bé v¨n hãa, thÓ thao vµ du lÞch BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH Số 798 /BVHTTDL VP V/v Trả lời chất vấn tại Phiên họp thứ 18 của UBTVQH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Hà Nộ[.]
Trang 1Số: 798 /BVHTTDL-VP
V/v Trả lời chất vấn tại
Phiên họp thứ 18 của UBTVQH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2009
Kính gửi: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Phúc đáp Công văn số 485/VPQH-TH ngày 13 tháng 3 năm 2009 của Văn phòng Quốc hội về việc chuẩn bị nội dung trả lời chất vấn tại Phiên họp thứ 18 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch xin trả lời như sau:
1 Về tình trạng xâm phạm di tích lịch sử văn hóa diễn ra nhiều; công tác quản lý, giữ gìn các cơ sở văn hóa như bảo tàng, nhà hát, thư viện còn nhiều bất cập
1.1 Tình trạng xâm phạm di tích lịch sử văn hóa diễn ra nhiều
Hiện nay, cả nước có khoảng 4 vạn di tích lịch sử-văn hóa và danh
lam thắng cảnh Các tỉnh-thành có nhiều di tích gồm Thành phố Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,
Thành phố Hồ Chí Minh Trong số 4 vạn di tích đã kiểm kê, có 3.018 Di tích quốc gia; 5.347 Di tích cấp tỉnh.
Năm 2009, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang phối hợp với các địa phương chuẩn bị hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt I, gồm 12 di tích: Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Khu Đền-Tháp Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Khu di tích Đền Hùng, Khu di tích Pắc Pó, Di tích lịch sử Điện Biên Phủ, Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội, Khu Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Khu di tích Kim Liên, Nghệ
An, Hội trường Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng xâm phạm di tích: Theo kết quả kiểm tra và báo cáo của
các tỉnh, thành phố có 228/3.018 di tích xếp hạng quốc gia bị vi phạm,
chiếm 7,5% (Xem Phụ lục số 1: Bảng kê số lượng di tích quốc gia bị xâm phạm ở 21 tỉnh, thành) Trong số 5.347 di tích xếp hạng cấp tỉnh có 69 di tích bị xâm phạm, chiếm gần 1,3% (Xem Phụ lục số 2: Bảng kê số lượng
di tích cấp tỉnh bị xâm phạm).
Các thành phố lớn vẫn là những điểm nóng có nhiều di tích bị xâm phạm Hà Nội là địa phương đã đầu tư nhiều kinh phí và quỹ đất cho công tác giải tỏa xâm phạm di tích nhưng cũng là địa phương có nhiều di tích bị xâm phạm nhất (hiện có 1.200 hộ dân và 11 cơ quan đang sử dụng đất của
104 di tích như: Chùa Đồng Quang có 40 hộ dân, chùa Quang Minh có 25
Trang 2hộ dân, quán Huyền Thiên có 14 hộ dân, đình Kim Ngân có 22 hộ dân, chùa Kim Cổ có 1 hộ dân chiếm 40m2/100m2 diện tích của Chùa Gần đây, tại đình Hòa Mục quận Cầu Giấy cho xây dựng Nhà văn hóa án ngữ phía trước đình Lệ Mật, việc quy hoạch mở đường giao thông đi qua sát đình ảnh hưởng đến di tích nên nhân dân khiếu kiện tới nhiều nơi Khu di tích
Cổ Loa hiện có 586 hộ dân đang sinh sống trong khu vực bảo vệ của di tích (trên mặt thành có 233 hộ dân và trên hào có 353 hộ dân)
Một số di tích được xếp hạng quốc gia của Thành phố Hồ Chí Minh đang có nhiều hộ dân sinh sống như di tích Chùa Phụng Sơn cần giải tỏa,
di dời 132 hộ dân, di tích chùa Giác Viên cần thu hồi trên 2.000m2 đất và một số nhà dân ; tại di tích Cố đô Huế, riêng khu vực bảo vệ I của Kinh thành Huế có 2.800 hộ dân đang sinh sống (chủ yếu ở khu vực Thượng Thành, Eo Bầu, dọc sông Ngự Hà)
Một số hình thức xâm phạm: Thời kỳ chiến tranh, một bộ phận
nhân dân tại các đô thị do khó khăn về chỗ ở hoặc quay về từ các khu kinh
tế mới, đã xin phép làm người trông nom một số đình, đền, chùa cho cư trú tạm thời tại di tích Đến nay, bộ phận dân cư này không tự giải quyết được nhà ở nên vẫn tiếp tục sống ở di tích hoặc kể cả đã có chỗ ở nhưng vẫn sống trong di tích Nhiều hộ đã được cấp sổ đỏ nên công tác giải tỏa xâm phạm càng gặp khó khăn (phổ biến ở Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế )
Các di tích ở nông thôn vốn được xây dựng ở trung tâm làng, xã có
vị trí tốt, trải qua thời gian, cộng đồng dân cư phát triển, nhu cầu đất đai cho sản xuất và chỗ ở tăng cao, công tác quản lý tại một số nơi bị buông lỏng để dân lấn chiếm đất hoặc xây dựng quá độ cao và quy mô cho phép
Việc triển khai quy hoạch, dự án phát triển kinh tế-xã hội ở gần, thậm chí nằm hoàn toàn trong các khu vực bảo vệ của di tích lịch sử-văn hóa, không tham khảo ý kiến các Bộ, ngành liên quan, nên đã dẫn tới tình trạng xây cất trái phép xâm phạm vào khu vực bảo vệ di tích
Tóm lại, việc xâm phạm di tích ngoài một số vụ mới xảy ra thì chủ
yếu là những vụ tồn đọng của hàng chục năm trước mà hiện nay chưa có khả năng xử lý trong một vài năm Sau khi Luật Di sản văn hóa có hiệu lực, việc xâm phạm di tích được ngăn chặn và hạn chế nhiều
Nguyên nhân: Luật Di sản văn hóa được Quốc hội thông qua năm
2001, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 chưa được các ngành, các cấp và toàn thể cộng đồng nhận thức và thực hiện một cách đầy đủ, toàn diện
Công tác phân cấp quản lý còn nhiều bất cập, chưa cụ thể, rõ ràng, dẫn đến lúng túng trong thực thi và đùn đẩy, thiếu trách nhiệm trong việc
xử lý hoặc xử lý xâm phạm thiếu kiên quyết (một số tỉnh-thành như Hà Nội, Nghệ An phân cấp quản lý toàn diện nhiều di tích cho cấp quận,
Trang 3huyện nên sự phối hợp giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong một số trường hợp còn thiếu chặt chẽ; mô hình quản lý di tích còn bất cập, hai cơ quan cùng quản lý một di tích, dẫn đến tình trạng phân quyền, thiếu trách nhiệm khi xử lý các vấn đề nảy sinh như tại di tích Khu Đền-Tháp Mỹ Sơn (Trung tâm bảo tồn di sản, di tích trực thuộc Tỉnh và huyện Duy Xuyên); Phố cổ Hội An (Trung tâm bảo tồn di sản, di tích trực thuộc Tỉnh và Thành phố Hội An), nên chồng chéo, đội ngũ cán bộ chuyên môn ở địa phương mỏng, không được quy tụ, nên chất lượng hoạt động khoa học không cao, nảy sinh nhiều phức tạp trong công tác quản lý Quảng Ninh thành lập Ban quản lý các di tích trọng điểm quản lý 4 di tích Yên Tử, Bãi Cọc Bạch Đằng, Chiến khu Đông Triều, Thương cảng Vân Đồn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh nhưng lại có Trung tâm quản lý di tích Yên Tử trực thuộc thị xã Uông Bí)
Việc đầu tư tu bổ di tích còn thấp, đầu tư cho giải tỏa xâm phạm còn thấp hơn nữa Giải tỏa xâm phạm di tích đòi hỏi quỹ nhà, quỹ đất và kinh phí hỗ trợ đền bù, di chuyển không nhỏ trong khi đó chưa địa phương nào
có kế hoạch, chính sách cụ thể và dài hạn cho công tác này nên số di tích được giải tỏa hàng năm ít
Việc cắm mốc địa giới theo bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích chưa được các địa phương chú trọng triển khai, việc lấn chiếm càng dễ xảy ra
Giải pháp: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về di sản văn hóa:
sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định số 92/2002/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa; rà soát Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 được Bộ Văn hóa - Thông tin phê duyệt tại Quyết định số1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 4/7/2001; sửa đổi, bổ sung Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành tại Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ngày 06/02/2003) Một
số nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa chuẩn bị trình Quốc hội xem xét như: Định nghĩa yếu tố gốc cấu thành di tích; quy định việc khoanh vùng bảo vệ di tích, việc đưa các di tích đã được kiểm kê nhưng chưa xếp hạng cần được bảo vệ theo quy định của Luật Di sản văn hóa; việc ủy quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép khai quật khẩn cấp, việc đề nghị Chính phủ ban hành Nghị định quy định trình tự, thủ tục lập, phê duyệt và triển khai dự án tu bổ di tích…)
Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức pháp luật về di sản văn hóa của các ngành, các cấp và của toàn thể cộng đồng Phát huy vai trò giám sát của nhân dân tham gia ngăn chặn, giải quyết xâm phạm di tích
Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật Di sản văn hóa và đầu tư cho bảo tồn di sản văn hóa từ ngân sách địa
Trang 4phương; chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác chống xâm phạm di tích
Chỉ đạo các địa phương xây dựng kế hoạch dài hạn về giải tỏa xâm phạm di tích gắn với các chương trình phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương Rà soát lại phạm vi khoanh vùng bảo vệ di tích, nhất là các di tích được xếp hạng trước năm 1990 (có trường hợp xác định địa giới không rõ ràng, có trường hợp khoanh vùng quá rộng )
Kiện toàn bộ máy cơ quan quản lý di tích đặc biệt là cơ quan quản lý trực tiếp như ban quản lý các đình, đền, chùa… Quy định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc tổ chức quản lý di tích
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng, kịp thời lên
án các hành vi xâm phạm di tích cũng như bảo vệ, ngăn chặn, giải quyết xâm phạm di tích
1.2 Công tác quản lý, giữ gìn các cơ sở văn hóa như Bảo tàng, Nhà hát, Thư viện còn nhiều bất cập
a) Bảo tàng:
Hiện nay cả nước có 126 Bảo tàng, bao gồm: 06 Bảo tàng trực thuộc
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 06 Chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh (bộ máy nhân sự trực thuộc tỉnh), 26 Bảo tàng thuộc Bộ Quốc phòng, 11 Bảo tàng trực thuộc các Bộ, ngành, 69 Bảo tàng thuộc các tỉnh-thành, 08 Bảo
tàng tư nhân
Một số bất cập: Chậm triển khai công tác Quy hoạch hệ thống bảo
tàng Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg, ngày 26/3/2005
Kinh phí đầu tư xây dựng, sưu tầm hiện vật, trưng bày và tổ chức hoạt động của bảo tàng còn thấp, chưa tương xứng với vị trí, vai trò, yêu cầu phát triển Kiến trúc bảo tàng chưa thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc Nội dung trưng bày còn trùng lặp, kém hấp dẫn, công tác tuyên truyền quảng bá yếu Việc ứng dụng công nghệ hiện đại cho công tác trưng bày (công nghệ tin học, kỹ thuật lade, trình chiếu hình ảnh minh họa…), bảo quản (thiết bị và công nghệ vật lý cho kiểm tra tình trạng hiện vật, thiết bị
và công nghệ hóa học cho bảo quản hiện vật theo chất liệu hữu cơ, vô cơ…) còn hạn chế
Nhiều dự án đầu tư xây dựng bảo tàng chưa tuân thủ quy trình xây dựng và trưng bày bảo tàng (chưa thực hiện đầy đủ các bước chuẩn bị khoa học phục vụ việc thiết kế và tổ chức trưng bày; chưa có ý kiến thỏa thuận, đóng góp chuyên môn của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về nội dung và thiết kế trưng bày ) Đội ngũ tư vấn thiết kế bảo tàng và trưng bày bảo tàng còn mỏng, yếu, thiếu, chưa tiếp cận được với trình độ quốc tế, tiến độ thực hiện còn chậm
Trang 5Nguyên nhân: Các cấp, các ngành còn chưa nhận thức đúng đắn,
đầy đủ về vị trí, vai trò của các bảo tàng và yêu cầu về đầu tư để đảm bảo điều kiện cho việc xây dựng và tổ chức hoạt động của các bảo tàng, chưa triển khai thực hiện Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg, ngày 26/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020
Kinh phí đầu tư cho xây dựng và trưng bày bảo tàng thấp, chưa cân đối giữa đầu tư cho xây dựng và đầu tư cho trưng bày (Chủ yếu đầu tư phần vỏ, chưa quan tâm đến phần nội dung trưng bày, tổ chức hoạt động bảo tàng (đầu tư cho xây dựng bảo tàng thường gấp 2 đến 3 lần đầu tư cho trưng bày nội thất và tổ chức hoạt động bảo tàng), do đó, nội dung trưng bày nghèo nàn, không hấp dẫn
Năng lực đội ngũ cán bộ chuyên môn của ngành, đội ngũ cán bộ tư vấn xây dựng bảo tàng chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới hoạt động bảo tàng hiện nay
Giải pháp: Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai
trò của bảo tàng để bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân
Tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc triển khai quy hoạch hệ thống bảo tàng theo Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Tăng cường đầu tư kinh phí cho việc xây dựng, trưng bày, tổ chức hoạt động, đào tạo đội ngũ cán bộ của bảo tàng…
Đổi mới phương thức hoạt động, gắn việc tổ chức hoạt động văn hóa, kỷ niệm truyền thống, trình diễn di sản văn hóa phi vật thể với trưng bày cố định Mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế
b) Nhà hát:
Hiện nay cả nước có 133 đoàn nghệ thuật và hơn 200 đơn vị xã hội
hóa trong lĩnh vực nghệ thuật Thiết chế văn hóa được gọi là Nhà hát trên
cả nước hiện nay có 17 cơ sở, trong đó có 07 nhà hát do Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch quản lý, 10 nhà hát do các tỉnh-thành quản lý (Các nhà hát
trực thuộc Bộ: Nhà hát lớn Hà Nội, Nhà hát Tuổi trẻ, Nhà hát Múa Rối
Việt Nam, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, Nhà hát Kim Mã, Nhà hát
Hồng Hà, Rạp Xiếc Trung ương Các nhà hát địa phương: Nhà hát Múa
rối Thăng Long, Cung văn hóa Hữu nghị Hà Nội, Nhà hát lớn Hải Phòng, Nhà hát Tháng Tám-Hải Phòng, Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát Hòa Bình, Nhà hát Bến Thành (thành phố Hồ Chí Minh), Nhà hát 3-2-Nam Định, Nhà hát Trưng Vương-Đà Nẵng, Nhà biểu diễn đa năng Đà Nẵng)
Trang 6Các Nhà hát ở Trung ương và địa phương trong những năm qua đã góp phần tích cực vào việc nâng cao nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của các cơ quan Trung ương
và địa phương Các nhà hát là nơi biểu diễn nghệ thuật, địa điểm tổ chức những sự kiện chính trị của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ban, ngành và địa phương
Bất cập: Có 50% trong tổng số 17 Nhà hát đã xuống cấp, không đủ
trang thiết bị, phải đưa thêm trang thiết bị từ bên ngoài khi cần sử dụng, nên thiếu đồng bộ trên sân khấu về âm thanh và ánh sáng
Điều bất cập duy nhất hiện nay là 2/3 các Nhà hát trên toàn quốc không thường xuyên đỏ đèn, không sử dụng hết công năng hoạt động biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân Vấn đề này đã diễn ra nhiều năm nay, vì nghệ thuật sân khấu, ca, múa, nhạc vẫn đang bị khủng hoảng khán giả trong cơ chế thị trường hiện nay
Phần lớn các Nhà hát không nằm ở vị trí trung tâm, xa khu dân cư, khó khăn trong việc thu hút khán giả đến thưởng thức nghệ thuật Đặc biệt,
ở những thành phố lớn những vị trí đẹp thường được ưu tiên cho siêu thị, nhà hàng, quán bar, các khu đô thị mới, ít quan tâm đến xây dựng các khu dịch vụ văn hóa
Các đoàn đi biểu diễn do thiếu sân khấu nên thường tổ chức tại các sân bóng đá, sân kho, hội trường , không đáp ứng được tiêu chuẩn
Nguyên nhân: Có quá nhiều loại hình giải trí để khán giả lựa chọn.
Đội ngũ Nghệ sĩ chưa sáng tạo được những tác phẩm đạt chất lượng nghệ thuật cao thu hút khán giả đến với sân khấu
Các đơn vị nghệ thuật, các Nhà hát chưa tìm được những phương thức hoạt động phù hợp với cuộc sống để phát huy hết công năng của Nhà hát trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân
Cơ sở vật chất của nhiều Nhà hát xuống cấp, không đủ tiêu chuẩn đáp ứng sự đòi hỏi của khán giả; nhiều địa phương chưa quan tâm đến việc xây dựng các Trung tâm biểu diễn nghệ thuật
Giải pháp: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đang trình Chính phủ
cho phép xây dựng thêm một số nhà hát từ 5000-7000 chỗ ở một số tỉnh-thành, nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của nhân dân
Chỉ đạo xây dựng Đề án dàn dựng 100 kịch bản nổi tiếng để giới thiệu tinh hoa sân khấu nhân loại, các giá trị đặc sắc của sân khấu Việt Nam với khán giả đương đại
Thường xuyên tổ chức liên hoan chuyên nghiệp và không chuyên biểu diễn nghệ thuật trong nước và quốc tế để các nghệ sỹ, diễn viên có dịp được giao lưu, trao đổi nâng cao trình độ chuyên môn
Trang 7Tăng cường đào tạo, trao đổi kinh nghiệm góp phần thay đổi diện mạo đời sống sân khấu nhiều năm qua đang bị khủng hoảng khán giả do thiếu những kịch bản hay
c) Thư viện:
Thực trạng: Đã hình thành một mạng lưới thư viện công cộng trong
cả nước, với tổng số hơn 17.000 thư viện (01 Thư viện Quốc gia Việt Nam;
63 thư viện cấp tỉnh (trước đây là 64); 618 thư viện cấp huyện; 16.000 thư viện, phòng đọc sách cấp xã và cơ sở; 37 thư viện tư nhân có phục vụ cộng
đồng
Hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị thư viện: 50% số thư viện
cấp tỉnh được xây dựng mới: Bình quân 10 tỷ đồng/thư viện (bằng ngân
sách địa phương); trung bình mỗi năm có 04 thư viện được khởi công xây dựng; 30% số thư viện cấp huyện được xây dựng mới, bình quân 1 tỷ đồng/thư viện (bằng ngân sách địa phương); hiện nay đã có 63 thư viện
được xây dựng mới bằng kinh phí từ Chương trình mục tiêu quốc gia về
văn hóa (500 triệu đồng/thư viện và vốn đối ứng của địa phương).
Đã hình thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Thư viện, tạo hành lang pháp lý quan trọng, tác động sâu sắc, tích cực đối với
sự phát triển của sự nghiệp Thư viện Việt Nam, góp phần hoàn thiện thể chế, thiết chế thư viện; giúp thư viện xác định được phương hướng phát triển và hoạch định kế hoạch hoạt động; đồng thời làm căn cứ để tranh thủ
sự quan tâm đầu tư về mọi mặt của Nhà nước, sự ủng hộ của xã hội đối với hoạt động thư viện tạo điều kiện cho thư viện phát triển; nhà nước đã ban hành những văn bản quan trọng liên quan đến lĩnh vực Thư viện
05 mục tiêu trong Chương trình Mục tiêu quốc gia về văn hóa trong lĩnh vực thư viện: 1) Chương trình cung cấp sách hạt nhân cho 400 thư
viện huyện/năm; 2) Chương trình cung cấp sách cho kho phục vụ lưu động của 64 thư viện cấp tỉnh/năm; 3) Chương trình mua sắm các trang thiết bị chuyên dùng bảo quản kho tài liệu quí, hiếm cho các thư viện tỉnh (10 thư viện/năm); 4) Chương trình xây dựng trụ sở thư viện cấp huyện ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn (10 thư viện/năm); 5) Chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ thư viện cơ sở (năm 2009: 150 triệu đồng/năm)
Tăng tổng kinh phí cấp cho Chương trình mục tiêu quốc gia về văn
hóa trong lĩnh vực thư viện: năm 2001-2003: 12,778 tỷ; năm 2004-2006: 31,560 tỷ; năm 2007-2009: 69,750 tỷ.
Bất cập: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đủ mạnh (mới
chỉ có Pháp lệnh Thư viện, chưa có Luật Thư viện); nhiều quy định của Pháp lệnh Thư viện chậm được cụ thể hóa để hướng dẫn thực hiện; một số nội dung văn bản còn chậm được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Công tác kiểm tra, thanh tra việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực Thư viện
Trang 8chưa kịp thời; chưa có chế tài đủ mạnh xử lý vi phạm Đầu tư về cơ sở vật chất, kỹ thuật, cán bộ, kinh phí thư viện ở một số địa phương chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của thư viện trong tình hình mới
Một số thư viện tỉnh (Hòa Bình, Hà Nam, Bắc Kạn, Hưng Yên, Quảng Bình, Bình Phước ), đặc biệt là thư viện cấp huyện vẫn gặp khó khăn kéo dài về cơ sở vật chất Trụ sở làm việc vẫn phải ghép chung với cơ quan, thiết chế văn hóa khác hoặc nhà cấp 4
Mạng lưới thư viện cấp xã và cơ sở phát triển nhanh chóng nhưng không bền vững do thiếu đầu tư đồng bộ Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong các thư viện chưa đồng đều, so với các nước tiên tiến trong khu vực có khoảng cách khá xa, kể cả Thư viện Quốc gia Việt Nam Đội ngũ cán bộ thư viện cấp huyện còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển mới
Nguyên nhân: Ở một số nơi, một số ngành chưa nhận thức đầy đủ
về vai trò văn hóa đọc, khai thác sách báo và thư viện còn hạn chế, đầu tư chưa đúng mức cho hoạt động thư viện Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thư viện chưa hoàn thiện, các chính sách, giải pháp chưa đủ mạnh để huy động mọi nguồn lực của xã hội xây dựng và phát triển sự nghiệp thư viện Đội ngũ cán bộ thư viện chưa năng động, còn thiếu các kiến thức chuyên môn mới, các kiến thức quản lý thư viện hiện đại, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành trong bối cảnh mới Chế
độ, chính sách cán bộ còn nhiều bất cập nên không giữ chân hoặc thu hút được những cán bộ giỏi yên tâm công tác lâu dài cho ngành
Giải pháp: Bám sát các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thư
viện (Pháp lệnh Thư viện ) để tiếp tục chỉ đạo cơ quan tham mưu quản lý nhà nước của ngành ở các địa phương quan tâm đầu tư đối với hoạt động thư viện Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thư viện; tăng cường giáo dục pháp luật và công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực thư viện
Tăng cường và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của thư viện đối với đời sống xã hội, đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương; từ đó nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương, của cộng đồng dân cư, tăng cường đầu tư cho hoạt động thư viện Tiếp tục duy trì Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa trong lĩnh vực thư viện
2 Lễ hội phát triển tràn lan, kịch bản giống nhau, tốn kém nhiều thời gian, tiền của; có nhiều nơi để hoạt động mê tín dị đoan phát triển; các hủ tục trong dân gian như việc hiếu, hỷ ngày càng nặng nề
2.1 Lễ hội phát triển tràn lan, kịch bản giống nhau, tốn kém nhiều thời gian, tiền của
Trang 9Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng phổ biến, bao gồm:
Lễ hội dân gian – Loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng, mang tính kế thừa, tiếp nối qua nhiều thế hệ được hiểu như lễ hội truyền thống; Lễ hội Lịch sử-cách mạng – Là lễ hội để tưởng nhớ công đức các anh hùng, liệt sĩ, danh nhân văn hóa, các bậc tiền bối đã có công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Lễ hội tôn giáo – Là lễ hội đáp ứng nhu cầu văn hóa, tín ngưỡng của các tôn giáo khác nhau; Lễ hội du nhập từ nước ngoài
Thực trạng hoạt động Lễ hội: Hiện cả nước có 7.966 lễ hội (trong
đó có 7.039 lễ hội dân gian, chiếm 88,36%, 332 lễ hội lịch sử-cách mạng, chiếm 4,16%, 544 lễ hội tôn giáo, chiếm 6,82%, 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài, chiếm 0,12% Tỉnh có nhiều lễ hội nhất: Thành phố Hà Nội
(1.095 lễ hội), tỉnh ít lễ hội nhất: Lai Châu (17 lễ hội) (Xem chi tiết phụ lục số 3); 332 Lễ hội cấp tỉnh quản lý, chiếm tỷ lệ 4,16%; 1.930 Lễ hội cấp
huyện quản lý, chiếm 24%; 5.517 Lễ hội cấp xã quản lý, chiếm 69%; 139 các lễ hội thôn, làng, chiếm 0,1%.
Thành tích: Công tác quản lý và tổ chức lễ hội đảm bảo các quy
định của nhà nước theo Quy chế tổ chức lễ hội và Nghị định số 11/2006/NĐ-CP của Chính phủ, theo đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng về mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Hoạt động lễ hội đã thực sự trở thành hoạt động văn hoá du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước và con nguời Việt Nam và các sản phẩm kinh
tế, văn hóa, du lịch, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Gắn kết tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh với quảng bá tiềm năng du lịch, quản
lý dịch vụ và sinh hoạt tín ngưỡng, bảo vệ di tích, môi trường
Cơ sở vật chất phục vụ lưu trú tại các lễ hội ngày càng được đầu tư nâng cấp, quy hoạch tổ chức dịch vụ có tiến bộ Trình độ tổ chức và quản
lý lễ hội tại một số địa phương đang từng bước được nâng lên Những lễ hội lớn và nhiều lễ hội quy mô làng xã được nâng tầm hơn so với những năm trước, góp phần chấn hưng văn hoá dân tộc và phù hợp với thuần phong mỹ tục và điều kiện kinh tế của mỗi địa phương; mức huy động xã hội hoá trong các lễ hội ngày càng tăng
Bất cập: Vấn đề bất cập nhất trong lễ hội hiện nay là loại hình lễ hội
văn hoá-thể thao-du lịch phát triển mạnh mẽ nhưng chưa bổ sung hướng dẫn cụ thể, nên các địa phương còn lúng túng trong chỉ đạo, quản lý và tổ chức Các lễ hội văn hoá-thể thao-du lịch được tổ chức phần lễ khai mạc sân khấu hoá tốn kém, các hoạt động biểu diễn chưa đầu tư về nội dung và chất lượng, lặp lại theo chu kỳ thời gian nhưng thiếu đổi mới, tuy chủ đề khác nhau nhưng nét riêng chưa rõ ràng Nội dung kịch bản thường do một
số tác giả, đơn vị được các địa phương hợp đồng thực hiện nên nội dung
Trang 10trùng chéo, giống nhau, dẫn đến sự nhàm chán trong thị hiếu thưởng thức của khán giả
Nhu cầu tham gia lễ hội của người dân ngày càng cao khiến cho số lượng du khách gia tăng đột biến ở nhiều lễ hội lớn Mùa Lễ hội vừa qua,
tại Yên Tử đón 2 triệu khách, từ mồng 1 đến mồng 6 Tết đón 10 vạn khách; Lễ hội chùa Hương đón 1,4 triệu khách, riêng ngày khai hội mồng
6 Tết đón 6 vạn khách Do khuôn viên di tích và địa giới hành chính của
danh lam thắng cảnh có giới hạn, dẫn đến sự quá tải lớn, cung không đáp ứng nổi cầu, hiện tượng lộn xộn, chen lấn, ùn tắc giao thông gây phản cảm về hình ảnh hoạt động lễ hội
Nhiều lễ hội quy mô làng-xã và lễ hội lịch sử cách mạng ở một số địa phương phần hội nghèo nàn, chưa hấp dẫn, việc khai thác và phát huy các diễn xướng, các trò chơi, các hoạt động thể thao dân gian còn hạn chế
Bên cạnh những nghi thức đã định hình, có biểu hiện pha tạp, vay mượn hoặc cải biên làm biến dạng nghi thức lễ hội dân gian Kịch bản lễ hội, kế hoạch tổ chức lễ hội thiếu sự thống nhất, thay đổi theo từng năm nên mất nhiều thời gian xây dựng, thẩm định
Việc cung tiến công đức tu bổ di tích và tổ chức lễ hội ngày càng tăng, nhưng hiện tượng tuỳ tiện tu sửa, tôn tạo không xin phép cơ quan quản lý đã làm phá vỡ yếu tố gốc của di tích, một số đơn vị trong việc thực hiện công đức gây lãng phí và phản cảm Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thiếu gương mẫu, dự lễ hội với mục đích cầu lộc, cầu danh, vụ lợi, nêu gương xấu cho quần chúng và làm biến dạng ý nghĩa nội dung lễ hội
Nguyên nhân: Việc tuyên truyền vận động về thực hiện nếp sống
văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội nhiều nơi chưa được thực
hiện tốt (Số liệu điều tra thí điểm của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam
tháng 3-2009: tại Hà Nội có 73,3%, Thành phố Hồ Chí Minh có 77,5% tỷ
lệ người được hỏi trả lời không biết đến bất kỳ một văn bản nào về cưới, tang, lễ hội, ở những nơi khác tỷ lệ người biết rất ít về những văn bản này); có nơi còn buông lỏng, chưa được các cấp uỷ Đảng, chính quyền
quan tâm đúng mức Một số cán bộ công chức, Đảng viên thiếu gương mẫu chấp hành Chỉ thị của Đảng và nhà nước
Mặc dù hệ thống văn bản từ Trung ương đến địa phương và công tác chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ nhưng nhận thức coi việc cưới, việc tang, lễ hội là việc riêng của cá nhân gia đình, đơn vị nên tổ chức mạnh ai người ấy làm, chưa có chế tài xử lý cán bộ, công chức, viên chức vi phạm
Cán bộ phong trào cơ sở về văn hoá-xã hội còn thiếu hoặc còn hạn chế về năng lực chuyên môn; công tác bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ nếp sống văn hoá cho cán bộ cơ sở đặc biệt là cấp thôn, làng, ấp, bản chưa được tiến hành thường xuyên, nên việc tham mưu đề xuất cho ban chỉ đạo,