1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft word 00 a loinoidau TV (moi thang1 2016)

6 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Hoạt Động Đổi Mới Kiểm Tra, Đánh Giá Môn Ngữ Văn Theo Định Hướng Hình Thành, Phát Triển Năng Lực Học Sinh
Tác giả Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Lê Văn Ca
Trường học Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản lý Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 435,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word 00 a loinoidau TV (moi thang1 2016) docx 18 Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Lê Văn Ca QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌ[.]

Trang 1

18 Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Lê Văn Ca

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

MANAGEMENT OF RENOVATION ACTIVITIES OF TESTING AND EVALUATING

IN PHILOLOGY TEACHING TOWARDS FORMING AND DEVELOPING STUDENTS’

CAPACITIES AT HIGH SCHOOLS

Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Lê Văn Ca

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng; nbhthanh@ued.udn.vn

Tóm tắt - Một trong những nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị

quyết 29/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là:

Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá

KTĐG) kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan

[2, tr 5] Chính vì vậy, quản lý hoạt động đổi mới KTDG nói chung,

quản lý hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn nói riêng, theo định

hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường trung học phổ

thông (THPT) là biện pháp đáp ứng xu thế đổi mới giáo dục và đào

tạo của Việt Nam và xu thế hội nhập thế giới Vận dụng lý thuyết

quản lý sự thay đổi, lý thuyết về dạy học môn Ngữ văn theo định

hướng hình thành, phát triển năng lực học sinh,… vào thực tế nhà

trường một cách phù hợp, bài viết đề xuất các biện pháp khả thi

trong quản lý hoạt động KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng hình

thành, phát triển năng lực học sinh ở các trường THPT hiện nay.

Abstract - One of the tasks and measures to implement the

Resolution No.29/TW on Radical and comprehensive renovation of

education and training is: Radically renovating the forms and

methods of tests, exams, and evaluation of educational results, guaranteeing integrity, objectivity Therefore, management of

renovation activities of testing and evaluating in general, and Philology teaching in particular towards developing students’ capacities is the measure that meets the general trend of renovation of education and training in Vietnam and the trend of international integration Appropriately applying the theory of Change management, theory of teaching Philology towards forming and developing students’ capacities o… to the reality of schools, the article proposes possible measures for management

of renovation activities of testing and evaluating in Philology teaching at high schools nowadays

Từ khóa - quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá môn ngữ văn; hình

thành, phát triển năng lực học sinh; trung học phổ thông; rubrics;

tự đánh giá

Key words - management of testing and evaluating activities in

philology teaching; forming and developing students’ capacities ; high schools; rubrics; self-evaluation

1 Đặt vấn đề

Trong định hướng phát triển Chương trình (CT) giáo

dục phổ thông (GDPT) sau 2015, môn Ngữ văn được coi

là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp bằng tiếng

Việt và năng lực cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực chuyên

biệt, ngoài ra, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực

giải quyết vấn đề, năng lực tự học (là các năng lực chung)

cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nội

dung dạy học của môn học

Việc đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo định

hướng phát triển năng lực (PTNL) có mục đích chủ yếu là

đánh giá những NL mà môn học có nhiệm vụ phát triển cho

HS sau mỗi giai đoạn học tập Khi chuyển từ ĐG theo chuẩn

kiến thức và kĩ năng (đánh giá theo nội dung kiến thức, kĩ

năng của môn học) sang ĐG theo năng lực, giáo viên (GV)

cần nhận ra được khả năng tiềm ẩn của HS, quan tâm nhiều

hơn đến sự tiến bộ và mức độ năng lực của mỗi cá nhân được

bộc lộ trong quá trình học tập, qua đó có sự điều chỉnh nội

dung và phương pháp dạy học phù hợp [1, tr 6]

Đã có một số nghiên cứu về KTĐG môn Ngữ văn theo

định hướng PTNL, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công

trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu, tìm kiếm và đề xuất

các biện pháp quản lý hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ

văn theo định hướng PTNL, do đó quản lý hoạt động này

chưa đạt kết quả như mong đợi Nghiên cứu của chúng tôi

đề xuất các biện pháp quản lý đổi mới KTĐG môn Ngữ

văn (NV) theo định hướng PTNL, nhằm góp phần vào việc

giải quyết những yêu cầu của thực tiễn giáo dục ở trường

THPT hiện nay

2 Các năng lực hình thành, phát triển năng lực học sinh THPT trong dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn

2.1 Năng lực chung

Năng lực là khả năng làm chủ và vận dụng hợp lí các kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách hiệu quả trong các tình huống đa dạng

của cuộc sống (Theo Québec - Ministere de l’Education, 2004) Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản

ánh mức độ năng lực của người học Để hình thành và phát triển NL cần xác định các thành phần và cấu trúc năng lực của chúng Cấu trúc chung của năng lực hành động được

mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể [1, tr 19]

Theo đó, năng lực chung cần hình thành và phát triển trong môn Ngữ văn:

- Năng lực giải quyết vấn đề: + Phát hiện và lí giải

những vấn đề nhập nhằng, mơ hồ, hàm ngôn, đa nghĩa, khó hiểu trong nội dung (ND), nghệ thuật (NT) văn bản (VB); + Phát hiện, liên hệ và giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống được gợi ra từ tác phẩm; +Phát hiện và giải quyết những khó khăn, thách thức đặt ra trong quá trình tạo lập

VB nói và viết

- Năng lực tư duy sáng tạo: + Có cách tiếp cận và cắt

nghĩa độc đáo về ND, giá trị của tác phẩm (TP); + Phát hiện những nét nghĩa mới, giá trị mới của VB, TP văn học; + Có cách nói và viết sáng tạo, độc đáo, hiệu quả

Trang 2

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 2(111).2017-Quyển 1 19

- Năng lực hợp tác: + Cùng tìm hiểu, cắt nghĩa, thảo

luận về ND, NT của TP; + Cùng giải quyết những vấn đề

thực tiễn đặt ra từ TP; + Tương tác trong quá trình tạo lập

VB, chỉnh sửa VB và đánh giá chéo; + Hỗ trợ nhau về kinh

nghiệm, tri thức đọc hiểu, tạo lập VB

- Năng lực tự quản bản thân: + Điều chỉnh thái độ,

cách ứng xử, hành vi của bản thân trong và sau khi học tác

phẩm; + Độc lập, chủ động khám phá giá trị của tác phẩm;

+ Thích ứng với các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau;

2.2 Năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn

- Năng lực giao tiếp Tiếng Việt:Sử dụng ngôn ngữ

Tiếng Việt phù hợp, hiệu quả trong quá trình đọc hiểu; qua

các bài học Tiếng Việt và qua các bài học tạo lập văn bản…

- Năng lực cảm thụ thẩm mĩ:+ Cảm nhận được vẻ đẹp

của ngôn ngữ, hình tượng văn học; + Đánh giá được ý

nghĩa, giá trị thẩm mĩ của tác phẩm VH; + Có quan điểm

sống và hành động hướng theo cái đẹp, cái thiện

Ví dụ: Năng lực đọc - hiểu văn bản là sự vận dụng phù

hợp kiến thức về bối cảnh xã hội, đặc điểm các thể loại văn

bản; các kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng, phân tích, cắt

nghĩa, đánh giá và các cảm xúc thẩm mĩ, niềm đam mê sáng

tạo, quan điểm đánh giá riêng… để tiếp cận và kiến tạo

nghĩa và ý nghĩa, giá trị của văn bản cho chính mình

3 Thực trạng kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo

định hướng hình thành năng lực học sinh ở các trường

THPT

3.1 Những kết quả bước đầu

- Hoạt động đổi mới KTĐG môn NV ở các trường

THPT đã có những chuyển biến đáng ghi nhận Hầu hết

GV đã nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của đổi

mới KTĐG, sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ PPDH và

KTĐG kết quả dạy học theo định hướng phát triển năng

lực học sinh

- Sự đổi mới về đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn kể

từ năm 2014, đổi mới về hình thức thi tuyển sinh đại học

môn NV của Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 2015, Cuộc

thi ra đề NV đổi mới theo hướng mở của Tạp chí Văn học

& Tuổi trẻ, đề thi học sinh giỏi (HSG) cấp quốc gia, đề thi

tuyển sinh vào trường THPT chuyên của các tỉnh thành trên

cả nước…cũng đã mở ra hướng mới, tác động tích cực đến

hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các nhà trường

- Hoạt động đổi mới KTĐG môn NV ở các trường

THPT tỉnh Quảng Nam cũng đã chuyển biến rõ nét Việc

xây dựng ma trận đề kiểm tra đã được thực hiện nghiêm

túc Kết quả tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên Ngữ văn về

đổi mới KTĐG theo định hướng phát triển năng lực học

sinh được tổ chức từ năm 2014 đã làm thay đổi cơ bản quan

niệm và tổ chức thực hiện kiểm tra đánh giá theo định

hướng phát triển năng lực học sinh ở các nhà trường

3.2 Những hạn chế cơ bản

- Chưa xác định rõ mục đích KTĐG là hạn chế lớn

nhất của hoạt động KTĐG trong các nhà trường hiện nay:

ĐG để làm gì, tại sao phải ĐG; ĐG nhằm thúc đẩy khả

năng gì ở học sinh…

KTĐG là để thông báo cho từng HS biết được trình độ

tiếp thu kiến thức và những kỹ năng của mình đạt được so

với yêu cầu của chương trình cũng như sự tiến bộ của họ trong học tập; để phát hiện những sai sót và nguyên nhân sai sót giúp HS điều chỉnh hoạt động học; giúp GV nắm được năng lực, trình độ HS cũng như chẩn đoán nguyên nhân sai sót, qua đó quyết định điểm bắt đầu hay tiếp theo trong quá trình giảng dạy KTĐG nhằm mục đích định hướng và thúc đẩy quá trình học tập [5, tr7]

- Thiếu sự phản hồi cho HS cũng là hạn chế trong ĐG

(chấm điểm) HS hiện nay Khi chấm bài KT, GV cho điểm kèm lời phê khái quát (đối với bài luận đủ dài), còn với những bài KT tiếng Việt, bài KT kiến thức văn học thì hầu như không có lời phê; GV chưa giải thích đầy đủ để HS hiểu rõ vì sao bài làm chưa đạt, phải làm như thế nào cho đạt, cho đúng,…vì thế HS thiếu phương hướng, không có động lực để sửa chữa

- Sử dụng rất hạn chế các hình thức ĐG mới, hiện đại

Hiện nay, quá trình KTĐG của GV Ngữ văn còn mang tính truyền thống: viết bài luận, viết đoạn nghị luận, làm các bài tập kết hợp hình thức trắc nghiệm và tự luận Khi chưa đa dạng hóa các kiểu đánh giá sẽ làm cho hoạt động này trở nên nhàm chán, sẽ khó phát triển NL bậc cao (như NL giải quyết vấn đề, NL tư duy sáng tạo) Trong khi đó, yêu cầu của đổi mới KTĐG theo hướng PTNL còn phải áp dụng đa dạng các

hình thức đánh giá: đánh giá thông qua sản phẩm, qua hồ sơ người học, qua thuyết trình/trình bày, thông qua tương tác nhóm, thông qua các sản phẩm của nhóm…

- KTĐG mới chỉ tập trung vào việc GV đánh giá HS,

ít tạo điều kiện cho HS tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau Việc đánh giá còn mang nặng tính chủ quan do chưa xác định rõ mục tiêu KTĐG nên kết quả đánh giá của mỗi

GV, mỗi trường thường khác biệt nhau

- GV chỉ thường quan tâm đến điểm số của người học sau mỗi bài kiểm tra để lên bảng điểm, xếp loại đánh

giá chứ không phân tích ĐG chất lượng đề kiểm tra để rút kinh nghiệm… đồng thời phát hiện những thiếu hụt gì ở người học để điều chỉnh hoạt động dạy học

- Cán bộ quản lý và tổ trưởng chuyên môn chưa xây dựng kế hoạch KTĐG và tổ chức thực hiện kế hoạch

KTĐG môn Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng PTNL từ chương trình môn Ngữ văn hiện hành nhằm tạo tiềm lực đổi mới KTĐG cho đội ngũ giáo viên Ngữ văn khi thực hiện CT GDPT sau 2015

4 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh

ở trường THPT

Xuất phát từ thực trạng về công tác quản lí đổi mới KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học ở các trường THPT ở Quảng Nam, bài viết đề xuất một hệ thống biện pháp quản lí hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh, góp phần nâng cao chất lượng quản lý, tổ chức dạy và học ở các nhà trường, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới toàn diện GDPT

4.1 Tổ chức cho GV đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo định hướng hình thành, phát triển NL học sinh

4.1.1 Nhận thức ý nghĩa của đổi mới KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh ở các trường THPT

Trang 3

20 Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Lê Văn Ca CBQL và TTCN cần tổ chức cho đội ngũ GV Ngữ văn

hiểu rõ: Khi PPDH đã thay đổi thì các hình thức KTĐG

cũng phải đổi mới cho phù hợp ĐG kết quả học tập môn

Ngữ văn của HS theo định hướng hình thành NL có các ý

nghĩa sau đây:

a Hỗ trợ sự phát triển của HS: ĐG kết quả học tập

Ngữ văn của HS theo hướng tiếp cận NL là việc đánh giá

dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ

phức tạp thích hợp để tìm ra cách giải quyết một hoặc nhiều

vấn đề để đạt tới mục tiêu có được kiến thức có thể áp dụng

trong nhiều tình huống phức tạp khác nhau trong thực tế

cuộc sống Việc ĐG như vậy sẽ hỗ trợ tích cực cho sự phát

triển năng lực của HS

b Xác định được mức độ phát triển NL của HS ở

từng giai đoạn học tập: ĐG kết quả học tập Ngữ văn của

HS theo định hướng phát triển NL là ĐG dựa trên việc miêu

tả rõ một sản phẩm đầu ra cụ thể mà cả hai phía GV và HS

đều biết và có thể đánh giá được sự tiến bộ của học sinh

dựa vào mức độ mà các em thực hiện sản phẩm Vì thế, khi

ĐG kết quả học tập của HS theo định hướng PTNL với việc

sử dụng kết quả ĐG quá trình với ĐG cuối kỳ, cuối năm

học, có thể xác định được mức độ phát triển của HS ở từng

giai đoạn học tập, khi các em học xong môn NV ở từng lớp

học, cấp học

c Góp phần hướng dẫn, điều chỉnh cách dạy và cách

học môn Ngữ văn: ĐG kết quả học tập của HS có ảnh

hưởng rất lớn đến cách dạy và cách học Khi ĐG kết quả

học tập của HS chuyển sang hướng tiếp cận NL, hoạt động

dạy học (HĐDH) môn Ngữ văn cũng phải chuyển sang

hướng tiếp cận này ĐG kết quả học tập Ngữ văn của HS

theo định hướng PTNL là động lực thúc đẩy sự đổi mới

HĐDH Ngữ văn trong trường THPT

4.1.2 Xây dựng quy trình đánh giá kết quả học tập môn

Ngữ văn của HS theo định hướng phát triển NL

Quy trình ĐG kết quả học tập của HS theo định hướng

hình thành NL bao gồm các bước:

a Xác định mục tiêu đánh giá

Khi tiếp cận đánh giá kết quả học tập môn học Ngữ văn

theo hướng PTNL trước hết cần căn cứ vào mục tiêu môn

học Các NL cơ bản cần đánh giá trước hết chính là các NL

chuyên môn (năng lực học tập Ngữ văn) Từ các NL

chuyên môn mang tính tổng quát (NL đọc – hiểu văn bản

và NL tạo lập văn bản) có thể xác định và đánh giá các NL

chung Đối với môn Ngữ văn THPT thì một trong những

nội dung rất quan trọng mà việc ĐG cần hướng tới là năng

lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học nghệ thuật

một cách chủ động, tích cực của mỗi HS cũng như năng

lực tư duy và giao tiếp bằng tiếng Việt

b Lựa chọn các phương pháp, hình thức đánh giá

- Đặc trưng của ĐG theo tiếp cận NL là sử dụng nhiều

phương pháp, hình thức khác nhau như quan sát, phỏng vấn

sâu và hội thảo, hồ sơ học tập, ĐG thực hành Theo quan

điểm dạy học tích cực thì việc đánh giá phải diễn ra đa

chiều: kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò, có

thể tham chiếu thêm sự đánh giá lẫn nhau giữa trò và trò

Việc đánh giá nên được diễn ra thường xuyên, liên tục

trong suốt quá trình học chứ không chỉ mang tính chất định

kì như kiểm tra học kì hoặc giữa kì Căn cứ vào quá trình

tổ chức dạy học, có các hình thức đánh giá: đánh giá quá trình (thường xuyên), đánh giá tổng kết; căn cứ vào quy mô

tổ chức hoạt động đánh giá có các hình thức: đánh giá trên lớp học và đánh giá ngoài lớp học

- Một số hình thức biên soạn câu hỏi kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn: Kiểm tra miệng (vấn đáp), Kiểm

tra viết Trong hình thức kiểm tra viết có 2 dạng thiết kế câu hỏi: Câu hỏi trắc nghiệm tự luận (TNTL) và Câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ)

- Về lựa chọn phương pháp và hình thức đánh giá, chúng tôi đề xuất việc vận dụng rubrics để xây dựng các

tiêu chí đánh giá môn học Ngữ văn Rubrics là một công

cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của người học được thể hiện bằng bảng mô tả các tiêu chí đánh giá theo các cấp

độ khác nhau trên cơ sở các yêu cầu, mục tiêu cần đạt của

môn học Rubrics giúp người dạy có thể hình dung được

các yêu cầu về chất lượng cụ thể ở từng bài học, từng chuyên đề, từng môn học, để từ đó người dạy có thể thiết

kế bài giảng, tổ chức giảng dạy và hướng dẫn người học một cách hiệu quả Ngoài ra, Rubrics còn làm cho việc đánh giá trở nên khoa học, minh bạch và thuyết phục hơn

Đối với người học, Rubrics được thiết kế để giúp cho

người học hiểu rõ hơn các mong đợi của người dạy, của yêu cầu môn học đối với bản thân Từ đó, người học có động cơ học tập tốt hơn, chủ động hơn, tích cực hơn, có trách nhiệm hơn, có thể tự giám sát, tự đánh giá việc học tập của mình và có biện pháp tự cải tiến để đạt được kết

quả học tập như mong muốn Đối với nhà quản lí, Rubrics

sẽ là cơ sở để các cán bộ quản lí KTĐG chất lượng đào tạo, nắm được những thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học trong nhà trường để có thể chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến để thực hiện tốt mục tiêu dạy học cũng như mục tiêu giáo dục đào tạo của nhà trường [4, tr 147]

Một trong những nguyên tắc của KTĐG là phải công khai Công khai cả mục tiêu và yêu cầu KTĐG

Người dạy cần phải phổ biến các tiêu chí đánh giá cho người học biết ngay từ đầu để người học có thể chủ động trong quá trình học tập: đặt ra mục tiêu phấn đấu của cá nhân, lựa chọn phương pháp học tập phù hợp bộ môn, tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân so với yêu cầu của các tiêu chí đánh giá trong suốt quá trình học tập, để từ đó

có kế hoạch tự cải tiến chất lượng học tập kịp thời và hiệu

quả Ví dụ Tiêu chí kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo

lí Các tiêu chí này có hai chức năng: hướng dẫn HS cách

tạo lập văn bản theo thể loại và đánh giá NL tạo lập văn bản của HS Tiêu chí có thể được sử dụng để giáo viên (GV) ĐG, HS tự ĐG và ĐG lẫn nhau trong suốt quá trình học GV gởi cho HS trước khi làm bài; HS căn cứ vào những tiêu chí để nỗ lực làm bài, thực hiện các yêu cầu; tự đánh giá bài làm theo tiêu chí; lập hồ sơ học tập để theo dõi kết quả học tập [4, tr 138]

c Triển khai đánh giá

Khi triển khai ĐG, việc đầu tiên cần phải làm là xây dựng hệ thống bài tập theo định hướng phát triển NL Hệ thống bài tập này là công cụ cho HS luyện tập để hình thành

NL, đồng thời cũng là công cụ để GV và CBQL nhà trường

ĐG sự phát triển NL của HS, ĐG mức độ đạt chuẩn của QTDH Hoạt động đánh giá chủ yếu của môn Ngữ văn hiện

Trang 4

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 2(111).2017-Quyển 1 21 nay là đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS Để đổi mới

đánh giá kỹ năng đọc hiểu của HS, bài tập cần đưa ra những

VB mới (bao gồm cả văn bản văn học và văn bản nhật

dụng), có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với VB đã học

trong CT, SGK), yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kĩ

năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ VB mới này Các

câu hỏi đánh giá kĩ năng đọc hiểu và cảm thụ nên được

thiết kế theo cách làm của PISA, bao gồm: câu hỏi mở

yêu cầu trả lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi

đóng yêu cầu trả lời dựa trên những trả lời có sẵn; câu hỏi

trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; câu hỏi có –

không, đúng –sai phức hợp

Để đổi mới đánh giá kĩ năng viết của HS, cần ra đề

theo hướng mở.Đề mở chấp nhận nhiều cách trả lời, thậm

chí có những câu trả lời đối ngược nhau miễn là HS bộc lộ

được nhận thức và lập luận lôgic trong quá trình đi đến câu

trả lời Trong quá trình làm bài, HS cần vận dụng các kiến

thức, kĩ năng của các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn

học để giải quyết vấn đề Đáp án không áp đặt nội dung trả

lời mà nên nêu được các phương án mà HS có thể trình bày,

phân tích được sự hợp lí của các phương án đó; đồng thời,

nêu được những yêu cầu về kĩ năng làm bài của HS, khuyến

khích HS sử dụng nhiều kĩ năng, thao tác khác nhau trong

giải quyết vấn đề; khuyến khích HS nêu những suy nghĩ,

quan điểm riêng của mình, chấp nhận nhiều cách hiểu và

giải quyết vấn đề khác nhau; khuyến khích HS vận dụng

được những điều đã học vào giải quyết những vấn đề mà

thực tiễn đặt ra một cách có sức thuyết phục, hợp lí, tự

nhiên, phù hợp với trình độ của các em Khi xây dựng bài

tập, cần đảm bảo sự phân hóa theo các bậc trình độ nhận

thức (tái hiện; hiểu và vận dụng; xử lý, giải quyết vấn đề)

để có thể đánh giá được mức độ phát triển NL của từng HS,

từng giai đoạn học tập

d Xử lý kết quả đánh giá: Mục đích của việc xử lý kết

quả ĐG là xác định được mức độ phát triển NL của HS

sau mỗi giai đoạn học tập; chỉ ra mối liên hệ giữa phát

triển NL với độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập mà HS đã

hoàn thành Kết quả ĐG cần được xử lý về mặt định tính

(nhận xét, phân loại) và về mặt định lượng (biểu đồ,

đường biểu diễn về tỷ lệ đạt được/từng yêu cầu đánh giá)

để cung cấp một bức tranh toàn cảnh về sự phát triển NL

của HS trong QTDH

e Phản hồi thông tin đến HS và các đối tượng liên

quan:Trong QTDH môn Ngữ văn ở trường THPT, ĐG có

chức năng cung cấp những thông tin “ngược” đến HS và

các đối tượng liên quan (GV, CBQL, phụ huynh…) Nhờ

những thông tin “ngược” này mà HS tự điều chỉnh hoạt

động học; GV tự điều chỉnh hoạt động dạy; CBQL tự điều

chỉnh hoạt động quản lý; phụ huynh tự điều chỉnh sự quan

tâm, giúp đỡ con cái trong học tập, rèn luyện… Để ĐG có

thể phản hồi thông tin đến HS và các đối tượng liên quan,

bản thân nó phải được công khai hóa và phải dựa trên

những tiêu chí cụ thể, tường minh, có thể đo đếm được như

đã trình bày ở trên

4.2 Bồi dưỡng giáo viên, giáo viên tự bồi dưỡng năng

lực đổi mới KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL

học sinh

Nhận thức về KTĐG và quản lý hoạt động KTĐG theo

định hướng hình thành NLHS của TTCM và GVNV

trường THPT chưa đầy đủ mà nguyên nhân chủ yếu là do cách thức tập huấn, tổ chức bồi dưỡng chưa đồng bộ, chưa đạt về chất lượng tập huấn Bởi thế, nhu cầu được bồi dưỡng của TTCM và GVNV trường THPT hiện nay rất lớn, nhất là những lĩnh vực về đổi mới chương trình, SGK; PPDH, phương pháp KTĐG theo định hướng PTNL học sinh

4.2.1 Bồi dưỡng nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn ở trường THPT

Hiệu quả hoạt động KTĐG môn Ngữ văn trường THPT phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là năng lực quản lý của TTCM và năng lực thực hiện hoạt động KTĐG của GV trong vai trò người tổ chức, điều khiển quá trình dạy học Khi được bồi dưỡng nâng cao năng lực, TTCM và GVNV trường THPT sẽ tổ chức, chỉ đạo và thực hiện hoạt động KTĐG Ngữ văn một cách bài bản, đảm bảo cho hoạt động này đáp ứng yêu cầu PTNL học sinh

4.2.2 Bồi dưỡng nhằm tạo tiềm lực để TTCM và GVNV trường THPT có thể thích ứng với quản lý và thực hiện CT

và SGK Ngữ văn mới

Chương trình và SGK Ngữ văn mới được xây dựng theo tiếp cận phát triển NLHS Việc tổ chức KTĐG và quản lý hoạt động KTĐG theo định hướng PTNL học sinh trên chương trình và SGK hiện hành là bước chuẩn bị cho đội ngũ TTCM và GVNV tổ chức dạy học theo Chương trình

và SGK mới Để có thể thích ứng với CT và SGK Ngữ văn mới, đòi hỏi TTCM và GVNV phải có NL KTĐG và quản

lý hoạt động KTĐG theo định hướng PTNL học sinh Việc bồi dưỡng nâng cao NL quản lý cho TTCM và GVNV là tạo tiềm lực để họ có thể thích ứng với quản lý CT và SGK Ngữ văn mới

4.2.3 Xác định rõ mục tiêu bồi dưỡng nâng cao NL quản

lý hoạt động KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh cho TTCM và GVNV trường THPT

- Việc bồi dưỡng nâng cao NL quản lý hoạt động KTĐG theo định hướng PTNL học sinh cho TTCM và GVNV phải hướng đến nhiều mục tiêu khác nhau Trước mắt, việc bồi dưỡng tập trung vào kỹ năng xây dựng kế hoạch dạy học, trong đó thể hiện rõ việc điều chỉnh nội dung, tổ chức dạy học chương trình hiện hành theo địnhhướng PTNL học sinh; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PP dạy và học; hình thức Tiếp đó là bồi dưỡng PP kiểm tra và

ĐG kết quả học tập của HS đồng thời giúp họ sớm tiếp cận được với việc tổ chức, thực hiện chương trình và SGK Ngữ văn mới

- Xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý hoạt động KTĐG Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh cho TTCM và GVNV trường THPT

- Nội dung bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý HĐDH theo định hướng PTNL học sinh cho TTCM và GVNV trường THPT phải thiết thực, toàn diện nhằm đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng cho từng đối tượng

4.3 Ứng dụng CNTT trong KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh

Để ứng dụng CNTT vào hoạt động đổi mới KTĐG, lãnh đạo nhà trường cần quan tâm về cơ sở vật chất và hạ tầng

Trang 5

22 Nguyễn Bảo Hoàng Thanh, Lê Văn Ca CNTT như trang bị phòng máy vi tính, máy chiếu

(Projector) hoặc màn hình TV cỡ lớn…, thiết lập wesite,

cấp tài khoản biên tập nội dung cho GV; học sinh và giáo

viên tạo lâp hộp thư điện tử, tìm kiếm các phần mềm hỗ trợ

hình thức KTĐG…

Việc ứng dụng CNTT phục vụ cho việc đổi mới công

tác quản lý KTĐG là một trong những hướng đi tích cực

nhất, hiệu quả nhất, hướng vào mục tiêu phát triển năng lực

học tập của học sinh Với đặc thù môn Ngữ văn (Đọc hiểu

văn bản, Tiếng Việt, Làm văn), nếu khai thác, ứng dụng

CNTT và TT hợp lý cũng sẽ đem lại những hiệu quả tích

cực, và cũng là hoạt động thực hiện chỉ đạo của Bộ

GD&ĐT về việc đa dạng hóa hình thức học tập, hình thức

KTĐG: không chỉ diễn ra trong lớp học, trong nhà trường

mà còn ở ngoài lớp học, ngoài nhà trường

Bằng các phần mềm chuyên dụng, GV có thể quản lý

đề kiểm tra và cho HS tương tác ngay trong giờ học trên

lớp hay các hoạt động ngoại khóa hoặc tích hợp vào bài

giảng trình chiếu, bài giảng e-Learning

Dựa trên đặc điểm các dạng bài KTĐG môn Ngữ văn, bài

viết đề cập đến một công cụ phù hợp với hoạt động dạy học,

hoạt động tương tác tự học, tự kiểm tra đánh giá trực tuyến

của học sinh trên internet (website nhà trường) mà GV có thể

kiểm soát được (biết được thông tin học sinh, kết quả chi tiết

bài làm qua email GV, Tổ trưởng và cả CBQL nhà trường)

Học sinh có thể tự kiểm tra, đánh giá mọi lúc mọi nơi bằng

điện thoại thông minh của mình Đó là iSpring Quiz Marker

(http://www.ispringsolutions.com/ispring-suite) Đây là

phần mềm tạo ra nhiều loại hình thức trắc nghiẹm kiểm tra

tương tác như bài tập nhiều lựa chọn, bài tập hỏi trả lời

ngắn, bài tập sắp xếp trình tự (thứ tự, quy trình, bố cục…),

điến vào chỗ trống… GV Ngữ văn có thể sử dụng bài tập

cho nhiều mục đích khác nhau: chuẩn bị bài mới, ôn tập bài

cũ, học sinh tự học không phụ thuộc thời gian, tổ chức kiểm

tra trên máy tính tại trường hoặc công bố thời điểm mở đề

để HS ở nhà làm bài hoặc kết hợp với học sinh khác cùng

làm bài khi được GV đồng ý khi sắp xếp theo khả năng tiếp

nhận của các nhóm HS

Thực sự, với những sản phẩm KTĐG trực tuyến môn

Ngữ văn, đã tạo hứng thú học tập, làm giảm áp lực học tập

trên lớp, cải thiện chất lượng học tập môn Ngữ văn một

cách rõ rệt (Tham khảo tại địa chỉ

http://thpt-lequydon.edu.vn, Tổ Ngữ văn/Tự học, tự kiểm tra đánh giá

Ngữ văn)

Hơn nữa, từ các sản phẩm này, HS có thể ôn tập thường

xuyên, bất cứ lúc nào; có thể làm bài nhiều rất nhiều lần đẻ

nắm thật vững bài học, điều này khắc phục tình trạng HS

chờ đợi hướng dẫn ôn tập kiểm tra học kỳ từ GV, khắc phục

hiện tượng quá tải trong quá trình học tập

4.4 KTĐG hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá của giáo

viên Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh

Đổi mới KTĐG kết quả học tập môn Ngữ văn theo định

hướng PTNL học sinh là công việc khó, cần kiên trì thực

hiện mới đạt hiệu quả Vì thế lãnh đạo nhà trường cần tham

gia sinh hoạt thường xuyên với tổ chuyên môn, chia sẻ

những khó khăn, cùng bàn luận tìm ra biện pháp thực hiện

Hơn nữa, cần xây dựng bộ công cụ với các tiêu chí đánh

giá mức độ thực hiện hoạt động KTĐG năng lực HS theo

hướng PTNL của GV Ngữ văn một cách phù hợp nhằm tạo nên sự thống nhất hành động, đưa KTĐG của nhà trường

đi vào quỹ đạo đổi mới

Tổ chức KTĐG hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn của GV nhằm:

4.4.1 Giúp cho CBQL, TTCM đánh giá khách quan chất lượng hoạt động KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh

Hiện nay trường THPT tổ chức cho GV tự đánh giá và đánh giá GV hằng năm theo Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT (Thông tư Số: 30/2009/TT-BGDĐT); sử dụng phiếu đánh giá tiết dạy mới; sử dụng tiêu chí phân tích bài học đổi mới PPDH và KTĐG sau khi dự các tiết dạy theo hướng nghiên cứu bài học (Công văn Số: 5555/BGDĐT-GDTrH do Bộ GD&ĐT ban hành) nhưng vẫn chưa thể đánh giá được mức độ thực hiện hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn ở tổ chuyên môn và cá nhân giáo viên Vì vậy, CBQL, TTCM và cần bộ công cụ để đánh giá khách quan chất lượng hoạt động KTĐG Ngữ văn ở trường THPT

4.4.2 Tạo động lực cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn ở trường THPT

Trong QTDH, đánh giá vừa điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học, hoạt động QLGD vừa tạo động lực cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng của các hoạt động này Khi chất lượng hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh đánh giá bằng

bộ công cụ thì hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn

ở trường THPT cũng sẽ được đổi mới theo định hướng PTNL học sinh

4.4.3 Khắc phục được những hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động đổi mới KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL học sinh

Chất lượng hoạt động đổi mới KTĐG theo định hướng PTNL học sinh được tạo nên từ nhiều yếu tố Dựa trên bộ công cụ đánh giá chất lượng chất lượng hoạt động đổi mới KTĐG, có thể chỉ ra hạn chế của từng yếu tố, làm cơ sở cho sự khắc phục của TTCM và GVNV trường THPT Bên cạnh việc đổi mới thi đua; đổi mới cách đánh giá giờ dạy của giáo viên theo hướng tập trung tổ chức hoạt động học của học sinh; đổi mới việc sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, việc đổi mới KTĐG mức độ thực hiện hoạt động KTĐG kết quả học tập của HS của giáo viên Ngữ văn theo hướng PTNL cũng là hoạt động bình thường, là một trong những hoạt động có ý nghĩa nhất trong quá trình dạy học

5 Kết luận

KTĐG năng lực học sinh là một khâu hết sức quan trọng trong quá trình dạy học, việc đánh giá nhằm thu thập thông tin về học sinh, giúp GV và HS nhận ra những chỗ thiếu, những yếu điểm nào để điều chỉnh hoạt động dạy và học Bên cạnh đó, HS sẽ hình thành nên NL thực hiện của

cá nhân, đáp ứng nhu cầu về nhân lực của xã hội Từ đó người học sẽ giải quyết những vấn đề đặt ra trong học tập cũng như những vấn đề phức tạp đặt ra trong cuộc sống, bằng năng lực của chính mình: biết vận dụng kiến thức, kỹ năng nào để giải quyết vấn đề

Trang 6

ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 2(111).2017-Quyển 1 23 Thực hiện những biện pháp được đề xuất sẽ góp phần

khắc phục những hạn chế trong quản lý hoạt động KTĐG

ở trường phổ thông Nếu được thực hiện đồng bộ sẽ nâng

cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

phổ thông hiện nay Các biện pháp có mối quan hệ chặt chẽ

với nhau, có tính cần thiết và khả thi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ GD&ĐT (2014), Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá

kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn

Ngữ văn cấp trung học phổ thông, Hà Nội (trang 6)

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị Trung ương

8 khóa 11 Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Hà Nội (trang 5)

[3] Nguyễn Thị Hồng Nam và Mai Bích Huyền (2014), Tiêu chí đánh giá bài luận - một trong những công cụ phát triển năng lực tạo lập

văn bản cho học sinh, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, số 62

(trang 138) [4] Lê Thị Ngọc Nhẫn, (2014), Vận dụng rubrics để xây dựng các tiêu

chí đánh giá môn học, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, số 62,

(trang 147) [5] Nguyễn Bảo Hoàng Thanh (2011), Kiểm tra đánh giá trong giáo dục, NXB Đà Nẵng (trang 7)

(BBT nhận bài: 03/01/2017, hoàn tất thủ tục phản biện: 10/01/2017)

Ngày đăng: 16/11/2022, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN