Microsoft Word do t k thoa doc Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Kim Thoa Lớp Anh 6 K38 Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khóa luận tốt nghiệp Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong những năm qua[.]
Trang 1Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Khóa luận tốt nghiệp
Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong những
năm qua
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I 5
Tổng quan về ngành thủy sản và các thị trường xuất khẩu lớn của thủy sản Việt nam I Đặc điểm và vai trò của ngành thủy sản Việt Nam 5
1 Lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam 5
2 Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân 7
II Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam trong thời gian gần đây 14
1 Về giá trị và tốc độ phát triển 14
2 Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 15
3 Giá cả và hiệu quả xuất khẩu của thủy sản Việt Nam 17
4 Các quy định hiện hành liên quan đến xuất khẩu thuỷ sản 18
III Một số thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam 26
1 Thị trường Nhật Bản 27
2 Thị trường Mỹ 29
3 Thị trường Đông Á 31
4 Thị trường Châu Âu 33
CHƯƠNG II 35
Thực trạng xuất khẩu của thuỷ sản Việt nam sang EU trong những năm qua I Giới thiệu chung về thị trường EU 35
1 Đặc điểm chung về kinh tế, chính trị và mức sống dân cư 35
2 Các đặc điểm chung liên quan đến việc tiêu dùng mặt hàng thủy sản 37
3 Những yêu cầu của EU về chất lượng sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu 43
4 Giới thiệu về các thị trường nhập khẩu thuỷ sản của EU 50
Trang 3Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
II - Thực trạng XKTS của Việt nam sang EU giai đoạn 1997 - 2002 54
1 Về giá trị và tốc độ phát triển 54
2 Về cơ cấu thị trường EU nhập khẩu thuỷ sản của Việt nam 55
3 Về cơ cấu mặt hàng thủy sản Việt nam xuất khẩu vào EU 57
4 Về tình hình thực hiện các quy định của EU về an toàn thực phẩm 59
III Đánh giá kết quả hoạt động XKTS sang EU giai đoạn 1997-2000 62
1 Những kết quả đạt được 62
2 Những khó khăn, tồn tại cần khắc phục 64
3 Các vấn đề đặt ra với hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang EU 67
CHƯƠNG III 70
Định hướng và những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU trong những năm tới I Định hướng và mục tiêu phát triển XKTS 72
1 Định hướng phát triển xuất khẩu thuỷ sản 72
2 Mục tiêu phát triển xuất khẩu thủy sản 75
II Những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang EU trong những năm tới 79
1 Những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang EU 79
2 Một số giải pháp tài chính tín dụng khuyến khích XKTS sang EU 84
3 Các giải pháp khác nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang EU 87
KẾT LUẬN 91
PHỤ LỤC 01 92
Danh mục tài liệu tham khảo 96
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Cơ cấu đóng góp của các ngành trong GDP qua các năm 8 Bảng 2: Kim ngạch XKTS của Việt Nam qua một số năm 10 Bảng 3: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm 2002 11
Bảng 5: Số lượng lao động trong ngành thủy sản giai đoạn 1996-2010 12 Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng XKTS của Việt Nam từ 1997 đến 2002 14 Bảng 7: Các sản phẩm XKTS chính năm 2001 – 2002 16 Bảng 8: So sánh một số chỉ tiêu của ngành tôm XK của Việt Nam với
Thái Lan năm 2000
18
Bảng 9: Thị trường XKTS chính của Việt Nam (2001-2002) 26 Bảng 10: Các chỉ số kinh tế quan trọng của EU 36 Bảng 11: Giá trị NKTS của một số nước Châu Âu (1998-2000) 54 Bảng 12: Cơ cầu thị trường EU NKTS của Việt Nam từ 1998-2002 55 Bảng 13: Cơ cấu sản phẩm thủy sản Việt Nam xuất sang EU năm 2002 58 Bảng 14: Các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm 2003 72 Bảng 15: Các chỉ tiêu quy hoạch cơ bản đến 2010 75 Bảng 16: Chỉ tiêu quy hoạch các lĩnh vực khai thác hải sản đến năm
Trang 5Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Sơ đồ 2: Kênh phân phối thủy sản cho người tiêu dùng và bán lẻ 42
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 EU European Uninon- Liên minh Châu Âu
2 EC European Communication – Cộng đồng Châu Âu
7 AFTA Asean Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do Asean
8 GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội
12 GMP Good Hygiene Pratices
13 HACCP Hazard Analysis Critical Control Point
17 EFA Cơ quan quản lý thực phẩm EU
18 XKTS Xuất khẩu thủy sản
19 NTTS Nuôi trồng thủy sản
Trang 620 XDCB Xây dựng cơ bản
21 NKTS Nhập khẩu thủy sản
22 TGHD Tỷ giá hối đoái
Trang 7Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, với mọi quốc gia, dù trình độ phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật đạt đến mức độ nào đi chăng nữa, dù tài nguyên thiên nhiên phong phú và giàu có đến đâu thì hoạt động xuất khẩu vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng Có thể nói, xuất khẩu đã trở thành yếu tố sống còn và không thể thiếu của mỗi quốc gia
Đối với Việt Nam, xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế Xuất khẩu là tiền đề vững chắc để công nghiệp hoá đất nước và là mũi nhọn ưu tiên trong nền kinh tế quốc dân Đảng ta đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động xuất khẩu và coi đó là một trong ba chương trình kinh tế lớn Có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa ra thị trường thế giới mới có điều kiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
và ổn định đời sống nhân dân
Trong nhiều năm trở lại đây, thủy sản luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Giá trị xuất khẩu của ngành này đóng góp không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước nói riêng và sự tăng trưởng kinh
tế của cả đất nước nói chung Văn kiện đại hội đảng IX đã khẳng định rõ: “Phát huy lợi thế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước trong thế kỉ 21, vươn lên hàng đầu trong khu vực ”
Với phương trâm đa dạng hoá mặt hàng, đa phương hoá thị trường trong xuất khẩu, thì việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU là một vấn đề tất yếu Bởi Liên minh châu Âu đã và đang chứng minh cho thế giới thấy sự liên kết ngày càng sâu sắc của toàn khối cùng những thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội rõ nét 01/05/2004, EU sẽ kết nạp thêm 10 thành viên mới và khi đó EU sẽ trở thành khu vực kinh tế lớn nhất thế giới với 25 thành viên và 450 triệu dân cư
Chính vì thế, EU được coi là thị trường chiến lược trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam nói chung và mặt hàng thủy sản nói riêng Hơn thế nữa, trong tình hình hiện nay khi mà nhập khẩu thủy sản của thị trường Nhật Bản có dấu hiệu chững lại và Mỹ đặt ra những quy định pháp lý không thống nhất gây khó khăn cho hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường này thì việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường rộng lớn EU sẽ là một giải pháp mang tính chiến lược
Trang 8Xuất khẩu thủy sản sang EU là một nhân tố cần thiết để chúng ta tận dụng các nguồn lực trong nước một cách triệt để và có hiệu quả hơn, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Xuất phát từ nhận thức trên đây, cũng như vai trò to lớn của xuất khẩu thủy sản trong cơ cấu xuất khẩu của nước ta, tôi đã chọn đề tài “EU, thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản Việt nam trong những năm tới” để viết khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận này nghiên cứu một cách tổng thể về tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian vừa qua, đánh giá những tiềm năng to lớn của thị trường này và trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu của hàng thủy sản Việt Nam sang EU
Khoá luận được thực hiện dựa trên phương pháp so sánh, tổng hợp và phân tích, kết hợp những kết quả thống kê với vận dụng lý luận làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu Đồng thời, khoá luận vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước nhằm khái quát hoá, hệ thống hoá các kết quả nghiên cứu
Khoá luận kết cấu gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về ngành thủy sản và các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong những năm qua
Chương 3: Định hướng và những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong những năm tới
Do trình độ cũng như thời gian nghiên cứu có hạn, nên khoá luận khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong có được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng bạn đọc để khoá luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ Ban nghiên cứu thị trường thuộc Viện nghiên cứu Thương mại đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá luận này, đặc biệt là sự hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình, qúy báu của
Thạc sĩ – Phạm Thị Hồng Yến để khoá luận được hoàn chỉnh hơn
Trang 9Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Ngày 15 tháng 12 năm 2003 CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LỚN CỦA THỦY SẢN VIỆT NAM
I ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM
1 Lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam
Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh
tế rộng khoảng 1triệu km2 với 4000 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên, nhiều eo, vịnh, vụng, đầm, phá và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn Thềm lục địa nước ta rộng hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền), diện tích mặt nước 1triệu km2, trong đó diện tích khai thác đạt 553.000 km, nhưng hiện tại mới chỉ khai thác được khoảng 65% nguồn lực hải sản cho phép
Theo đánh giá của Bộ Thủy Sản, tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1,4 triệu ha mặt nước nội địa, 300.000 ha bãi triều, 400.000 ha
hồ chứa, sông suối, 600.000 ha ao hồ nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng để nuôi trồng thủy sản Năng suất nuôi trồng thủy sản mới chỉ bằng 10%- 25% năng suất của các nước trong khu vực
Đội tàu thuyền đánh bắt có khoảng 75.000 chiếc với công suất là 1,8 triệu
CV, bình quân 20- 25 CV/tàu, 187 nhà máy chế biến được xây dựng từ những năm thập kỷ 80
Cũng theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng
130 loài có giá trị kinh tế cao Bước đầu đánh giá trữ lượng cá biển trong vùng thềm lục địa khoảng trên 4,2 triệu tấn Khả năng khai thác hàng năm khoảng 1,7 triệu tấn/năm Tình hình cụ thể của các loài cá:
- Cá tầng đáy: 856.000 tấn, chiếm 51,3%
- Cá nổi nhỏ: 694.000 tấn, chiếm 41,5%
- Cá nổi đại dương (chủ yếu là cá ngừ): 120.000 tấn, chiếm 7,2%
Trang 10Ngoài cá biển, Việt Nam còn có nhiều nguồn lợi tự nhiên khác như: trên
1600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50-60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm, tôm mũ ni, cua, ghẹ… và khoảng 2500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa cao nhất là mực và bạch tuộc, cho phép khai thác 60-70 nghìn tấn/năm Hằng năm, biển còn có thể cho phép khai thác từ 45-50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ Bên cạnh có, còn có rất nhiều loài đặc sản quý như bào ngư, vích, đồi mồi, tổ yến, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai
Việt Nam tuy có vùng biển trải dài khắp cả nước nhưng sản lượng khai thác không đồng đều ở các vùng Theo ước tính, vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam có tổng trữ lượng trên 3 triệu tấn cá, 50.000- 60.000 tấn tôm, 30.000- 40.000 tấn mực
Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác thủy sản giữa các vùng như sau:
- Vịnh Bắc Bộ: trữ lượng 681.166 tấn, khả năng khai thác 271.467 tấn (16,3%)
- Biển Trung Bộ: trữ lượng 606.399 tấn, khả năng khai thác 242.560 tấn(14,3%)
- Biển Đông Nam Bộ: trữ lượng 2.075.889 tấn, khả năng khai thác 830.456 tấn (chiếm 49,3%)
- Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác 202.272 tấn (chiếm 12,1%)
Từ tính chất đặc thù của vùng biển Việt Nam, là vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thủy sản rất đa dạng, phong phú về chủng loại với nhiều loài thủy sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao Hơn nữa, với vị trí địa lý nằm gần những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn như Trung Quốc, Nhật Bản lại có khả năng giao lưu bằng đường bộ, đường thủy, đường không đều rất thuận lợi nên ngành kinh tế thủy sản Việt Nam có điều điều kiện để phát triển nhanh và bền vững
Trang 11Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Theo ước tính ở Việt Nam, phần diện tích vùng biển có khả năng tiềm tàng lớn để gia tăng khai thác trong giai đoạn 1999- 2000 là 414.436 km2, chiếm 42,6% diện tích vùng đặc quyền kinh tế nước ta Trong đó:
- Vùng Bắc Bộ có diện tích: 47.119 km2
- Miền Trung: 133.380 km2
- Biển Nam Bộ: 233.937 km2
Nhìn chung, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng như
đã nêu trên, trong thời gian hơn một thập kỷ qua, ngành thủy sản Việt Nam, đứng trước nhu cầu mạnh mẽ của thị trường thế giới cũng như nhu cầu về thực phẩm của đất nước đã có những bước phát triển ngoạn mục và trở thành một trong những ngành kinh tế then chốt của đất nước
2 Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân
Thủy sản là một ngành kinh tế- kỹ thuật đặc trưng gồm có các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại, là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng của đất nước Sản xuất kinh doanh thủy sản dựa trên khai thác có hiệu quả, lâu bền nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước, do vậy có mối liên ngành rất chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải, dầu khí, hải quan
Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, vai trò quan trọng của ngành thủy sản trong sự phát triển kinh tế- xã hội, nhất là trong 20 năm qua, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu Ngành kinh tế thủy sản ngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Ngành thủy sản được xác định là giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, bởi vì nó khai thác và phát triển một trong những nguồn tài nguyên có thể tái sinh của đất nước
Trang 122.1 Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế
Hiện nay, thủy sản được coi là một ngành hàng thiết yếu và được ưa chuộng
ở khắp nơi trên thế giới Với tiềm năng thiên nhiên rộng lớn, ngành thủy sản Việt nam đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta
Theo thống kê của Bộ Thương Mại, thì sự đóng góp của ngành Nông Lâm Nghiệp và Thủy sản trong GDP qua các năm như sau:
Bảng 1 Cơ cấu đóng góp của các ngành trong GDP qua các năm
Năm Cơ cấu (tính theo giá thực tế)
Tổng số
Nông lâm nghiệp- thủy sản
Công nghiệp – Xây dựng Dịch vụ
Trang 13Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Qua bảng số liệu 1 ta thấy, mặc dù tỉ trọng đóng góp của của ngành Nông Lâm Nghiệp và Thủy Sản trong GDP có giảm đi qua các năm, từ 40,49% năm
1991 xuỗng còn 22,99% năm 2002 nhưng nhìn chung vẫn chiếm một tỉ trọng tương đối lớn tạo nên sự tăng trưởng đều đặn của GDP trong thập niên vừa qua
Sự đóng góp của ngành thủy sản đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước được thể hiện cụ thể như sau:
- Nghề nuôi trồng thủy sản từ tự cung tự cấp đã đáp ứng được nhu cầu cho tiêu dùng trong và ngoài nước, đáng kể là sản lượng tôm sú nuôi phục vụ xuất khẩu của nước ta đứng vào khoảng thứ 3 trên thế giới (sản lượng năm 2001 đạt
105 nghìn tấn) xếp sau Thái Lan (năm 2001 đạt 250 nghìn tấn) và Indonexia (năm
2001 đạt 110 nghìn tấn); thủy sản xuất khẩu cũng đã được xác định là đối tượng chủ yếu để phát triển nuôi trồng
- Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công nghiệp đông lạnh thủy sản đã đóng vai trò to lớn hàng đầu về công nghiệp chế biến thực phẩm trong cả nước và thu hút nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu
- Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ, trước hết phải kể đến kỹ thuật sinh sản nhân tạo để tạo nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp hơn 1 tỷ tôm giống các cỡ Trong công nghiệp đánh cá, dần dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng hiệu quả cao, du nhập nghề mới từ nước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ
- Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu, nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ Từ cơ chế
“lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác
và nuôi trồng”, qua các thời kỳ Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay, sản phẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại hơn 60 nước và vùng lãnh thổ với một số sản phẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quan trọng
Trang 14Theo Bộ Thủy sản, dự tính toàn bộ sự đóng góp của ngành thủy sản đối với nền kinh tế quốc dân sẽ tăng từ mức hiện nay năm 2003 là 30.628 tỷ đồng lên 40.000 tỷ đồng vào năm 2010 với tốc độ phát triển trên dưới 20%/năm Tỷ trọng tương ứng của ngành thủy sản trong GDP sẻ giảm do có sự tăng trưởng mạnh trong các ngành khác của nền kinh tế Song sự đóng góp của ngành thủy sản đối với ổn định xã hội và an toàn quốc gia là quan trọng vì tiềm năng phân phối thu nhập của ngành thủy sản ở các vùng nông thôn Một bộ phận dân cư ở nông thôn, thường là các vùng nghèo vẫn tiếp tục sống dựa vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản, bao gồm cả thiểu số ở vùng cao
Việc đẩy mạnh hiện đại hóa và công nghiệp hóa nghề cá và nuôi trồng thủy sản sẽ tăng cường năng lực của ngành này Bằng cách đó sẽ tăng cường sự đóng góp của ngành đối với xã hội Hiện đại hóa và phát triển sẽ giúp thiết lập các ngành công nghiệp mới và những ngành công nghiệp đã hoàn thiện tại các vùng ven biển mà sẽ nâng cao vai trò của ngành thủy sản đối với việc phát triển kinh tế
- xã hội
2.2 Vai trò của ngành thủy sản đối với hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu thủy sản đã trở thành động lực thúc đẩy kinh tế thủy sản phát triển, tăng cường cơ sở vật chất và năng lực sản xuất của khu vực sản xuất nguyên liệu, bước đầu làm chuyển dịch cơ cấu nông thôn ven biển, góp phần bảo đảm việc làm, nâng cao đời sống cho hàng triệu người dân sống bằng nghề
cá và quan trọng hơn cả, kinh tế ngành đã góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước Xuất khẩu thủy sản đã có sự đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu cả nước Kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta qua các năm đã không
ngừng tăng lên, điều đó thể hiện rõ nét qua bảng số liệu 2:
Bảng 2 Kim ngạch XKTS của Việt Nam qua một số năm
Trang 15Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Giá trị XK cả nước (triệu USD)
7255,9 8900 9356 10930 14483 15027 16530
Giá trị XK thủy sản (tr USD)
670 776,46 858,68 971,12 1480 1479 2021
Tỷ trọng XK thủy sản
so với cả nước (%)
Nguồn: Báo cáo tổng kết Bộ Thuỷ Sản năm 2002
Qua bảng số liệu 2 ta thấy rằng: kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta đã tăng rất đáng kể qua các năm, trung bình mỗi năm tăng gần 100 triệu USD Từ năm 1996 đến 2002, năm nào kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng chiếm tỷ trọng trên dưới 10% so với tổng giá trị xuất khẩu, đặc biệt là trong năm 2002, giá trị xuất khẩu thủy sản đã tăng lên một con số đáng kể 12,22% , đóng vai trò là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong một số năm qua và trong nhiều năm tiếp theo
Bảng 3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm 2002
Nguồn: Trung tâm thông tin Bộ Thủy Sản
Chỉ tính riêng năm 2002, tổng sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.410.900 tấn bằng 104,82% kế hoạch, tăng 5,4% so với năm 2001 Xuất khẩu thủy sản tiếp túc tăng trưởng và lần đầu tiên, kim ngạch xuất khẩu thủy sản vượt mức 2 tỷ đô la, đạt 2.021 triệu đô la, bằng 101,05% kế hoạch và tăng 13,7% so với thực hiện năm
2001
Trang 16Tóm lại, qua các năm, ngành thủy sản đã góp phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng thu ngoại tệ cho nước ta Việc thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách bảo vệ môi trường và khai thác hợp lý các nguồn lợi
tự nhiên của đất nước cùng với việc sử dụng hợp lý về mặt sinh thái môi trường sinh sống, sẽ đảm bảo việc đóng góp bền vững của nghề cá Điều đó có tác dụng rất lớn trong việc tăng sản lượng đánh bắt và sản lượng nuôi trồng thủy sản, nhờ
đó mà tăng được kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong những năm tới
2.3 Vai trò của ngành thủy sản trong việc tạo công ăn việc làm
Theo thống kê của Bộ Thủy Sản, công nghiệp đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đảm bảo việc làm thường xuyên cho khoảng hơn 3 triệu lao động chiếm 10%
tổng lao động xã hội, lao động nghề cá nhiều nhất là nuôi trồng thủy sản có khoảng 2.219 nghìn người, đánh bắt 435 nghìn người, chế biến khoảng hơn 250 nghìn người Đặc biệt là năm 1996, số lao động thủy sản tăng lên là 3,03 triệu người Khoảng 3,8 triệu người sống trong các hộ gia đình làm nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Như vậy, khoảng 6,8 triệu người chiếm 8,7% dân số sống phụ thuộc vào ngành thủy sản như một nguồn sinh sống Số lao động làm việc trong ngành này không ngừng tăng lên qua các năm được thể hiện rõ qua Bảng 5 dưới đây:
Bảng 4 Lao động nghề cá
Đơn vị: 1000 người
Năm 1987 1991 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Số LD 1.270 1.860 3.030 3.120 3.210 3.320 3.390 3.450 3.550
Nguồn: Tạp chí Thông tin khoa học và công nghiệp thủy sản - số 3/2002
Tổng số lao động có thu nhập từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng như từ các ngành và các hoạt động hỗ trợ thủy sản ước tính lên tới hơn 8 triệu người
Ngoài ra, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản còn đảm bảo việc làm không thường xuyên và thu nhập phụ cho hơn 20 triệu người
Trang 17Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Bảng 5 Số lượng lao động trong ngành thủy sản giai đoạn 1996 – 2010
sản (người) 58.768 77.000 93.000 128.000 Lao động dịch vụ
nghề cá (người) 1991.868 2.171.000 2.541.400 2.855.700 Tổng 3.030.000 3.400.000 3.900.000 4.400.000
Nguồn: Trung tâm khoa học kỹ thuật và kinh tế thủy sản – Bộ Thủy sản
Theo dự tính của Bộ Thủy Sản, số lao động trong ngành thủy sản năm 2003
sẽ là 3,6 triệu người Do vậy, số dân số dựa vào nghề cá sẽ tăng lên khoảng 8,1 triệu người vào năm 2000 và 10 triệu người vào năm 2010 Hơn nữa, thu nhập trực tiếp của những người lao động thường xuyên trong nghề cá và nuôi trồng thủy sản dự tính sẽ tăng trung bình 16%/năm trong thời gian nêu trên Trên 1,2 triệu người trong các hộ gia đình phụ thuộc vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản sẽ
có thêm thu nhập vào năm 2000 Điều đó có nghĩa là số dân được ngành thủy sản
hỗ trợ sẽ tăng 3 triệu người
2.4 Vai trò của ngành thủy sản trong việc cung cấp thực phẩm
Sự đóng góp của ngành Thủy Sản với mục tiêu dinh dưỡng quốc gia cũng không ngừng tăng lên Hiện nay, gần 95% khối lượng thủy sản và các sản phẩm thủy sản được tiêu thụ trong nước Trong số các sản phẩm này thì 50% được chế biến thành nước mắm, bột cá và các loại thực phẩm; 25% được tiêu thụ ở dạng tươi sống Việc cung cấp cá và các sản phẩm thủy sản cả nước tăng từ mức 11,5
Trang 18kg năm 1999 lên 13,5 kg/người năm 2001 So sánh với mức cung cấp và tiêu thụ thủy sản tại các nước Đông Nam Á khác Ma-lai-xi-a: 55,7 kg/ người, Thái Lan:
32,4 kg/ người, In-đô-nê-xi-a: 18 kg/ người, Xingapo; 32,5 kg/người, Philipin 31 kg/người thì mức cung cấp và tiêu thụ này là tương đối thấp Tuy nhiên, nó đã chiếm khoảng hơn 30% toàn bộ nguồn cung cấp đạm động vật cho người dân Việt Nam Hiện nay, khi mà đời sống nhân dân đang được cải thiện đáng kể thì nhu cầu của người dân Việt Nam đối với các loại thủy hải sản có giá trị dinh dưỡng cao, ít chất béo ngày càng tăng
Việc cung cấp và tiêu thụ thủy sản chênh lệch nhiều giữa các vùng, cao nhất
ở vùng ven biển và thấp nhất ở các vùng núi cao của đất nước Số liệu sau đây cho thấy các hình thức cung cấp và tiêu thụ thủy sản nước ta: Miền Bắc 6 - 8 kg/
người/ năm, các huyện thị ven biển Miền Nam 50 - 60 kg/ người/ năm, khu vực miền núi 2 - 3 kg/ người/ năm
Mức tiêu thụ bình quân toàn quốc hàng năm thường được sử dụng cho mục đích lập kế hoạch là khoảng 12 - 14 kg/ người/ năm
Dự kiến việc cung cấp cá và các sản phẩm thủy sản toàn quốc sẽ tăng từ hiện nay là khoảng 13,5 kg lên 16 kg/ đầu người vào năm 2010 Mức tăng trưởng này
có tính đến nhu cầu dinh dưỡng của số dân sẽ tăng mà dự kiến sẽ tăng khoảng 1,2 triệu người vào năm 2010
II TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN GẦN ĐÂY
Trong hơn mười năm qua, thủy sản luôn giữ được xu thế tăng trưởng không ngừng về sản xuất và giá trị xuất khẩu Mặt hàng này luôn nằm trong nhóm những mặt hàng xuất khẩu chủ lực bên cạnh gạo, cà phê, dệt may, giày dép và đã
có những đóng góp không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước với mức tăng kim ngạch xuất khẩu tương đối cao (22-23%/năm) Sự tăng trưởng này được biểu hiện cụ thể về một số mặt như sau:
1 Về giá trị và tốc độ phát triển
Trang 19Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Trong những năm qua, sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tăng nhanh
Bảng 6 Tốc độ tăng trưởng XKTS của Việt Nam từ 1997-2002
Nguồn: Số liệu thống kê - http://www.vneconomy.com
Năm 1990, kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta chỉ đạt 109,2 triệu USD thì đến 1996 xuất khẩu thủy sản đạt 670 triệu USD, tăng hơn 5 lần Đến năm
1997, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 761 triệu USD, năm 1998 là 818 triệu USD và năm 1999 đạt 938,87 triệu USD Như vậy, trong vòng 10 năm 1986-1996 xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã tăng lên 5,13 lần, mức tăng xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 19,5%, còn nếu so với mức xuất khẩu năm 1991 là 285 triệu USD thì xuất khẩu năm 1996 tăng 1,35 lần và mức tăng trung bình hàng năm thời kỳ 1991-1996 là 18,5%, đây quả là một tốc độ tăng trưởng ngoạn mục Đặc biệt là 3 năm trở lại đây, giá trị xuất khẩu thủy sản đã tăng lên một con số đáng kể So với
năm 1996 thì giá trị XKTS năm 2002 đã tăng lên gấp gần 3 lần
Trong cả nước đã hình thành một ngành công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công nghiệp đông lạnh Theo số liệu thống kê của Bộ Thủy Sản thì cho đến nay, toàn ngành đã có trên 320 nhà máy chế biến công nghiệp
Công suất chế biến theo thiết kế vào khoảng 1000 tấn thành phẩm mỗi ngày, tăng gấp 2,5 lần về số lượng nhà máy và gấp 3 lần về công suất so với năm 2000
Năm Sản lượng
(tấn)
Giá trị (Triệu USD)
Tốc độ tăng trưởng về giá trị (%)
Trang 20Lĩnh vực đánh bắt đã dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác, du nhập nghề mới từ nước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ
Hoạt động hợp tác quốc tế bao gồm: thị trường xuất khẩu, nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt kết quả khích lệ Từ cơ chế lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác và nuôi trồng qua thời kỳ nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, đến nay, sản phẩm thủy sản của nước ta đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới, có uy tín ở một số thị trường khó tính
2 Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
Trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã có những cố gắng rất lớn trong việc đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu từ mức hầu như chỉ xuất khẩu tôm
và mực (năm 1986, trong tổng số 24,89 nghìn tấn thủy sản xuất khẩu thì riêng tôm đã chiếm 15,9 nghìn tấn-khoảng 64%) thì đến năm 1997, xuất khẩu tôm tuy vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng đã giảm đi tương đối (115 nghìn tấn trên tổng
số 459 nghìn tấn thủy sản xuất khẩu-khoảng 25%)) Ngoài ra, các mặt hàng mới xuất khẩu ngày càng nhiều như: cá phi lê đông lạnh, cá hộp, cứ ngừ tươi, các thủy sản chế biến ăn ngay Bảng số liệu sau cho thấy cơ cấu, dạng sản phẩm thủy sản xuất khẩu của nước ta trong 2 năm 2001 và 2002
Bảng 7 Các sản phẩm XKTS chính năm 2001-2002
Số lượng: tấn; Kim ngạch: USD
Thực hiện năm 2001 Thực hiện năm 2002 Tên hàng
Tốc độ tăng, giảm về giá trị (±%)
lạnh
87.151,18 777.820.214 114.579,98 949.418.477 + 18,2
Trang 21Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Mực, bạch tuộc đông lạnh
Nguồn: Báo cáo tổng kết Bộ Thủy sản 2001 - 2002
Như vậy, có thể thấy rằng, xuất phát từ nhu cầu của thị trường, từ tiềm năng kinh tế thủy sản của Việt Nam, cá tôm và các hải sản thân mềm đã trở thành sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam được ưa chuộng trên thị trường thế giới Trong đó, tôm luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm khoảng trên dưới 50% giá trị xuất khẩu của thủy sản Việt Nam Hiện nay, Việt Nam đang xếp thứ 3 trong các nước xuất khẩu tôm vào 2 thị trường Mỹ và Nhật Bản
Nhiều doanh nghiệp chỉ kinh doanh mặt hàng tôm và thực tế cũng là những đơn
vị giành vị trí hàng đầu trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Ngoài ra, mặt hàng cá cũng chiếm một tỉ lệ tương đối ổn định và đáng kể trong cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu Năm 2002, cá là nhóm sản phẩm thu hút nhiều nhất số doanh nghiệp xuất khẩu trong cả nước tham gia: 300/650 doanh nghiệp Đây cũng là năm chúng ta mở được nhiều thị trường tiêu thụ nhất, huy động được nhiều nguồn nguyên liệu các loại cá để đưa vào chế biến xuất khẩu hoặc xuất khẩu các sản phẩm tươi hoặc ướp đá
Mặt hàng tươi sống trong thời gian gần đây có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt
là xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới phía Bắc và một số tỉnh Bắc Trung Bộ
Ngoài ra, ta cũng xuất khẩu chính ngạch bằng đường hàng không sang các thị trường Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, EU Nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng tươi sống ở các thị trường này rất lớn và phong phú về chủng loại Từ các mặt hàng phổ biến như: tôm, của, ghẹ, ốc đến các mặt hàng cao cấp như: cá hồng, cá tráp…
Trang 22Hiện nay, các doanh nghiệp thủy sản của ta đã nhận thức được tiềm năng to lớn của mặt hàng này nên nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư hệ thống trang thiết bị bảo quản sản phẩm thủy sản tươi sống đắt tiền nhằm đẩy mạnh hơn nữa kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này
Trong thời gian qua, chúng ta cũng đã rất chú trọng tới việc chế biến và xuất khẩu các sản phẩm giá trị gia tăng Từ chỗ khởi đầu chỉ có 5 đến 6 mặt hàng thì hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu trên 100 sản phẩm có giá trị gia tăng từ các sản phẩm như tôm vỏ xẻ lưng, mực nhồi thịt cho tới càng cua bao tôm, ốc xiên …Hy vọng thời gian tới những sản phẩm loại này của Việt nam sẽ chiếm lĩnh nhiều hơn nữa trên thị trường thủy sản thế giới
3 Giá cả và hiệu quả xuất khẩu của thủy sản Việt Nam
Do mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô, lại xuất khẩu qua nhiều trung gian nên giá thủy sản xuất khẩu của ta nhìn chung là thấp hơn giá trên thị trường quốc tế và khu vực (chỉ bẳng 2/3 mức giá xuất khẩu của Thái Lan và Trung Quốc) Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc sản xuất, chế biến thủy sản xuất khẩu và do đó ảnh hưởng rất lớn đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nước ta Hơn nữa, khâu tổ chức quản lý xuất khẩu không tốt, nên sản phẩm thủy sản xuất khẩu lại bị thương nhân nước ngoài ép giá Giá xuất khẩu của ta thấp còn là do cơ cấu sản phẩm chưa hợp lý, tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao còn rất thấp
Tất cả những phân tích về cơ cấu thị trường, cơ cấu sản phẩm và tình hình giá sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đều dẫn đến nhận định rằng: hiệu quả xuất khẩu thủy sản của nước ta là rất thấp Nếu đem so sánh với xuất khẩu thủy sản của Thái Lan, nước xuất khẩu thủy sản đứng đầu thế giới, chúng ta có thể thấy rõ sự chênh lệch về trình độ công nghệ và mức giá xuất khẩu như thế nào qua bảng số liệu 8 sau:
Trang 23Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Bảng 8 So sánh một số chỉ tiêu của ngành tôm xuất khẩu của Việt Nam với
Thái Lan năm 2000
Có thể thấy rằng, mặcdù ngành thủy sản nước ta có tiềm năng xuất khẩu rất lớn nhưng nếu không biết tận dụng các nguồn lợi đó, không ngừng nâng cao hiệu quả xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam thì chúng ta sẽ đánh mất lợi thế của mình và khó có thể cạnh tranh trên thị trường thủy sản thế giới
4 Các quy định hiện hành liên quan đến xuất khẩu thủy sản
4.1 Chính sách thuế, lệ phí
Thuế là công cụ điếu tiết nền kinh tế, đồng thời là nguồn thu ngân sách cho Nhà nước Đối với nghề cá, tính từ khâu đầu là sản xuất tạo ra nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng phục vụ cho tiêu dùng hoặc xuất khẩu, thông thường chịu các
Trang 24loại thuế: môn bài, tài nguyên, thuế sử dụng đất cho nuôi trồng thủy sản và nhiều loại phí như: phí trước bạ, đăng kiểm tàu đánh bắt, giấy di chuyển ngư trường, bến bãi Ngoài ra, ngư dân còn phải nộp nhiều khoản khác nữa như tham gia bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm nhân mạng Để phù hợp với thực tiễn và khuyến khích sản xuất phát triển, thuế và lệ phí đối với nghề cá đã được sửa đổi tích cực
Về Luật thuế tài nguyên, khung thuế suất 2-7%, theo Nghị định của Chính phủ, Thông tư số 30 BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thống nhất thuế suất là 4% với khai thác hải sản và 3% với khai thác cá sông
Đối với khai thác hải sản xa bờ, năm 1993 tại Quyết định số 400 Ttg của Chính phủ đã cho miễn thuế tài nguyên, thuế lợi tức 3 năm đầu.Và trong năm
1997, ngày 29/5/1997, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 358/ Ttg cho tàu thuyền khai thác hải sản xa bờ được giảm 50% thuế tài nguyên và thuế doanh thu phải nộp trong 3 năm đầu, thuế lợi tức cũng được giảm trong 3 năm đầu kể từ khi
có lợi tức chịu thuế Về lệ phí trước bạ, chỉ phải nộp 1% trên giá trị tài sản Ngày 3/9/1998, Chính phủ đã quy định tại Nghị định 68/NĐ-CP về thuế suất phải nộp
và chính sách miễn giảm thuế tài nguyên thủy sản Nếu khai thác ở vùng biển xa
bờ bằng phương tiện có công suất lớn được miễn thuế tài nguyên 5 năm đầu kể từ khi được cấp giấy phép khai thác và giảm 50% trong 5năm tiếp theo Đối với sản phẩm qúy khai thác là ngọc trai, bào ngư, hải sâm là 10% còn tôm, cá, mực và các loại thủy sản khác là 2%
Hiện nay để cạnh tranh với các nhà sản xuất xuất khẩu thủy sản của các nước trên thế giới và đặc biệt đối với các nước khu vực ASEAN, ngày 2/6/1998, Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 103 QĐ/BTC về việc đánh thuế 0% đối với hàng thủy sản xuất khẩu Việc đánh thuế 0% này đã làm tăng sức cạnh tranh về giá cả hàng thủy sản của Việt Nam trên thị trường thế giới, đồng thời với mức thuế này
là sự phù hợp của nó với công nghệ sản xuất và chất lượng hàng thủy sản xuất khẩu hiện nay của nước ta so với các nước xuất khẩu thủy sản khác
Trang 25Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
4.2 Chính sách đầu tư và quản lý vốn
Trong thời gian hơn 10 năm vừa qua, ngành thủy sản có mức tăng trưởng bình quân hàng năm về tổng sản lượng khoảng 4% và giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng từ 10-15% Nhưng, nếu so với tiềm năng lớn của vùng biển đặc quyền kinh
tế rộng trên 1 triệu km2 thì con số này mới chỉ là biểu hiện bước đầu, chưa đáng
kể Muốn thủy sản có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế đất nước, cần phải tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh của ngành, đồng thời Nhà nước cần ban hành những chính sách mới để khuyến khích, kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực thủy sản, nhất là trong khu vực nuôi trồng và đánh bắt xa
bờ
Xem xét cả giai đoạn 1986-1998, thì vốn trong nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm đến 83,56% trong tổng vốn đầu tư (tổng vốn đầu tư cả 3 giai đoạn là 7.795.200 triệu đồng) Tỷ trọng vốn ngân sách đầu tư cho thủy sản cả 3 giai đoạn chỉ được 12,49%, khoảng 974.000 triệu đồng Vốn tín dụng ưu đãi cũng chỉ đạt trên 30%, trong đó vốn trung và dài hạn ít, còn phần lớn là vốn ngắn hạn với lãi suất cao nên không khuyến khích người vay Rất ít doanh nghiệp vay vốn để đầu
tư đổi mới công nghệ; sản phẩm có giá trị gia tăng mới chỉ chiếm 6-7% kim ngạch xuất khẩu
Bên cạnh nguồn vốn trong nước, chúng ta đã khai thác khá mạnh các nguồn lực bên ngoài Với những chính sách thích hợp, từ năm 1991 đến nay nguồn lực bên ngoài đầu tư cho ngành tăng nhanh Thời kỳ 1991-1995, nguồn vốn này đạt bình quân 95.398 triệu đồng/năm, sang thời kỳ 1996-1998 tăng lên 188.614,3 triệu đồng/năm, tăng 97,7%/năm so với bình quân thời kỳ 1991-1995
Với nguồn tài trợ và đầu tư trên, chủ yếu là nguồn ODA, các nước và các tổ chức quốc tế đã tập trung giúp Việt Nam xây dựng quy hoạch phát triển ngành;
nghiên cứu nguồn lợi biển; phát triển cơ sở hạ tầng nghề cá; tăng cường năng lực
Trang 26chế biến thủy sản và nâng cao chất lượng sản phẩm; phát triển nguồn nhân lực và tăng cường thể chế cho ngành thủy sản Tuy nhiên, do chưa có quy hoạch phát triển ngành cụ thể, thiếu số liệu điều tra khảo sát và thiếu các dự án khả thi, nên nguồn vay từ ODA và FDI mới chỉ đạt khoảng 6,2% và 8%, mặc dù có không ít các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến tiềm năng thủy sản của Việt Nam Cho đến nay, chỉ còn khoảng 42 dự án FDI với số vốn hơn 144 triệu USD và 10 dự án ODA (150 triệu USD) đã được cấp phép còn tiếp tục hoạt động
Về đầu tư lĩnh vực, trong cả 3 thời kỳ đã có sự đầu tư đáng kể vào lĩnh vực nuôi trồng, chế biến và khai thác thủy sản Tuy nhiên, sự đầu tư này còn rất nhỏ bởi nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp, phải có sự huy động vốn nhiều hơn nữa thì sự đầu tư này mới có hiệu quả cao
Dự kiến trong thời kỳ 1999-2010, tổng mức đầu tư cho phép phát triển ngành thủy sản sẽ là 35.590.000 triệu đồng:
- Trong đó:
+ Vốn huy động: 15.610.000 triệu đồng (chiếm 44%)
+ Vốn tín dụng: 11.710.000 triệu đồng (chiếm 33%)
+ Vốn ngân sách: 4.610.000 triệu đồng (chiếm 13%)
+ Vốn liên doanh với nước ngoài: 3.660.000 triệu đồng (chiếm 10%)
Cơ cấu đầu tư giai đoạn 1999-2010 được chia theo lĩnh vực như sau:
- Nuôi trồng thủy sản: 9.580 tỷ đồng, chiếm 27%
- Khai thác hải sản: 10.200 tỷ đồng, chiếm 28,75%
- Chế biến thủy sản: 9.580 tỷ đồng, chiếm 27%
- Hạ tầng dịch vụ: 5680 tỷ đồng, chiếm 16%
- Nghiên cứu khoa học: 300 tỷ đồng, chiếm 0,85%
- Đào tạo, giáo dục: 88 tỷ đồng, chiếm 0,25%
- Các lĩnh vực khác: 62 tỷ đồng, chiếm 0,15%
Trang 27Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Qua xem xét, phân tích nguồn vốn đầu tư của ngành thủy sản của các giai đoạn, ta nhận thấy rằng: muốn đạt được các mục tiêu đặt ra và hội nhập với nghề
cá thế giới, sự huy động nguồn lực trong nước là cơ bản, nhưng sự giúp đỡ của quốc tế là không thể thiếu và rất quan trọng Trong nguồn lực quốc tế, về chỉ đạo chúng ta cần khơi thông nguồn FDI, sao cho tỷ trọng này ngày càng cao, giá trị ngày càng lớn và tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa 2 nguồn FDI và ODA để bổ sung,
hỗ trợ lẫn nhau
Nếu như có sự đầu tư hợp lý, hiệu quả trong nuôi trồng và khai thác thủy sản thì sẽ tác động rất tích cực đến việc tăng sản lượng đánh bắt, sản lượng chế biến phục vụ cho xuất khẩu thủy sản ngày một tăng cao
4.3 Chính sách về khai thác thủy sản
Tới nay, tổng sản lượng thủy sản của cả nước đã vượt qua mức 1 triệu tấn/
năm, song cũng để lại một vùng biển cạn kiệt nguồn lợi, năng suất đánh bắt giảm 1/2, giá thàng sản phẩm tăng gấp đôi Tuy phát triển nghề cá xa bờ để bảo vệ nguồn lợi ven biển và tăng chất lượng sản phẩm nhưng lại chưa triển khai đồng
bộ, hiệu quả còn thấp
Từ khi có Nghị định số 13/CP của Chính phủ (ký ngày 02/3/1993), tiếp đến
là Thông tư liên bộ số 02 LB/TT hướng dẫn thi hành Nghị định số 13/CP cho thấy công tác khuyến ngư đã tác động rất hiệu quả đến phong trào nuôi trồng, khai thác và sơ chế bảo quản thủy sản Vì trước hết, khuyến ngư là chủ trương đúng đắn, hợp với điều kiện hiện nay của các ngư dân và rất được đông đảo ngư dân ủng hộ, hưởng ứng So với lĩnh vực khai thác và sơ chế bảo quản thủy sản thì hiệu quả của khuyến ngư trong nuôi trồng đa dạng và phong phú hơn, nhờ có hoạt động khuyến ngư mà diện tích và năng suất tăng lên đáng kể Từ các loại cá thông thường đến các loại đặc sản có giá trị kinh tế cao ngày càng được phát triển mạnh Có thể nói Nghị định 13/CP của Chính phủ đã khơi dậy tiềm năng của cả miền biển, đồng bằng và miền núi Trong những năm qua, Nghị định 13/CP đã đi sâu vào thực tiễn và có tác dụng đối với việc phát triển sản xuất thủy sản của đất
Trang 28nước Tuy nhiên, qua thực hiện Nghị định này còn bộc lộ những hạn chế cả về lý luận lẫn thực tiễn Chính vì vậy mà cần có sự hoàn thiện và điều chỉnh Nghị định này theo tinh thần tập trung kinh phí cho những vùng khai thác, sản xuất thủy sản
có giá trị kinh tế cao
Đối với việc đánh bắt xa bờ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 400/ Ttg ngày 7/8/1993 cho miến thuế tài nguyên, thuế doanh thu, thuế lợi tức
và hoàn thuế xuất khẩu trong 3 năm đầu đối với tàu thuyền đánh bắt hải sản xuất khẩu ở Biển Đông Trường Sa
Chính sách ưu đãi trên đã có tác dụng tích cực thúc đẩy sự phát triển nghề cá khai thác xa bờ, góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc Đồng thời, cũng hạn chế việc đánh bắt hải sản gần bờ khi mà nguồn hải sản gần bờ đang bị cạn kiệt
Đầu năm 1997, Chính phủ đã chỉ đạo ngành thủy sản thực hiện chương trình đánh cá xa bờ Đến hết năm 1998, cả nước đã có trên 300 tàu công suất lớn (90-
350 CV) đưa vào sử dụng, năng lực khai thác xa bờ đã có bước chuyển biến đáng
kể Nhưng theo đó lại nổi lên nhiều vấn đề về ngư trường và dự báo khai thác vùng khơi, trình độ sử dụng tàu lớn của thuyền trưởng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm khai thác được, nhất là khâu tiêu thụ sản phẩm Điều đáng lo ngại là chỉ có khoảng 20% sản lượng khai thác xa bờ có thể dùng để xuất khẩu Còn lại 80%
dùng tiêu thụ nội địa hay làm bột cá, phơi khô và làm nước mắm Cá đánh được nhiều mà bán giá lại rẻ và khó bán thì hiệu quả thấp Lại chưa có cơ quan dự báo ngư trường và khai thác ngắn hạn để hướng dẫn các tàu đi đánh bắt cá xa bờ đi đến đúng nơi có cá mà đánh Trình độ các thuyền trưởng non yếu, sử dụng tàu lớn
và máy móc khá hiện đại sẽ gây ra những sự cố hỏng hóc Nhất là vào thời vụ chính, cá về nhiều lại không có kho lạnh dự trữ hải sản, điều kiện trên tàu bảo quản kém, bến bãi thiếu càng làm cho sản lượng bị thất thoát nhiều và giá hạ hơn
Trang 29Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Bởi vậy, nhiều đơn vị, cá nhân phấn khởi khi vay được vốn ưu đãi của ngân hàng để đóng tàu lớn và trang bị máy móc khá hiện đại ra khơi, nhưng sau một thời gian đã xuất hiện những lo ngại Tính từng chuyến đi biển thì có lãi, nhưng tính cả năm thì lại lỗ, do thời gian nằm chờ để bảo dưỡng, sửa chữa lâu, chi phí lớn Cá đánh được nhiều nhưng giá rẻ và chi mua nhiên liệu lại cao (do máy lớn, đường đến ngư trường xa, thời gian và nhiên liệu chạy tàu tìm luồng cá hết nhiều) Vì thế sản xuất không có lãi, có trường hợp bị lỗ
Rõ ràng là có nhiều vấn đề đang đặt ra để bảo đảm cho việc đầu tư đóng tàu khai thác hải sản xa bờ có hiệu quả Đó không phải là việc một sớm, một chiều có thể giải quyết được
Tóm lại, chương trình đánh bắt hải sản xa bờ không chỉ là việc đóng tàu đi khơi, mà nó là dây chuyền đồng bộ từ khai thác, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm thật tốt
4.4 Vấn đề đảm bảo chất lượng thủy sản chế biến cho xuất khẩu
Để đảm bảo an toàn vệ sinh và chất lượng hàng thủy sản xuất khẩu, tháng 6/1995, Bộ Thủy sản đã ban hành Chỉ thị số 13/CT/KHCN Tuy nhiên, trong thời gian qua những hiện tượng tạp chất vào hàng thủy sản xuất khẩu vẫn có chiều hướng gia tăng do một số doanh nghiệp thiếu nguồn hàng vì chỉ nghĩ đến lợi nhuận vẫn mua hàng có cho thêm tạp chất về chế biến, làm thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước, làm giảm uy tín của sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới Và chính vì một trong những nguyên nhân như vậy, mà hàng thủy sản Việt Nam có nguy cơ bị mất dần, đặc biệt là thị trường tôm nguyên liệu, trước tình hình cạnh tranh gay gắt với các nước trong khu vực
Theo dự báo của các chuyên gia, nhu cầu trên thế giới đối với nhiều loại sản phẩm thủy sản mà Việt Nam có khả năng sản xuất đang và sẽ tăng lên mạnh chủ yếu theo các hướng: sản phẩm giá trị cao; sản phẩm ăn liền đóng gói nhỏ và các loại thủy sản tươi sống Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu cũng đặt ra những thách
Trang 30thức mới, nhất là các qui định về an toàn vệ sinh thực phẩm; yêu cầu chất lượng tiêu dùng ngày càng cao hơn và những yêu cầu, qui định này cũng khác nhau ở từng thị trường Thực tiễn đòi hỏi ta phải chủ động nắm bắt và đáp ứng những qui định này một cách linh hoạt, nếu muốn mở rộng thị trường xuất khẩu
Theo Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thủy sản (NAFIQACEN) thì:
EU và Mỹ là những thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản rất cao
Đối với EU, việc kiểm soát phải được thực hiện dưới sự giám sát của chính
họ mới có giá trị và được công nhận Để xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU, các nước phải có đủ ba điều kiện sau:
Xây dựng hệ thống pháp luật hữu hiệu về kiểm soát chất lượng, an toàn vệ sinh thủy sản tương đương với EU
Có cơ quan kiểm soát an toàn vệ sinh cấp quốc gia tương đương
EU về tổ chức, trang thiết bị kiểm soát (ở Việt Nam, cơ quan này là
NAFIQACEN)
Các doanh nghiệp ở nước xuất khẩu phải tương đương về điều kiện sản xuất, quản lý chất lượng với các doanh nghiệp sản xuất những sản
phẩm cùng loại của EU
Trong thời gian vừa qua, Bộ Thủy sản đã xây dựng và ban hành hàng loạt tiêu chuẩn trong quản lý chất lượng, đó là tiêu chuẩn về Cơ sở chế biến thủy sản,
về Chương trình quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm theo HACCP và các tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở sản xuất kinh doanh
Với sự cố gắng và nỗ lực không ngừng của ngành thủy sản trong việc vệ sinh an toàn thủy sản cho xuất khẩu, ngày 20/10/1999, Ủy ban Thú y thường trực của EU đã bỏ phiếu nhất trí đưa Việt Nam vào danh sách I được phép xuất khẩu vào EU ở cấp liên minh và ngày 16/11/1999, Cộng đồng Châu Âu (EC) đã phê chuẩn 18/33 doanh nghiệp nói trên được xuất khẩu ở cấp liên minh vào EU Tuy nhiên, số doanh nghiệp này vẫn còn quá ít, nếu muốn đẩy mạnh xuất khẩu thủy
Trang 31Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
sản đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư, đổi mới theo tiêu chuẩn chất lượng GMP và HACCP, đảm bảo vệ sinh an toàn thủy sản xuất khẩu
Bên cạnh những việc làm được, công tác quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản còn nhiều tồn tại: Hệ thống văn bản pháp qui của Nhà nước, của Bộ chưa đầy đủ, đồng bộ và còn chồng chéo; tổ chức quản lý Nhà nước
về chất lượng chưa hoàn chỉnh, đặc biệt ở các địa phương; việc quản lý điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản chưa được thực hiện ở các công đoạn: nuôi trồng, đánh bắt, thu hoạch, vận chuyển và các khâu khác của dây chuyền sản xuất thủy sản
III MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN LỚN CỦA VIỆT NAM
Trong hơn 10 năm qua, xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam đã có những bước phát triển tích cực về việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu Từ chỗ xuất khẩu chủ yếu qua hai thị trường trung gian là Hồng Kông, Singapore, ngày nay sản phẩm thủy sản của nước ta đã có mặt ở khắp các châu lục trên thế giới Năm
2001, hàng thủy sản Việt nam đã có mặt tại 62 nước trên thế giới Năm 2002 cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam như sau: Mỹ 32,87%, Nhật 26,57%, Trung Quốc 8,54%, Hồng Kông 6,39%, EU 3,65%, còn lại là các thị trường khác Đặc biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam đã rất cố gắng trong việc mở rộng thị trường sang Châu Âu và Bắc Mỹ
Cơ cấu thị trường xuất khẩu đã được thay đổi theo hướng đa dạng hóa nhưng vẫn tập trung đột phá các thị trường trọng điểm của thế giới Bảng số liệu 9 cho ta thấy rõ điều đó:
Bảng 9 Thị trường XKTS chính của Việt Nam (2001-2002)
Thị trường
Số lượng (Tấn)
Kim ngạch (USD)
Tỉ trọng
Số lượng (Tấn)
Kim ngạch (USD)
Tỉ trọng
Nhật Bản 76.895,50 465.900.792 26,2 96.251,40 537.459.466 26,6 Trung Quốc 45.015,40 194.766.308 11 51.206,40 172.612.220 8,5
Trang 32Hồng Kông 23.164,10 121.952.876 6,9 25.969,00 129.324.869 6,4
Khác 132.825,86 415.085.520 23,3 157.953,91 454.727.185 22,5
Tổng cộng 375.490,70 1.777.485.754 100 458.657,99 2.022.820.916 100
Nguồn: Báo cáo tổng kết Bộ Thủy Sản 2002
Theo tổng kết của Bộ Thủy sản, trong 10 tháng đầu năm 2003, cơ cấu thị trường của hàng thủy sản Việt nam xuất khẩu như sau:
Thị trường Mỹ: dẫn đầu, chiếm tỷ trọng 39,8% về giá trị, đạt 172,8 triệu
USD Mặt hàng tăng mạnh nhất là tôm đông lạnh, giá bình quân đạt 7,33 USD/kg
Thị trường Nhật: đứng thứ hai, chiếm tỷ trọng 19,8%, hơi giảm so với năm
2002, đạt 85,9 triệu USD Nhóm hàng mực và bạch tuộc tăng nhiều nhất do sản lượng khai thác ở các vùng khác bị giảm Riêng mặt hàng tôm giảm sút Giá XK bình quân là 5,28 USD/kg
Trung Quốc và Hồng Kông: chiếm 11,7%, ước đạt 77,5 triệu USD, giảm
mạnh so với năm 2002, các nhóm hàng chính như mực và bạch tuộc, hải sản khô,
cá và tôm đều giảm Giá XK bình quân là 4,42 USD/kg
Thị trường EU: đứng thứ tư, chiếm tỷ trọng 5,2% kim ngạch đạt 22,4 triệu
USD Thị trường này tuy còn ít nhưng đã có sự tăng trưởng đáng kể Mặt hàng tôm tăng nhiều nhất, sau đó là cá và nhuyễn thể Giá xuất khẩu bình quân là 3,35 USD/kg
Thị trường ASEAN: chiếm tỷ trọng 3,9%, ước đạt 17 triệu USD, đạt khoảng
9 triệu USD Thị trường này cũng tăng mạnh so với năm ngoái Tôm tăng nhiều nhất, tiếp đó là cá, nhuyễn thể chân đầu, hàng khô Giá xuất khẩu bình quân là 2,71 USD/kg
Cơ cấu thị trường nhập khẩu của thủy sản Việt Nam trong 10 tháng đầu năm
2003 được thể hiện qua biểu đồ 1 dưới đây:
Biểu 1 Cơ cấu thị trường NKTS của Việt Nam 10 tháng đầu năm 2003
Trang 33Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
39.8
19.8 5.2
1998, hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường Nhật chỉ khoảng 90% so với năm
1997, chiếm tỷ trọng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam)
Đây là thị trường truyền thống với các mặt hàng như (triệu USD/tỷ trọng
%), tôm đông lạnh 291/62, cá đông lạnh 26/5,6 mực và bạch tuộc đông lạnh đạt 54/11,5 và các mặt hàng khác như cá ngừ, mực khô Tuy nhiên, thị phần thủy sản của Việt Nam tại đây còn rất nhỏ bé, chỉ có 3,06% và xếp thứ 13 trong số các nước xuất khẩu thủy sản sang thị trường này Việc tăng thị phần cho thủy sản Việt Nam tại đây cần được coi là nhiệm vụ quan trọng của các nhà chế biến và xuất khẩu thủy sản của nước ta, bất cứ biến động nào của thị trường này cũng gây ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu thủy sản nước ta
Từ giữa năm 2002, Nhật cũng đã có những động thái kiểm tra dư lượng kháng sinh và tuyên bố sẽ chú ý hơn trong vấn đề này
Nhật Bản nhập khẩu thủy sản từ hàng trăm nước trên khắp thế giới Tuy
Trang 34nhiên, chỉ có 10 nước cung cấp chính các sản phẩm thủy sản cho thị trường Nhật Bản là: Trung Quốc, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, Chilê, Đài Loan,
Ấn Độ, Na Uy
Dù đang trên đường hồi phục, nhưng Nhật vẫn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới Thị trường này nhập khẩu đủ các loại sản phẩm Rất tiếc là trong 10 mặt hàng nhập khẩu có giá trị lớn của Nhật, hàng thủy sản Việt Nam chỉ đóng góp có 2 đến 3 mặt hàng Các nước Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc, Nga xuất khẩu lớn các mặt hàng thủy sản sang Nhật và họ dựa chủ yếu vào mặt hàng cá biển Đây là vấn đề mà các doanh nghiệp xuất khẩu của chúng ta cần quan tâm Ngoài ra, quan sát tiến trình nhập khẩu thủy sản của Nhật Bản gần đây cho thấy có thay đổi lớn trong cơ cấu các hàng thủy sản nhập khẩu
Tôm, tôm hùm, cua, cá ngừ, cá hồi, cá philê là các mặt hàng cao cấp có mức nhập khẩu giảm dần cả về khối lượng và giá nhập khẩu trung bình Trong khi đó, họ lại tăng mức nhập khẩu các sản phẩm bình dân như cá biển, nguyên liệu các loại
Người tiêu dùng Nhật Bản chuyển dần sang mua các sản phẩm bình dân nhiều hơn là các mặt hàng thủy sản cao cấp Đây là điều mà các doanh nghiệp và các nhà chế biến xuất khẩu thủy sản của chúng ta cần lưu ý
2 Thị trường Mỹ
Năm 2001, xuất khẩu thủy sản của Việt nam sang Mỹ đạt khối lượng 71 nghìn tấn, giá trị 489 triệu USD, tăng so với năm 2000 tương ứng là 86,8% và 62,4%, chiếm 27,5% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản và là thị trường xuất khẩu số
1 của thủy sản Việt Nam Năm 2002, thị trường này vẫn giữ vị trí số 1 với khối lượng xuất khẩu là 98.644,5 tấn, trị giá 655 triệu USD, chiếm 32,38% thị phần, tăng 33,93% so với năm 2001 Tuy nhiên thị phần của thủy sản Việt nam tại thị trường khổng lồ này còn rất khiêm tốn, chỉ chiếm gần 5% Các mặt hàng xuất sang Mỹ tính theo giá trị nhiều nhất vẫn là tôm đông lạnh, đạt 466 triệu USD, chiếm 71,2% kim ngạch
Trang 35Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
XK (tăng 37,62% so với năm 2001), cỏ đụng lạnh đạt 15,03%, cỏ tra, basa, cỏ ngừ, mực đụng lạnh, mực khụ và cỏc mặt hàng giỏ trị gia tăng
Cạnh tranh trờn thị trường này hiện đang rất gay gắt bởi cú rất nhiều quốc gia cựng xuất khẩu chung một số mặt hàng chủ lực vào Mỹ Để cú thị phần lớn
và vị trớ vững chắc tại thị trường Mỹ thỡ sản phẩm thủy sản của nước ta phải nõng cao sức cạnh tranh (cả về chất lượng và giỏ cả) Đồng thời, phải cú sự tiếp cận đầy đủ, kịp thời và chớnh xỏc cỏc thụng tin về thị trường này, cỏc vấn đề về luật phỏp và đặc biệt là cỏc rào cản mới mà Mỹ luụn luụn sử dụng trong quan hệ thương mại quốc tế Hiện tại, hàng thủy sản Việt Nam phải cạnh tranh chủ yếu với thủy sản Canada và Thỏi Lan trờn thị trường Mỹ Canada lấy cỏc mặt hàng tụm hựm, cua biển, cỏ philờ, cỏ hồi là chủ yếu Thỏi Lan chọn 2 mặt hàng chiến lược là tụm sỳ đụng và hộp cỏ ngừ Trung Quốc cũng đang tăng nhanh thị phần tại thị trường Mỹ
Năm 2002 cũng là một năm súng giú vỡ Việt nam phải tiếp tục đấu tranh chống lại vụ kiện bỏn phỏ giỏ cỏ tra, cỏ basa Trước mắt, sức tiờu thụ của Mỹ đối với cỏc sản phẩm thủy sản của Việt nam khụng hề giảm mà lại tăng đỏng kể Tuy nhiờn, Mỹ cũng đang chuẩn bị khởi kiện vụ bỏn phỏ giỏ tụm và ỏp dụng rào cản kiểm tra dư lượng khỏng sinh Từ thỏng 6/2002, Mỹ hạ mức giới hạn phỏt hiện từ 5ppb xuống 1ppb và hiện nay cũng hạ xuống chỉ cũn 0,3ppb Đõy cũng là một thỏch thức lớn đối với hàng thủy sản Việt nam
Biểu 2 Cơ cấu cỏc nhúm sản phẩm chớnh xuất khẩu sang Mỹ năm 2002
7.5
1.8 6.7 7.4
5.1
Tôm đông các loại Cá Basa philê đông Cá ngừ tươi đông Cá đông lạnh các loại Cua biển các loại
Trang 36Nguồn: Trung tâm thông tin Bộ Thủy Sản-2002
Hiện tại, thị trường nhập khẩu thủy sản Mỹ đang rất phát triển, nhưng thị trường này luôn bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố và khó dự báo chính xác Thị trường nhập khẩu Mỹ sẽ vẫn tăng trưởng trong tương lai nhưng tốc độ chậm lại
Mức độ tăng trưởng này phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ có phục hồi trở lại và tiếp tục tăng trưởng hay không? Các vụ phá sản gần đây của các tập đoàn công nghiệp
và tài chính lớn, thị trường chứng khoán Mỹ chao đảo, tình hình khủng bố và chống khủng bố đều ảnh hưởng trực tiếp tới sức mua sắm các sản phẩm thủy sản cao cấp của người Mỹ Chính những dấu hiệu nêu trên đang hiện hữu sẽ khó mà
dự đoán triển vọng tăng nhanh của thị trường nhập khẩu thủy sản Mỹ
3 Thị trường Đông Á
Ngoài Nhật Bản và Mỹ, ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng có nhiều thị trường nhập khẩu lớn của Việt nam như Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc Sau đây là những nét chính về tình hình nhập khẩu thủy sản Việt Nam của các nước này
Hồng Kông
Hồng Kông là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ nhì Châu Á và thứ 8 thế giới Chỉ với số dân 6,6 triệu người, nhưng hàng năm Hồng Kông thu nhận hàng chục triệu khách đến du lịch, lượng tiêu thụ thủy sản vào khoảng 350 – 370 nghìn tấn/năm (thời kì 1996-2000) và nhập khẩu rất lớn tới gần 400 nghìn tấn (2000)
Trong vài năm gần đây, sản lượng thủy sản của Việt nam xuất khẩu sang Hồng Kông liên tục tăng Năm 2002, Việt nam đã xuất khẩu sang quốc gia này gần 26 nghìn tấn thủy sản, đạt kim ngạch gần 130 triệu USD Thị trường nhập khẩu thủy sản Hồng Kông sẽ phát triển trong tương lai
Trang 37Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt nam về các mặt hàng thủy sản Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 45 nghìn tấn thủy sản, giá trị 194,7 triệu USD, chiếm 11% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản
Năm 2002, khối lượng thủy sản xuất khẩu sang thị trường này tăng 19,5% so với năm 2001, nhưng giá trị giảm 7,3% Nguyên nhân chính là một số mặt hàng quan trọng bị mất giá, trong đó, mực khô bị mất giá nhiều nhất
Để tăng thị phần của thủy sản Việt Nam tại Trung Quốc, các doanh nghiệp của chúng ta cần đa dạng hoá các mặt hàng khác như sản phẩm khô, sản phẩm muối và mở rộng thị trường sang các tỉnh phía Tây của Trung Quốc như Vân Nam, Quý Châu
Hàn Quốc
Thương mại quốc tế về thủy sản của Hàn Quốc rất phát triển Năm 2000, tổng giá trị xuất, nhập khẩu tới 2,9 tỷ USD Đây là thị trường có giá trị lớn cả về xuất khẩu và nhập khẩu thủy sản
Hàn Quốc là thị trường quan trọng của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt nam Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc 50 nghìn tấn thủy sản giá trị
103 triệu USD, tăng gấp 1,5 lần so với mức năm 2000 6 tháng đầu năm 2002, Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt giá trị gần 50 triệu USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2001
Hàn Quốc là thị trường đầy tiềm năng, chúng ta có nhiều khả năng để mở
Trang 38rộng thị phần sang thị trường này
Singapore
Singapore là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ nhì của ASEAN Tuy đất hẹp, người ít (3,8 triệu dân), nhưng thương mại quốc tế về thủy sản của Singapore rất phát triển với tổng giá trị vượt 1 tỷ USD/năm Nếu tính theo đầu người thì đây là quốc gia có nền ngoại thương thủy sản hàng đầu thế giới
Đây là thị trường truyền thống, có sức tiêu thụ khá lớn và chủng loại mặt hàng đa dạng phù hợp cơ cấu nguồn lợi biển Việt Nam, chiếm tỷ trọng khoảng 17 – 25% Tuy nhiên, thị trường này chủ yếu là nhập sản phẩm tươi sống sơ chế hoặc nguyên liệu, đồng thời cũng là khu vực cạnh tranh với ta về xuất khẩu Mặt khác, do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế của các nước trong khu vực, nên thời gian gần đây xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thị trường này suy giảm và không
ổn định Năm 1998, kim ngạch vào thị trường này giảm chỉ còn bằng 80% so với năm 1997
4 Thị trường Châu Âu
Thị trường này ngày càng chiếm tỷ trọng lớn đối với sản phẩm thủy sản Việt Nam Năm 1997, bình quân cả năm đạt khoảng 10% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu thì đến năm 1998 thị trường này tăng tới 13%, đây là thị trường khó tính nhưng đầy triển vọng
Khối lượng xuất khẩu thủy sản vào thị trường này trong năm 2002 đạt 28.613 tấn, giá trị 73,7 triệu USD, chiếm 3,64% tổng giá trị thủy sản xuất khẩu
So với năm 2001, giá trị xuất khẩu vào EU giảm 18,76% Đây là một thị trường tuy có thị phần không lớn (chỉ chiếm 3,6%) nhưng lại có ý nghĩa quan trọng vì các nước trong EU luôn yêu cầu cao về chất lượng và an toàn thực phẩm Các mặt hàng chính xuất khẩu vào EU là: cá đông lạnh: 5.398 tấn, đạt 16,448 triệu USD
Trang 39Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
chiếm 22,31%, tiếp đó là mực, bạch tuộc đông lạnh, đạt 7.904 tấn, đạt 13,634 triệu USD, chiếm 18,48% Tôm đông lạnh đạt 3.931 tấn, đạt trên 15,733 triệu USD, chiếm 21,34%, ngoài ra còn có cá ngừ, mực khô và một số mặt hàng khác
Ngày 16/11/1999, Cộng đồng Châu Âu (EC) đã ký Quyết định đưa Việt Nam vào danh sách I - các nước được phép xuất khẩu thủy sản vào EU Như vậy,
từ ngày 18/11/1999 Việt Nam được phép xuất khẩu các sản phẩm thủy sản từ các doanh nghiệp đã được phê chuẩn với tư cách là một nước thuộc danh sách I các nước được phép xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU
EU có thể được xem là như miền đất “quả vàng” đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt nam hiện nay Phần lớn những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam lại là những mặt hàng xuất khẩu chính sang thị trường EU
và nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng này của EU hàng năm là rất lớn và vẫn không ngừng tăng lên
Tóm lại , không thể phủ nhận rằng thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn
có kim ngạch xuất khẩu ngày càng nâng cao, đồng thời đây cũng là một ngành không ngừng đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm, đa dạng thị trường Nhưng xét một cách tổng thể, hiệu quả xuất khẩu của thủy sản Việt Nam còn chưa cao, xuất khẩu chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Phải thấy rằng, tiềm năng phát triển ngành thủy sản của nước ta là rất lớn với trữ lượng hải sản lớn, điều kiện đánh bắt thuận lợi Tuy nhiên, hiện nay khối lượng đánh bắt còn thấp, lượng và giá trị nguyên liệu thất thu sau thu hoạch còn cao, chi phí đánh bắt cũng cao Xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác nguồn lợi tự nhiên nên nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu vừa không ổn định, các loại sản phẩm thủy sản sau chế biến ít với chất lượng không cao làm giảm sức cạnh tranh của thủy sản Việt nam trên trường quốc tế
Về cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản thì chủ yếu vẫn tập trung vào hai thị trường lớn là Nhật Bản và Mỹ Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam cũng đã bắt đầu tiến hành mở rộng xuất khẩu sang các thị
Trang 40trường khác nhưng mới chỉ là những bước đi thăm dò, tìm hiểu nên hiệu qủa chưa
có hiệu quả đáng kể EU một trong số các thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam hiện đang rất quan tâm Đây là một thị trường rộng lớn, nhu cầu tiêu dùng mặt hàng thủy sản cao Tuy nhiên, đây cũng
là một thị trường có các tiêu chuẩn rất khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm Số liệu thống kê của Bộ Thủy Sản cho thấy, giá trị kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU trong 10 tháng đầu năm 2003 tăng 70% so với cùng kì năm ngoái
Đây là một con số tăng trưởng ngoạn mục và chứng minh rằng mối quan tâm của các doanh nghiệp Việt Nam về thị trường tiềm năng này là thực sự đúng đắn Để giúp người đọc có thể hiểu rõ hơn về thị trường EU, chương II của khoá luận này
sẽ trình bày khái quát về thực trạng xuất khẩu của thủy sản Việt Nam sang EU trong thời gian qua, những quy định của EU đối với hàng thủy sản nhập khẩu, từ
đó đưa ra đánh giá về tiềm năng to lớn của thị trường này trong thời gian tới
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA THỦY SẢN VIỆT NAM SANG EU TRONG NHỮNG NĂM QUA
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG EU
1 Đặc điểm chung về kinh tế, chính trị và mức sống dân cư
1.1 Về kinh tế, chính trị
Từ năm 1968, EU đã là một thị trường thống nhất hải quan, có định mức thuế hải quan chung cho tất cả các nước thành viên Ngày 07/02/1992, Hiệp ước Mastricht được ký kết tại Hà Lan mở đầu cho sự thống nhất chính trị, kinh tế, tiền
tệ giữa các nước thành viên EU Cho đến nay, EU đã là một thị trường rộng lớn, bao gồm 15 quốc gia với gần 400 triệu người tiêu dùng Thị trường EU thống