1. Trang chủ
  2. » Tất cả

LỜI nói đầu

5 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 401,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU 1 I Mở đầu 1 Lí do chọn đề tài Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày nay đòi hỏi nguồn nhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng Nguồn nhân lực đó[.]

Trang 1

I Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài:

Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày nay đòi hỏi nguồn nhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng Nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của mỗi đơn vị, doanh nghiệp nói riêng và của đất nước nói chung Kiến thức và sự hiểu biết về nguyên tắc đảm bảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, logic tất yếu đòi hỏi chất lượng đào tạo ngày càng phải tốt hơn Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy học ở nhà trường

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển

từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học sinh

Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái

gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành và phát triển năng lực - phẩm chất tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên

Trang 2

cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lực chính là công cụ để học sinh luyện tập nhằm hình thành năng lực và là công cụ để giáo viên và các cán bộ quản lý giáo dục kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà người giáo viên cần thực hiện Vì vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cần biết xây dựng các bài tập định hướng phát triển năng lực

Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên nghiên cứu các chất và sự biến đổi của chất Nắm vững được kiến thức cơ bản sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Để đạt được mục đích đó, hệ thống các bài tập Hóa học đóng vai trò quan trọng, bởi từ việc giải bài tập thì học sinh sẽ nắm bắt được kiến thức, đào sâu mở rộng, các thiếu sót của học sinh sẽ được sửa chữa

Trong kinh nghiệm giảng dạy của mình, trong bồi dưỡng học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, tôi nhận thấy hệ thống bài tập Hóa học rất đa dạng với nhiều dạng bài khác nhau: bài toán tính theo công thức hóa học, tính theo phương trình hóa học, bài toán hỗn hợp, bài toán biện luận chất dư, bảo toàn khối lượng, biện luận bằng phương pháp trị số trung bình, bài toán lưỡng tính, bài toán oxit axit yếu tác dụng với dung dịch kiềm, bài toán axit – bazơ, bài toán lập công thức

Để giúp học sinh giải bài tập nhanh gọn và chính xác, tôi đã nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp giải bài tập áp dụng cho một số dạng bài tập khác nhau trong đó có bài toán axit – bazơ Sau khi đọc xong đề bài, học sinh phải biết phân loại bài tập thuộc dạng nào, sử dụng một phương pháp hay kết hợp nhiều phương pháp giải khác nhau Từ việc phân loại bài tập và hướng dẫn học sinh tìm phương pháp giải tôi đã áp dụng cho việc dạy các bài tập cơ bản trên lớp, dạy các bài tập khó hơn khi bồi dưỡng học sinh khá giỏi và đã có nhiều kết quả tiến bộ

Trang 3

Với những lí do trên tôi chọn đề tài: " Nâng cao kĩ năng giải bài toán hóa học cho học sinh khá giỏi lớp 9 thông qua bài toán axit – bazơ " nhằm giúp

học sinh khá giỏi có kinh nghiệm trong việc giải toán biện luận Qua nhiều năm vận dụng đề tài, tôi thấy học sinh khá giỏi đã tự tin hơn và giải quyết có hiệu quả khi gặp những bài tập loại này

2 Mục đích nghiên cứu:

- Nghiên cứu các kinh nghiệm về bồi dưỡng kĩ năng giải bài toán Hóa học cho học sinh lớp 9

- Nêu ra các dạng bài tập và phương pháp giải bài toán axit – bazơ theo dạng (phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu các phản ứng axit – bazơ trong Hóa vô cơ), giúp học sinh khá giỏi lớp 9 nhận dạng, giải nhanh và chính xác

3 Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh khá giỏi lớp 9

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Xây dựng cơ sở lý thuyết là phương pháp chung cho mỗi dạng

- Trên cơ sở điều tra thực tế khả năng phát hiện, xử lý số liệu trong bài và giải

quyết bài tập của học sinh

II Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm:

1 Cơ sở lí luận:

1.1 Để giải được các dạng bài tập, đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức cơ

bản:

* Định nghĩa axit, bazơ theo chương trình THCS:

- Phân tử axit gồm có một hay nhiều nguyên tử hiđro liên kết với gốc axit, các nguyên tử hiđro này có thể thay thế bằng các nguyên tử kim loại

- Phân tử bazơ gồm có một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm hiđroxit (- OH)

* Axit đơn(chứa 1 nguyên tử H trong phân tử): HCl, HBr, HI, HNO3

* Axit đa(chứa từ 2 nguyên tử H trở lên trong phân tử): H2SO4, H3PO4, H2SO3

* Bazơ đơn(chứa 1 nhóm nguyên tử -OH): KOH, NaOH, LiOH

Trang 4

* Bazơ đa(chứa từ 2 nhóm nguyên tử -OH trở lên): Ba(OH)2, Ca(OH)2

- Phản ứng hóa học giữa axit và bazơ gọi là phản ứng trung hòa Nếu phản ứng trung hòa thực hiện giữa dung dịch axit và dung dịch bazơ thì phản ứng trung hòa được coi là phản ứng trao đổi Trong các loại phản ứng hóa học xảy ra trong cùng một dung dịch thì phản ứng trung hòa xảy ra với tốc độ nhanh nhất, được

ưu tiên phản ứng trước

- Sản phẩm của phản ứng trung hòa được xác định theo 3 trường hợp:

Trường hợp 1: Cả axit và bazơ đều phản ứng vừa đủ Đây là trường hợp đơn giản nhất, hay gặp nhất, thông thường đề cho axit mạnh phản ứng với bazơ Sản phẩm tạo thành là muối trung hòa và nước

Trường hợp 2: Cho từ từ dung dịch axit vào ống nghiệm đựng dung dịch bazơ,

do lượng bazơ ban đầu dư nên phản ứng ưu tiên sản phẩm tạo thành là muối trung hòa trước Sau đó thêm tiếp axit vào, do axit dư nên tạo thành muối axit Trường hợp 3: Cho từ từ dung dịch bazơ vào ống nghiệm đựng dung dịch axit,

do lượng axit ban đầu dư nên phản ứng ưu tiên sản phẩm tạo thành là muối axit trước Sau đó thêm tiếp bazơ vào, do bazơ dư nên tiếp tục tạo thành muối trung hòa

1.2 Một số công thức tính toán cơ bản và định luật cơ bản:

a Tìm số mol:

* n m m n M.

M

   trong đó: m : khối lượng chất (g)

M : khối lượng mol (g)

22, 4

V

n  V n trong đó: V : thể tích của chất khí (lit)

n : số mol khí (mol)

dd

.

n

n C V C

V

   trong đó: Vdd : thể tích của dung dịch (lit)

CM: nồng độ mol của dung dịch (mol/l hoặc M)

Ngày đăng: 19/11/2022, 20:21

w