Bài toán dân số Soạn Bài toán dân số ngắn gọn Phần Đọc – hiểu Câu 1 (trang 131 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1) Phần 1 (từ đầu sáng mắt ra) Bài toán dân số đặt ra từ thời cổ đại Phần 2 (tiếp ô thứ 34 của bàn cờ)[.]
Trang 1Bài toán dân số
Soạn Bài toán dân số ngắn gọn:
Phần Đọc – hiểu
Câu 1 (trang 131 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
- Phần 1 (từ đầu … sáng mắt ra): Bài toán dân số đặt ra từ thời cổ đại
- Phần 2 (tiếp … ô thứ 34 của bàn cờ): Sự tăng nhanh khủng khiếp của dân số + Luận điểm 1 (Đó là câu… nhường nào): Câu chuyện kén rể của nhà thông
thái
+ Luận điểm 2 (bây giờ … không quá 5%): Sự phát triển của dân số thế giới
+ Luận điểm 3 (trong thực tế … 34 của bàn cờ): Tỉ lệ sinh của phụ nữ Á và Phi
- Phần 3 (còn lại): Kêu gọi loài người hạn chế gia tăng dân số
Câu 2 (trang 131 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
- Vấn đề chính tác giả muốn đặt ra: tốc độ gia tăng dân số, con người cần hạn
chế sự gia tăng dân số để tồn tại
- Điều làm cho tác giả “sáng mắt” là sự gia tăng dân số trong thời hiện đại nó đã được đặt ra từ ý nghĩa của một bài toán thời cổ đại
Trang 2Câu 3 (trang 131 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
- Câu chuyện kén rể của nhà thông thái cũng chính là bài toán cổ được tác giả nêu lên nhằm gây tò mò, lôi cuốn người đọc đưa đến một kết luận bất ngờ: mỗi
ô của bàn cờ ban đầu chỉ một vài hạt thóc, tưởng là ít, nhưng nếu sau đó cứ gấp đôi lên theo cấp số nhân thì số thóc của cả bàn cờ là một con số khủng khiếp: có thế phủ kín bề mặt trái đất
- Câu chuyện là tiền đề để tác giả so sánh với sự gia tăng và bùng nổ dân số Có chỗ tương đồng là cả hai: số lúa dùng cho mỗi ô của bàn cờ và dân số thế giới đều cùng tăng theo cấp số nhân công bội là 2 (chỉ tiêu hai con cho một cặp vợ chồng) Từ sự so sánh đó, tác giả nêu bật vấn đề trọng tâm của bài viết là tốc độ gia tăng dân số là vô cùng nhanh chóng
Câu 4 (trang 132 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
- Việc đưa ra tỉ lệ sinh con của phụ nữ theo thông báo của Hội nghị Cai-rô để mọi người thấy thực tế phụ nữ có thể sinh rất nhiều con (ít như ở Việt Nam thì trung bình là 3,7; nhiều như ở Ru-an-đa là 8,1) Từ đây, có thể thấy rằng chỉ tiêu mỗi gia đình chỉ có một đến hai con là rất khó khăn
- Thứ hai, các con số cho thấy các nước kém và chậm phát triển lại sinh con rất nhiều Đó là các nước thuộc châu Phi (Nê-pan, Ru-an-đa, Tan-da-ni-a, Ma-đa-gát-xca) và châu Á (Ấn Độ, Việt Nam) Điều này cho thấy những nước kém và chậm phát triển ở hai châu lục này là những nước có dân số tăng rất nhanh Có thể thấy đây là những nước chưa phát triển, kinh tế còn yếu kém mà dân số lại bùng nổ rất cao Từ đó gây khó khăn cho việc cải thiện chất lượng cuộc sống người dân
Câu 5 (trang 132 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Văn bản này đưa đến cho chúng ta hiểu biết về tình hình gia tăng dân số trên thế giới và ở Việt Nam, để từ đó chúng ta có hành động thiết thực và cùng có trách nhiệm trong việc hạn chế gia tăng dân số Đây là một thông điệp cấp thiết
và có ý nghĩa vô cùng to lớn với toàn nhân loại
Trang 3Phần Luyện tập:
Câu 1 (trang 132 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Con đường tốt nhất để hạn chế gia tăng dân số là nâng cao dân trí, tăng cường giáo dục tuyên truyền đặc biệt là đẩy mạnh giáo dục cho phụ nữ Khi nhận thức
về sức khỏe sinh sản của con người nói chung và người phụ nữ nói riêng được nâng cao thì tỉ lệ sinh mới có thể cải thiện; “hạn chế sinh đẻ tối đa” để mang lại cuộc sống hạnh phúc cho đứa con, cho bản thân và gia đình
Câu 2 (trang 132 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Sự gia tăng dân số có tầm quan trọng to lớn với tương lai nhân loại, nhất là với các dân tộc còn nghèo nàn, lạc hậu vì:
- Dân số tăng kèm theo nhu cầu kinh tế để nuôi dạy con cái
- Gia đình đông con dễ dẫn đến sự giáo dục, chăm sóc thiếu chu đáo, thất học
- Đất chật người đông, đời sống con người càng thêm khó khăn
Câu 3 (trang 132 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):
Dân số tăng mỗi năm (từ năm 2000 đến 2010) là 77 258 877 Vậy từ năm 2000 – 2003, sau 3 năm dân số sẽ tăng 77 258 877 x 3 = 231 776 631
Dân số Việt Nam theo số liệu thống kê vào năm 2016 là 94 104 871 người
⇒ gấp gần 2,5 lần so với Việt Nam