: nhận thức đúng cuộc sống như nó có, mặt

khác, nó còn là chân lý lịch sử, tức là đánh giá xã hội đó như thế nào, có đúng với

chân lý lịch sử mà xã hội đó có hay không? Ơû đó tác giả bày tỏ tình yêu, nỗi căm

giận đối với xã hội

Đề cao quá mức vấn đề nhận thức sẽ dẫn đến đề cao vấn đề phản ánh hiện

thực Nghệ thuật có phản ánh hiện thực, giúp con người nhận thức hiện thực, nhưng

nghệ thuật còn là vấn đề thái độ, tình cảm của nhà văn đối với hiện thực đó Văn

học không chỉ phản ánh mà quan trọng hơn là đặt vào đó tư tưởng gì

Cái đẹp là cái chân, nhưng không đồng nhất cái chân và cái đẹp

- Giá trị thẩm mỹ

Cái đẹp là sự sống, là cuộc sống Cái đẹp có quan hệ với cái có ích, cái thiện,

cái chân, nhưng cái đẹp là cái gì gợi cho con người ý thức về cuộc sống Cái đẹp

xét đến cùng là sự sống, là cuộc sống Tất cả những cái gì gợi cho con người ý thức

về cuộc sống, cuộc sống mà mình hằng ao ước, đều là đẹp Tsécnưsepxki đã định

nghĩa về cái đẹp rất đúng: “Cái đẹp là cuộc sống”, “là đẹp, vật nào qua đó mà

chúng ta nhận thấy cuộc sống như nó phải là cuộc sống theo những khái niệm của

chúng ta; là đẹp, đối tượng nào qua bản thân nó biểu hiện cuộc sống hoặc nhắc nhở

chúng ta về cuộc sống”.1

Cái chết là đẹp là cái chết cho một cuộc sống tốt đẹp hơn

Sự sống là một phạm trù rộng lớn, phù hợp với phạm trù cái đẹp

Trong quá trình phát triển của con người, cái đẹp chính là mục đích của nghệ thuật

IV Cái đẹp trong nghệ thuật

Cái đẹp trong nghệ thuật tập trung nhất, cao nhất, do con người sáng tạo ra,

do đó mang đậm sắc thái chủ quan của con người

1 Trong tác phẩm nghệ thuật, cái đẹp bộc lộ ở ba điểm:

- Truyền đạt cái đẹp ngoài đời vào trong tác phẩm

Cuộc đời vô cùng phong phú Nghệ thuật của mỗi thời đại đều tìm tòi, phản

ánh cái đẹp của thời đại mình vào trong tác phẩm Nghệ thuật cổ đại Hy lạp phát

hiện ra cái đẹp hình thể của con người Nghệ thuật thời Phục hưng phản ánh cái

1 N.G Tsécnư sepxki Những quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với hiện thực Theo I.U.Bôrép

Những phạm trù mỹ học cơ bản Sđd, trang 170

Trang 15

đẹp của con người mang đầy tính chất trần thế, đầy tính nhân văn Nghệ thuật lãng

mạn đề cao cái đẹp phi thường, quá cỡ, đối lập giữa thiên thần và quỉ sứ, giữa ánh

sáng và bóng tối Nghệ thuật hiện thực nhận thức, chiêm nghiệm cái đẹp giữa cuộc

đời bình thường hàng ngày của con người

Văn học cổ Phương đông chỉ phản ánh chiêm ngưỡng cái đẹp Văn học lãng

mạn cho con người sống cao thượng, anh hùng Văn học hiện thực làm cho con

người từng trải hơn, hiểu đời hơn

- Cái đẹp trong cảm xúc thẩm mỹ

Nghệ thuật do con người tạo ra, do đó mang sắc thái chủ quan của con người,

tình cảm của con người Nhà nghệ sĩ qua việc phản ánh hiện thực, đặt vào đó cả

trái tim của mình Tình cảm cũng có vẻ đẹp của nó

Một bài thơ chúng ta rung động chính là qua sự rung động của tác giả

Trong hội hoạ cũng vậy Chính vì vậy mà những bức tranh phong cảnh đều

thẫm đẫm tình cảm của con người

- Cái đẹp của hình thức

Trong nghệ thuật không chỉ là vấn đề nội dung mà hình thức của nó vô cùng

quan trọng, nó quyết định sự tồn tại của tác phẩm Cái đẹp của hình thức là mẫu số

chung của tác phẩm nghệ thuật

Đánh giá nhà văn thời gian qua ta thường đánh giá qua nội dung Điều đó không

đúng Tài năng của nhà văn, giá trị của tác phẩm, cái chính là ở hình thức nghệ thuật

Anh viết về cái gì đó cũng phải viết cho thật hay Nguyễn Tuân chỉ viết về những cái

nhỏ, như chuyện uống trà, về cái ấm đất … nhưng không thể căn cứ vào đó mà đánh giá

thấp tác giả

2 Nghệ thuật như là một hoạt động thẩm mỹ

Nghệ thuật như là một hoạt động thẩm mỹ chuyên nghiệp Đây là sự lao động

kiên nhẫn, bền bỉ nhưng hoàn toàn tự giác

Đầy say mê và hứng thú: không say mê và hứng thú thì không sáng tạo được nghệ

thuật

Sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi tài năng: từ quan sát, phát hiện, nghiền ngẫm đến

thể hiện nó ra bằng tác phẩm

Hoạt động của thẩm mỹ là hoạt động của tưởng tượng: khi người nghệ sĩ sáng

tạo ra tác phẩm nghệ thuật chính là sản phẩm tưởng tượng của anh ta

Hoạt động thẩm mỹ đòi hỏi nhà nghệ sĩ sống hết mình với cuộc đời

Chúng ta là những người đi lướt qua cuộc đời Nhà văn luôn luôn dừng lại, chiêm

nghiệm, nghiền ngẫm về cuộc đời, về kiếp người, về số phận của nó Khi chúng ta vui

sướng với cái đẹp đã là đáng quí, nhưng khi chúng ta khóc với cái đẹp lại càng đáng quí

hơn

Trang 16

3 Nghệ thuật như là tiếng nói của con người đối với cuộc sống

Nghệ thuật, một mặt là cái đẹp, một mặt nó còn là hoạt động thẩm mỹ của con

người

Nghệ thuật là hoạt động giao tiếp: viết văn là để giãi bày, để chia sẻ Người

ta sống lại những gì mình đã trải qua Văn học thường là viết về những gì mà nhà

văn vỡ lẽ ra trong cuộc đời, cái điều mà mình nghiệm ra, chứ văn học không viết

về những điều mà mình mới nghĩ ra Người đọc chia sẻ với nhà văn vì nhà văn viết

trúng những điều mình nghĩ Phê bình là nói được những gì mà nhà văn viết trong

tác phẩm

Nghệ thuật là hoạt động nhận thức Khoa học và nghệ thuật nhận thức khác

nhau ngay từ đối tượng chứ không phải chỉ hình tượng Văn học nhận thức con

người, đời người, về đời sống tinh thần của con người, về những suy nghĩ của con

người

Nghệ thuật như là một hoạt động đánh giá về đạo đức, chính trị, nghệ thuật

còn là sự bày tỏ thái độ

Trang 17

CÁI BI KỊCH

I Bản chất thẩm mỹ của cái bi kịch

1 Nội dung phản ánh của cái bi kịch

Khác với cái hài kịch, nội dung phản ánh của cái bi kịch là những vấn đề

trọng đại, những vấn đề lớn lao của xã hội và lịch sử, như vấn đề lý tưởng chính trị,

vấn đề tự do, vấn đề công bằng xã hội, vấn đề hạnh phúc cá nhân …

Nhân vật của bi kịch bao giờ cũng là những con người tiên tiến, giữ những

vai trò quan trọng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Nhân vật của bi kịch cổ

điển bao giờ cũng là những hoàng tử, vua chúa hoặc những tướng lĩnh đầy tài ba …

Bi kịch cách mạng xuất hiện những nhân vật của quần chúng cách mạng

Các nhà mỹ học xưa nay đều đánh giá rất cao bi kịch, như Aristtote cho rằng

bi kịch nhằm chữa lành chứng bệnh

Nếu hài kịch là một loại hình thẩm mỹ dùng tiếng cười để tống tiễn cái xấu

xa, cái lạc hậu vào quá khứ một cách vui vẻ thì bi kịch là một loại hình thẩm mỹ

nghiêm trang, dùng tiếng khóc để răn đời Chính vì vậy bi kịch là một loại hình

thẩm mỹ có ý nghĩa triết lý sâu xa

2 Xung đột bi kịch

Nói tới bi kịch cũng là nói tới xung đột giữa cái đẹp và cái xấu Nhưng so với

xung đột trong hài kịch, xung đột trong bi kịch có những nét khác nhau căn bản

Nếu xung đột trong hài kịch là xung đột giữa cái đẹp với một bộ phận của cái

xấu mà không đành phận xấu; thì xung đột trong bi kịch lại là xung đột trực diện

giữa cái đẹp và cái toàn bộ xấu Nếu xung đột trong hài kịch là xung đột tự thân

của một bộ phận cái xấu, do nó cố tình luồn lách vào cái đẹp, và cái đẹp có nhiệm

vụ phát ra một luồng ánh sáng cực mạnh để soi tỏ những chiếc rễ tầm gửi bám trên

một cơ thể sống, để mọi người biết nhổ bật nó ra, thì xung đột trong bi kịch là xung

đột của cả hai phía đang vận động Ơû đây cả cái đẹp và cái xấu đều muốn tỏ ra có

giá trị tồn tại hợp pháp, và đều cố gắng duy trì sự tồn tại đó Chính vì vậy mà xung

đột trong bi kịch là những xung đột gay gắt không khoan nhượng, không hòa giải,

xuất phát từ những lực lượng đối kháng nhau

Hêghen đã viết: “Nếu những quyền lợi, trong bản thân chúng, đều thuộc vào

loại như sau: thật ra không xứng đáng vì chúng mà hy sinh những cá nhân này nọ,

vì rằng những cá nhân đó vẫn có thể vừa không tự phản lại mình vừa từ bỏ việc đeo

đuổi mục đích của mình hoặc đi tới chỗ hòa giải với những địch thủ của mình, nếu

vậy thì không cần thiết phải kết thúc một cách bi kịch”.1

1 Tạp chí phê bình văn học (tiếng Nga), số 7-1936, trang 80 Dẫn theo Bôrép Những phạm trù

mỹhọc cơ bản, sđd, trang 324

Trang 18

Những mâu thuẫn sản sinh ra xung đột bi kịch đều hoặc là những mâu thuẫn chỉ

có thể giải quyết được bằng cái chết của một trong hai bên đối lập, hoặc là những

mâu thuẫn không thể giải quyết được trong thời đại chúng ta, và đạt tới mức độ gay

gắt nhất

3 Kết thúc bi kịch

- Hàng loạt những nhân vật bị chết (kể cả chính diện và phản diện)

- Cái chết của những nhân vật tích cực có tính cách cao cả có tác dụng “thanh

lọc” tâm hồn con người mà Aristtote gọi là “Katátxít”

“Cái chết của nhân vật bi kịch đem lại một sự tổn thất nghiêm trọng cho

những lực lượng tích cực Tuy nhiên, sự tổn thất đó có tính nhất thời, vì biến cố bi

kịch gợi nên sự hưởng ứng tích cực trong lòng người Nó kích thích niềm căm ghét

đối với những thế lực xã hội đã lỗi thời, và chung qui góp phần vào việc đoàn kết

và động viên những lực lượng tiến bộ để đấu tranh chống lại nguồn gốc của cái bi

kịch”.1

II Những hình thức điển hình của cái bi kịch

1 Bi kịch của cái mới

a Bi kịch của các nhân vật chết trong đêm trường đen tối

Đây là một dạng thức bi kịch lịch sử và có tính chất điển hình nhất Nói như

Aêng ghen “ Đây là xung đột bi kịch giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình

trạng không thể nào thực hiện được điều đó trong thực tiễn”.2 Như vậy, bi kịch ở

đây là bi kịch của cái mới, cái tiến bộ, cái cách mạng đang còn ở trong thế yếu Ơû

trong một hoàn cảnh lịch sử đã nảy sinh những nhu cầu tất yếu cần thay đổi vì nó

đã già cỗi, nhưng điều kiện để thực hiện nhu cầu đó lại chưa chín muồi Nhưng

không vì thế mà ngã lòng, lịch sử đã hiến dâng những con người ưu tú nhất của

mình, những người dám đón nhận sứ mạng cao quí là hiến dâng tính mạng của

mình làm ngọn đuốc sáng bừng tỉnh cả một dân tộc, thậm chí cả nhân loại còn chìm

đắm trong đêm trường đen tối Các nhân vật đó phải chết một cách vĩ đại, vì ở đây,

họ không chỉ đại diện cho cá nhân họ, họ cũng không chỉ đại diện cho một bộ phận

nhỏ bé nào đó của xã hội, mà họ đại diện cho những giai cấp và những trào lưu

nhất định của thời đại họ

Tính cách của các nhân vật loại này trở nên trác tuyệt và cái chết của họ

mang tính bi kịch sâu sắc rộng lớn Họ hành động một cách tự nguyện với một ý

thức trách nhiệm sâu sắc trước lịch sử, coi sự dấn thân vào giông bão là một nhiệm

vụ thiêng liêng không thể thoái thác được, và họ cũng nhận thấy rằng ngoài họ ra,

những người khác chưa thể làm được

1 Theo Iu.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản Sđd, trang 326

2 C.Mác- Ph.Ang ghen- Lênin Về văn học nghệ thuật Nxb Sự thật H., 1977, trang 378

Trang 19

Họ chết một cách bi kịch, nhưng không bi thảm Cái chết của họ thôi thúc mọi

người đứng dậy đấu tranh để thực hiện lý tưởng của họ

b bi kịch của các nhân vật chết trước lúc bình minh

Ơû đây cũng là dạng thức bi kịch lịch sử, nhưng cái mới, cái tiến bộ và cách

mạng đã ở thế thắng trong toàn cục, còn một bộ phận nào đó của nó lâm vào hoàn

cảnh khiến cho người anh hùng bị sa cơ và bị tiêu vong thảm thương

Hành động của các nhân vật anh hùng thuộc loại này là một hành động hợp

với yêu cầu tất yếu của lịch sử, và khả năng thực hiện lý tưởng của họ đã mở rộng

Song cuộc chiến đấu một mất một còn ấy diễn ra vô cùng gay gắt, trong một điều

kiện và hoàn cảnh nhất định, ở một thời điểm nhất định, kẻ địch còn tập trung được

nhiều lực lượng, và tỏ ra là lợi hại, người anh hùng chiến đấu trong điều kiện đó

rất có thể bị thất bại, bị đàn áp khốc liệt

Tuy người anh hùng chết đi, nhưng lý tưởng của họ tỏa sáng, được cả thế lực

của họ, dân tộc của họ nối tiếp xả thân vì lý tưởng ấy

Sự ngã xuống của họ không phải là sự vấp ngã giữa đêm trường đen tối, mà là

sự ngã xuống ngay trước ngưỡng cửa bình minh, nó có tác dụng làm bật tung cái

then cài im lìm khóa chặt nhiều năm để mọi người từ trong hầm tối tràn ra ánh

sáng Chính vì vậy cái chết của nhân vật anh hùng này có một tính chất mỹ học mới

– tính chất bi hùng lịch sử, hay còn gọi là bi kịch lạc quan

2 Bi kịch của cái cũ

Các nhà mỹ học đều cho rằng bi kịch không những là bi kịch của những cái

mới, mà bi kịch còn là bi kịch của cái cũ

Theo Bôrép thì bi kịch của cái cũ thể hiện trong ba hoàn cảnh sau đây:

a Bi kịch của giai cấp cũ có thể xảy ra, chẳng hạn trong trường hợp nó bị tiêu

vong trong đấu tranh chống lại một giai cấp mới nảy sinh mà nó vẫn còn chưa mất

hết khả năng phát triển nội tại của nó, vẫn còn chưa tỏ ra là hoàn toàn đã lỗi thời

Sự tiêu vong của cái cũ mang tính bi kịch, khi cái cũ chết đi mà chưa kiệt hết

sinh lực của nó, chưa kinh qua giai đoạn cuối cùng của cảnh thối nát và cảnh chết Bi

kịch của sự lầm lạc của chính cái cũ Những con người “đứng ở phía chế độ cũ không

phải là sự lầm lạc có tính cá nhân, mà là sự lầm lạc có tính chất lịch sử toàn thế giới

Chính vì vậy cái chết của nó là bi kịch” (Mác, phê phán triết học pháp luật của

Hêghen, toàn tập, tập I, trang 418 – dẫn theo Đỗ Văn Khang, Đỗ Huy – Mỹ học Mác

Lênin trang 104)

b Bi kịch của cái cũ cũng phát sinh khi cái cũ, trong một tình huống lịch sử

nhất định, đang gánh vác một nhiệm vụ tiến bộ mà lại bị tiêu vong khi ở một giai

đoạn đấu tranh cụ thể nào đó, nó góp phần vào sự phát triển của xã hội

c Cái cũ có thể có bi kịch khi những đại diện của xã hội cũ, sáng suốt nhận ra

được sự phá sản và số phận phải tiêu vong của giai cấp mình, nhưng lại không đủ

Trang 20

sức để đoạn tuyệt với giai cấp mình, hoặc không tìm ra được con đường đi đến cái

mới, do đó tất yếu dẫn tới tiêu vong thì cái chết của nó có thể có tính bi kịch

Về vấn đề khả năng phát sinh bi kịch của cái cũ và bi kịch của cái mới đã

được M.Đua-ni-cơ và sau đó là I.X mô-li-Aristtote-ni-nốp tổng kết như sau:

“Bi kịch chân chính chỉ có thể là cảnh tiêu vong hoặc cảnh bất hạnh lớn nhất

của những ai mà sự hoạt động tỏ ra chính đáng về mặt lịch sử; một hiện tượng hoặc

có ý nghĩa, có tác dụng về mặt xã hội, hoặc chưa mất hết khả năng phát triển nội

tại của nó, mà bị hủy diệt chăng, thì sự hủy diệt đó vẫn không làm tổn hại đến ý

nghĩa xã hội và lịch sử của hiện tượng Những ai mà sự hoạt động tỏ ra phù hợp với

những lý tưởng xã hội và thẩm mỹ tiến bộ, hoặc ít nhất cũng tỏ ra phù hợp với con

đường thực hiện những lý tưởng đó, thì cảnh tiêu vong hoặc cảnh bất hạnh rất lớn

của họ mang tính bi kịch”.1

1 Dẫn theo I.u.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản, sđd, trang 319

Trang 21

CÁI HÀI KỊCH

I Vài nét về lịch sử nghiên cứu cái hài kich

Cái hài kịch trong nghệ thật đã từng xuất hiện từ rất xa xưa, ngay từ buổi bình

minh của cuộc sống văn minh

Người đầu tiên bàn về cái hài kịch một cách sâu sắc đó là Aristtote Theo ông

cái hài kịch gắn liền với việc mô tả những cảnh bất hạnh và những hiện tượng tiêu

cực nhưng chẳng tổn hại đến ai, là “sự tái hiện những tính cách tương đối xấu” và

được mô tả không tới mức đồi bại Theo Aristtote, cái đáng buồn cười là một sự sai

lầm nào đó, một điều xấu xa nào đó không làm cho ai đau khổ và cũng không làm

tổn hại đến ai Oâng viết: “ Để khỏi tìm ví dụ xa xôi, mặt nạ hài kịch mang một nét

nào đó xấu xí và xuyên tạc, nhưng không biểu hiện niềm thống khổ”1 Theo ông,

mọi sự đi chệch mức độ vừa phải, đi chệch sự gắn bó với đức hạnh – đều sản sinh

ra những con người lầm lạc mà tính cách mang những mặt xấu nho nhỏ, và do đấy

đáng buồn cười Những tính cách như giận dữ, yếu đuối, hoang phí, bòn mót, tham

lam, bừa bãi đều thuộc vào loại đáng buồn cười

Theo quan niệm của Aristtote, ông không chấp nhận cái cười châm biếm, cái

cười tố cáo gây ra niềm căm giận, đau xót Chế giễu là một lối nguyền rủa Cần

phải cấm điều đó Trào lộng là cái cười thích hợp nhất theo quan niệm của

Aristtote, bởi vì trào lộng đem lại cái cười làm cho bản thân mình thích thú, trào

lộng là một sắc thái tế nhị của cái cười

Như vậy, mặt hạn chế trong quan niệm hài kịch của Aristtote ở chỗ ông cho

rằng xung đột hài kịch là những xung đột không có tầm quan trọng là một sự sai

lầm nào đó không làm cho ai phải đau khổ và cũng không làm tổn hại đến ai

Chính vì vậy ông không chấp nhận cái cười chế giễu, cái cười tố cáo gây ra niềm

căm giận đau xót, mà ông chỉ chấp nhận tiếng cười trào lộng, tiếng cười đem lại sự

thích thú giải trí

Ơû một mức độ nào đó, Kăng cũng tác thành với quan niệm hài kịch của

Aristtote khi ông viết : “ Hài kịch … mô tả những tình tiết tế nhị, những tình cảnh

đáng buồn cười của những gã nhãng trí đang phải tìm lối thoát, của những gã ngu

ngốc nhưng lại dám bày trò gạ gẫm, mô tả những cuộc đùa bỡn và và những tính

cách chê cười.” 2 Nhưng Kăng đã nhận thức được tác dụng to lớn của tiếng cười khi

ông nói ít người, trước mặt công chúng đông đảo, có thể chịu đựng được sự cười

nhạo và sự khinh bỉ của họ

Kăng cho rằng tiếng cười có thể làm dung hòa mâu thuẫn, khi ông viết : “ Tôi

không thể bực dọc với người mà tôi cười nhạo, ngay cả trong trường hợp người này

gây tổn hại đối với tôi”.3

1 Aristtote : Thuật sáng tạo, dẫn theo IU.Bôrép Những phạm trù văn học cơ bản Hoàng Xuân Nhị

dịch, trường đại học Hà nội xuất bản 1974, trang 53

2 I.Kăng Toàn tập, tập II, theo Iu.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản Sđd, trang 144

3 Iu Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản, sđd, trang 146

Trang 22

Kăng còn cho rằng tất cả các trường hợp hài kịch đều chứa đựng một yếu tố gì

đó có thể gây ngộ nhận trong chốc lát

Hêghen đã phát hiện ra rằng cơ sở của cái hài kịch là mâu thuẫn giữa tính bất

lực bên trong và cái vẻ bề ngoài có thực chất, tức là mâu thuẫn giữa bản chất và

hình tượng, nội dung và hình thức Nhận xét về hài kịch của Ari-xtô-phan, Hêghen

viết: “Trong những vở hài kịch của ông, điều được mô tả trong quá trình hoàn toàn

tan rã, không phải những gì thuộc thần linh và thuộc đức hạnh, mà chính là những

thói đồi bại dang cố tìm cách tự gán cho nó vẻ bề ngoài của những lực lượng có

thực chất nói trên, chính là một hình tượng, một hiện tượng cá nhân ngay từ đầu đã

thiếu hẳn một bản chất chân chính, do đó bản chất này dĩ nhiên chỉ có thể được gán

ghép từ bên ngoài vào bằng một trò chơi thành khẩn của tính chủ quan”.1

Khi giải thích về bản chất của cái hài kịch, Hêghen cũng cho rằng ưu thế của

yếu tố vật chất so với yếu tố tinh thần, của hình thức so với nội dung sản sinh ra cái

hài kịch Đây cũng là một phát hiện rất có giá trị khi nghiên cứu về cái hài kịch

Phát triển quan điểm trên của Hêghen, Tsécnưsepxki cho rằng, đặc điểm nổi

bật của cái hài kịch là sự trống rỗng, sự hoàn toàn vô nghĩa ở bên trong, nhưng lại

tự che đậy dưới một bề ngoài có tham vọng tự gán ghép cho nó một nội dung và

một ý nghĩa có thật

Khi cái xấu tìm cách làm ra vẻ nó không phải là cái xấu, thì nó gợi nên cái

cười do những tham vọng ngu ngốc và những mưu toan bất lực của nó Trong thiên

nhiên không có cái hài kịch, vì ở đó không có một tham vọng nào cả, chỉ có con

người, xã hội loài người mới có điều kiện tỏ ra khác với thực chất của mình, để phát

triển những tham vọng không đúng chỗ, vô lý và đi tới thất bại

Tsécnưsepxki cũng chỉ ra rằng trong khi cười cái xấu, chúng ta trở thành cao

hơn nó, và ấn tượng mà cái hài kịch gây nên ở con người là một sự hỗn hợp giữa

cảm xúc thích thú và cảm xúc khó chịu, tuy nhiên cảm xúc thích thú chiếm ưu thế

Tsécnưsepxki viết : “Aán tượng mà cái hài kịch gây nên ở con người là một sự

hỗn hợp giữa cảm xúc thích thú và cảm xúc khó chịu, tuy nhiên trong đó cảm xúc

thích thú thường chiếm ưu thế; có khi ưu thể đó nổi bật hẳn lên tới mức mà cảm

xúc khó chịu hầu như bị lấn át hoàn toàn Aán tượng nói trên biểu hiện bằng cái

cười Cái xấu trong hài kịch là cho chúng ta khó chịu; điều thích thú là ở chỗ chúng

ta đủ sáng suốt để nhận rõ rằng cái xấu là cái xấu Trong khi cười cái xấu, chúng ta

trở thành cao hơn nó Chẳng hạn, cười một gã ngu ngốc, tôi cảm thấy rằng mình

thấu hiểu cái ngu ngốc của y, mình thấu hiểu vì sao y ngu ngốc, và thấu hiểu y phải

như thế nào cho khỏi mang thói ngu ngốc, do đó tôi tự cảm thấy mình, trong lúc đó,

cao hơn nhiều so với gã đó Cái hài kịch gợi nên ở chúng ta cảm xúc về phẩm giá

của mình, như những người nô lệ ở thành quốc X Pác-tơ cổ đại, bị buộc phải uống

rượu say để nêu rõ cho những đứa trẻ nhỏ người Xpác-tơ thấy rằng “người công

dân” không nên uống rượu quá chén

1 Theo Iu Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản, sđd, trang 156

Trang 23

II Bản chất thẩm mỹ của cái hài kịch

Xét đến cùng bản chất của cái hài kịch là cái xấu Nhưng ở đây, cái xấu

không đành phận xấu

Cái trống rỗng, cái đã lỗi thời, cái đê tiện thường tìm cách che đậy bằng một

hình thức bên ngoài đẹp đẽ Đối với chúng, lối mang mặt nạ là một biện pháp để tự

bảo tồn Một hiện tượng như thế vẫn sống, vẫn tồn tại Nó tìm cách kéo dài cuộc sống

của nó tuy rằng nó không đáng sống nữa Như vậy, mâu thuẫn giữa một bên là thực

chất của hiện tượng nhất định và một bên là cái vẻ bề ngoài mà hiện tượng này muốn

có hoặc giả vờ có, hoặc cố tạo ra cho nó (tức là mâu thuẫn giữa nội dung trống rỗng

và hình thức cố làm ra vẻ quan trọng không tương xứng với nó) là một mâu thuẫn

mang tính hài kịch

Tiếng cười bật ra khi cái mặt nạ đột ngột bị đánh rơi Trong hài kịch tiếng

cười như bị kìm hãm, bị dồn nén, đột ngột bật ra khi chúng ta nhận thức đúng bản

chất ươn hèn của đối tượng Chính vì vậy khi ta thưởng thức cái hài kịch, tiếng cười

rộ lên từng đợt, từng hồi, làm cho con người vô cùng sảng khoái

Vậy, một hiện tượng xã hội nào được coi là đã lỗi thời theo quan điểm triết

học, là phản động theo quan điểm chính trị, thì theo quan điểm mỹ học cũng được

coi là một hiện tượng hài kịch

Hài kịch có một vị trí rất quan trọng trong xã hội, bởi vì nó có khả năng thông

qua tiếng cười để phê phán những thói hư tật xấu, để vạch trần những mâu thuẫn

và xung đột đang còn giấu mặt ra trước dư luận xã hội để con người kịp xử trí, do

đấy nó có tác dụng to lớn đối với lịch sử Mũi nhọn của hài kịch chĩa thẳng vào kẻ

thù của lịch sử

Trong các hình thái lịch sử xã hội, không phải bất cứ một hình thái lịch sử nào

cũng là hình thái lịch sử của cái hài kịch Chỉ khi “lịch sử hành động triệt để và khi nó

muốn đưa một hình thái già cỗi của cuộc sống đến huyệt, thì nó trải qua nhiều gia

đoạn Gia đoạn cuối cùng của một hình thái lịch sử toàn thế giớ, đó là tấn hài kịch của

nó”.1

Hài kịch không chỉ có tác dụng đánh vào kẻ thù của lịch sử, mà còn chỉ ra

thói ươn hèn của con người, là cơ sở đạo đức của xã hội Về vấn đề này, Bêlinxki

đã viết : “Hài kịch đòi hỏi phải có cái nhìn sâu sắc, nhạy bén vào những cơ sở của

nền đạo đức xã hội, và thêm nữa còn yêu cầu nghệ sĩ trong khi quan sát những cơ

sở đó với tâm tư khôi hài của mình, phải biết vận dụng khả năng lý giải của mình

để đứng cao hơn chúng”.2

Tất nhiên, cái đã lỗi thời, cái phản động không phải bao giờ cũng chỉ mang

tính hài kịch trong tất cả các hiện tượng của nó Nó có thể tỏ ra đê tiện, khủng

khiếp, nhưng tất cả các biểu hiện đó đều không loại trừ tính hài kịch Chính vì vậy

1 C.Mác Phê phán triết học pháp luật của Hêghen, toàn tập, tập I, trang 418 Theo Đỗ Vân Khang,

Đỗ Huy Mỹ học Mac- Lênin, Nxb đại học và THCN Hà nội, 1985, trang 84

2 Theo I.u.Bôrép Những phạm trù mỹ học cơ bản, sđd , trang 515

Ngày đăng: 20/03/2014, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác – PH. Aêng-Ghen – V.I.Lênin. Về văn học và nghệ thuật. Nhà xuất bản sự thật. Hà nội, 1977 Khác
2. IU. A. Lu-Kin, V. C. Xca-Che-Rơ-Sic-Cop. Nguyên lý mỹ học Mác Lênin. Nhà xuất bản sách giáo khoa Mác Lênin. Hà nội, 1984 Khác
3. IU. B. Bô-Rép. Những phạm trù mỹ học cơ bản. (người dịch Hoàng Xuân Nhị). Trường đại học tổng hợp Hà nội xuất bản, 1974 Khác
4. A. E. Ren-Groxx. Mỹ học khoa học diệu kỳ. Nhà xuất bản văn hóa. Hà nội, 1984 Khác
5. A. Achix. Kiến trúc tiêu chuẩn cái đẹp. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật. Hà nội, 1980 Khác
6. Đỗ Văn Khang, Đỗ Huy. Mỹ học Mác Lênin. Nhà xuất bản ĐH và THCN. Hà nội, 1985 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN