Xong đối với những người cận nghèo, đặc biệt là nhữngngười sống ở vùng nông thôn thì hầu như chưa được thụ hưởng đầy đủ cácchính sách hỗ trợ tài chính đã được ban hành để đảm bảo cho họ
Trang 1BỘ Y TẾ ROCKEFELLER FOUNDATION
♣ ♦ ♣
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ
TRIỂN KHAI THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ
CHO NGƯỜI CẬN NGHÈO
HÀ NỘI, THÁNG 01 - 2011
Trang 2BỘ Y TẾ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VỤ KẾ HOẠCH – TÀI CHÍNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 13 tháng 01 năm 2010
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ
CHO NGƯỜI CẬN NGHÈO
và đến nay còn khoảng 13% (mục tiêu đặt ra đến năm 2010 còn 10 – 11% hộnghèo) Chính vì vậy Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là mộttrong những nước đạt thành tựu giảm tỷ lệ nghèo đói tốt nhất
Mặc dù có được tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng vẫn còn thiếu yếu tốbền vững, bởi vì trong số những người nghèo còn lại hiện nay thì phần lớn lànhững hộ gặp rất nhiều khó khăn để giảm nghèo và đồng thời những hộ thuộcdiện cận nghèo cũng rất dễ bị tái nghèo khi gặp phải những rủi ro, nhất là khigặp phải những vấn đề về sức khỏe và y tế Nghèo đói phân bổ không đềugiữa các vùng ở Việt Nam Tỷ lệ hộ nghèo đói ở khu vực các xã miền núi,vùng sâu, vùng xa vẫn còn cao Tình trạng cơ sở hạ tầng của vùng nghèochậm được cải thiện Đa số người nghèo ít có điều kiện tiếp cận với các dịch
vụ xã hội cơ bản Trước tình hình đó nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ xoá đóigiảm nghèo và hỗ trợ người nghèo đã được đưa vào thực hiện, xong chưa đầy
đủ và đồng bộ, chưa rõ ràng minh bạch ở một số địa phương, chưa thích ứngvới điều kiện cụ thể của từng vùng, từng nhóm người nghèo, vì vậy hiệu quảthực hiện chưa cao, chưa tác động mạnh tới cộng đồng người nghèo
Mục tiêu cơ bản của công cuộc xóa đói giảm nghèo là thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã
Trang 3hội nhằm nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của mọi tầng lớp dâncư; ưu tiên phát triển y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, kiềm chế lây nhiễmHIV/AIDS; hình thành, mở rộng mạng lưới bảo trợ và an sinh xã hội chongười nghèo, người cận nghèo, người bị rủi ro do thiên tai, giảm thiểu mức độ
dễ tổn thương cho người dân, tăng cường vai trò của các hội và đoàn thể thamgia vào mạng lưới an sinh xã hội; thực hiện cải cách hành chính
Về y tế, cần phải tăng cường củng cố và hoàn thiện hệ thống y tế cơ
sở, duy trì và phát triển các dịch vụ y tế cộng đồng, ưu tiên cho việc phòng chống các bệnh ảnh hưởng tới người nghèo (sức khoẻ sinh sản, các bệnh truyền nhiễm, HIV/AIDS, các bệnh của trẻ em và các bệnh xã hội khác); nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; đảm bảo người nghèo có thể tiếp cận được dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng; hỗ trợ người nghèo, cận nghèo trong việc chi trả các dịch vụ y tế.
Mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về phát triển kinh tế
xã hội, hỗ trợ công tác xoá đói giảm nghèo, xong trên thực tế các chính sáchnày chưa được triển khai một cách triệt để, đồng bộ, chưa xây dựng được một
mô hình triển khai có hiệu quả, chẳng hạn:
- Việc miễn phí cho người dân khi họ đến khám chữa bệnh tại các cở sở y tếcông như trước đây đã làm mất đi khoản thu nhập từ nguồn thu viện phí để
bù đắp các chi phí của các cơ sở y tế khi phục vụ người bệnh Ở các tỉnhTây Nguyên, miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long, ngoài việcbệnh viện thực hiện miễn phí cho bệnh nhân, còn phải lo ăn và chỗ ở chobệnh nhân và cả người nhà bệnh nhân, đưa đón bệnh nhân từ những nơi xaxôi hẻo lánh xong không có thêm nguồn kinh phí bù đắp các chi phí đó Sốbệnh nhân càng nhiều, các cơ sở y tế càng khó có khả năng duy trì hoạtđộng do nguồn kinh phí hạn hẹp từ phía Chính phủ Cán bộ y tế ở cácvùng này không có khoản thu nhập thêm do đó cũng không khuyến khíchngười thầy thuốc tận tâm, tận tụy với công việc
- Người dân chưa hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của mình khi đến khám vàchữa bệnh tại các cơ sở y tế công, do đó nhiều người bị bệnh nhưng khôngdám đến điều trị tại bệnh viện mà chỉ tự điều trị cho đến khi bệnh quá nặngcán bộ y tế mới biết và đưa họ vào điều trị tại bệnh viện
- Về chính sách bảo hiểm y tế: Cùng với chính sách thu một phần viện phí,bảo hiểm y tế đã được triển khai theo Luật Bảo hiểm y tế trong phạm vi cả
Trang 4nước nhằm nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, hạnchế tình trạng thiếu công bằng, tăng nguồn lực về tài chính cho y tế ngoàinguồn ngân sách nhà nước Hiện nay, BHYT không những chỉ tập trungvào các đối tượng hưởng lương Nhà nước mà đã dần dần mở rộng đến cácdoanh nghiệp vốn nước ngoài, bảo hiểm y tế học sinh và đã dùng ngânsách Nhà nước để hỗ trợ các vùng nghèo, người nghèo trong khám chữabệnh dưới các hình thức như miễn giảm viện phí, cấp phát thẻ BHYT chongười nghèo Xong đối với những người cận nghèo, đặc biệt là nhữngngười sống ở vùng nông thôn thì hầu như chưa được thụ hưởng đầy đủ cácchính sách hỗ trợ tài chính đã được ban hành để đảm bảo cho họ đượccông bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế.
- Để giải quyết được những bất cập trong việc cung cấp các dịch vụ y tế chongười nghèo, người có công và các đối tượng chính sách khác Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định 139/2002/QĐ-TTg về chế độ khámchữa bệnh cho người nghèo và hỗ trợ một phần cho các đối tượng ngoàiquy định của Quyết định 139 trong các trường hợp không đủ khả năng chitrả dịch vụ y tế khi mắc bệnh hiểm nghèo được điều trị tại bệnh viện công.Việc xác định đối tượng thụ hưởng theo Quyết định 139 và đối tượng cậnnghèo được căn cứ theo tiêu chuẩn của Bộ Lao động – Thương binh và Xãhội Tuy nhiên, những đối tượng thuộc diện cận nghèo thì việc xác địnhcủa các địa phương vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ, do đótrong từng trường hợp cụ thể, giám đốc bệnh viện được quyền thực hiệnmiễn giảm viện phí cho bệnh nhân Đây cũng là điều kiện bất cập đối vớicác cơ sở y tế
Bảng: Kết quả thực hiện bảo hiểm y tế năm 2008Nội dung Tổng số Bắt buộc Người nghèo Tự nguyện
Số người tham gia (triệu người) 37,70 11,20 15,80 10,70
Trang 5tế cho đối tượng cận nghèo, với mức đóng hàng tháng được quy định tối
đa bằng 4,5% mức lương tối thiểu và do đối tượng tự đóng
- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Thông tư số BLĐTBXH ngày 21/10/2008 hướng dẫn quy trình xác định hộ gia đìnhcận nghèo theo quy định tại Quyết định 117/2008/QĐ-TTg: Hộ gia đìnhcận nghèo được quy định là hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầungười tối đa bằng 130% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ giađình nghèo quy định tại Quyết định 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/6/2005của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng giai đoạn
- Ở hầu hết các địa phương trong cả nước là chưa có cơ chế rõ ràng cho việcthanh toán, hỗ trợ cho đối tượng cận nghèo Việc khó khăn triển khai thựchiện chương trình hỗ trợ này được cho là bị vướng mắc ở cả khâu xác địnhđối tượng cũng như là việc huy động các nguồn lực tài chính
- Phần lớn các cán bộ y tế ở trạm y tế xã ngoài việc khám chữa bệnh tại trạmcòn tổ chức khám chữa bệnh tại nhà dân, xong chưa có quy định của cơquan BHYT cho thanh toán BHYT đối với các trường hợp khám ngoạitrạm bởi lý do không có bằng chứng để chứng minh Hơn nữa, danh mụcthuốc khám BHYT đôi khi chưa phù hợp với thực trạng bệnh tật của ngườidân nên ngoài việc thanh toán BHYT theo khung giá trần (đối với các dịch
vụ được cơ quan bảo hiểm quy định) người bệnh còn phải trả các khoảnchi phí khác cho khám chữa bệnh của họ Đó cũng là một trong những lý
do người bệnh đến khám, chữa bệnh theo thẻ bảo hiểm y tế tại tuyến xãcòn hạn chế
Với thực trạng và yêu cầu nêu trên, báo cáo này sẽ nghiên cứu đánh giá
thực hiện phương thức bảo hiểm y tế cho người cận nghèo để tổng quan
những mặt mạnh và hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp trong thời gian tới đểcho những người thuộc diện này sẽ có cơ hội được tiếp cận với các chính sách
về xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, vừa góp phần thúc đẩy nhanhquá trình tăng trưởng kinh tế, vừa góp phần làm tốt hơn nữa công tác xóa đóigiảm nghèo vào năm 2020
II Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu chung
Trang 6Tổng quan các kết quả triển khai thực hiện BHYT cho người cậnnghèo, xác định những yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp phát triểnBHYT cho người cận nghèo trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả trongchăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo.
III Phương pháp nghiên cứu:
Tổng hợp các phương pháp thu thập số liệu của nghiên cứu này như sau:
- Nghiên cứu từ các tài liệu có sẵn: số liệu thứ cấp;
- Thảo luận nhóm;
- Phỏng vấn sâu, tham vấn chuyên gia;
- Điều tra hộ gia đình
3.1 Tổng quan các văn bản, chính sách về hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo: Thu thập và tổng hợp văn bản quy định các cơ chế, chính sách của
Nhà nước liên quan đến việc hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo
3.2 Thu thập và phân tích số liệu tự báo cáo của các địa phương: Bộ Y tế
đã xây dựng một mẫu phiếu và gửi đi để thu thập số liệu ở các địa phương đểthu thập và tổng hợp số liệu và báo cáo liên quan đến triển khai Bảo hiểm chođối tượng cận nghèo Mẫu phiếu bao gồm các nhóm thông tin chính sau đây:
Thông tin chung: Dân số, điều kiện kinh tế - xã hội
Thông tin về các chủ trương, chính sách của địa phương liên quan đến
hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo (nếu có, kèm bản sao)
Thông tin liên quan đến xác định đối tượng người cận nghèo: Hướngdẫn xác định như thế nào, tổ chức thực hiện ra sao, số huyện/xã đã xácđịnh được đối tượng người cận nghèo, số lượng đối tượng đã được xácđịnh
Nguồn kinh phí để thực hiện hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo (2009):
Số lượng kinh phí đã bố trí theo các nguồn
Trang 7 Cơ chế và định mức hỗ trợ: Tổ chức bán thẻ BHYT như thế nào? Địnhmức hỗ trợ, số kinh phí đã chi hỗ trợ BHYT cận nghèo, phương thức hỗtrợ cụ thể như thế nào?
KCB BHYT cho người cận nghèo:
o Các quy định về dịch vụ BHYT cận nghèo được hưởng tại địaphương
o Số liệu sơ bộ về KCB BHYT cận nghèo ở một số bệnh viện (sốlượt KCB, chi phí nếu có )
Những khó khăn, vướng mắc của địa phương trong việc triển khai hỗ trợBHYT cho người cận nghèo: Văn bản pháp quy, tổ chức thực hiện, xácđịnh đối tượng, bố trí kinh phí, tổ chức bán thẻ, tổ chức cung cấp dịchvụ
Những đề xuất của địa phương để mở rộng BHYT cho người cận nghèo,góp phần tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân vào 2014
Mẫu phiếu này đã được xây dựng và gửi đến tất cả 63 tỉnh/ thành phố
Sở Y tế làm đầu mối có thể thu thập thông tin từ các nguồn: Sở Sở Lao động– Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội tỉnh, bệnh viện Đến nay, đã thunhận được 29 báo cáo Còn lại các địa phương chưa có báo cáo gửi về lànhững nơi chưa triển khai nội dung này trên địa bàn
3.3 Nghiên cứu thực địa: Do điều kiện kinh phí và thời gian có hạn, phần
khảo sát thực địa sẽ được tiến hành tại 3 tỉnh ở 3 miền Bắc - Trung - Nam 3tỉnh này được chọn dựa vào các tiêu chí sau:
Đã triển khai xác định đối tượng người cận nghèo (để có thể tiếnhành điều tra hộ gia đình người cận nghèo về tiếp cận và sử dụngdịch vụ y tế)
Điều kiện kinh tế - xã hội tương đối khó khăn
Nhất trí hợp tác triển khai nghiên cứu
Tại 3 tỉnh được chọn, sẽ tiến hành các nội dung khảo sát sau đây:
- Đại diện Sở Tài chính
- Đại diện cơ quan BHXH/BHYT tỉnh
Trang 8 Tuyến huyện: Tại mỗi huyện tổ chức 1 cuộc họp thảo luận nhómvới các thành phân liên quan đến triển khai BHYT cho người cậnnghèo, bao gồm:
- Đại diện UBND huyện
- Phòng Y tế
- Đại diện một số UBND xã
- Đại diện một số TYT xã
- Một số trưởng thôn
3.3.2 Phỏng vấn sâu:
Đối tượng phỏng vấn sâu ở mỗi tỉnh gồm có:
- Đại diện UBND tỉnh
- Đại diện Sở LĐTBXH
- Đại diện cơ quan BHXH/ BHYT tỉnh
3.3.3 Điều tra hộ gia đình:
Mục đích của điều tra hộ gia đình là để tìm hiểu sự hiểu biết, thái độcủa người cận nghèo về chủ trương hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo, sựsẵn sàng tham gia, mức độ bao phủ BHYT cận nghèo, tình hình sử dụng dịch
vụ CSSK
Đối tượng điều tra là những hộ cận nghèo đã được chính quyền địaphương xác nhận
Nội dung điều tra:
- Thông tin chung về hộ gia đình, thông tin về điều kiện KT-XH của hộgia đình
- Hiểu biết của HGĐ về BHYT nói chung và BHYT cận nghèo
- Thẻ BHYT và BHYT cận nghèo: Số người có thẻ, loại thẻ, nơi mua/nơi cấp Nếu không có thẻ: Lý do không có thẻ, kiến nghị gì để cóthẻ?
- Tình hình ốm đau và sử dụng thẻ BHYT khi đi Khám, chữa bệnh
- Hỏi về quan niệm chung của người dân địa phương, đặc biệt là ngườicận nghèo: Tại sao không tham gia BHYT, cần hỗ trợ gì để tham giaBHYT
3.4 Phỏng vấn sâu và tham vấn ở tuyến TW:
Báo cáo nghiên cứu sẽ được gửi đến các chuyên gia có kinhnghiệm để xin ý kiến góp ý
Trang 9 Tổ chức một số hội thảo nhóm để xin ý kiến các cơ quan, tổ chứcliên quan và các Nhà tài trợ.
3.5 Hội thảo góp ý:
Sau khi thu thập, phân tích và viết báo cáo về tình hình triển khai thựchiện Bảo hiểm y tế cho người cận nghèo, một hội thảo được tổ chức để trìnhbày kết quả và xin góp ý của các bên liên quan
Trang 10IV Kết quả nghiên cứu:
4.1 Tổng quan các chính sách và văn bản hướng dẫn liên quan đến thực hiệnBHYT cho người cận nghèo:
Chính sách, quy định chung, quy định về đối tượng thụ hưởng, mức thụhưởng: Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2008 củaThủ tướng Chính phủ về điều chỉnh mức đóng Bảo hiểm y tế đối với cácđối tượng thuộc diện chính sách xã hội
Cách xác định đối tượng: Thông tư số 25/2008/TT-BLĐTBXH ngày 21tháng 10 năm 2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướngdẫn quy trình xác định hộ gia đình cận nghèo theo quy định tại khoản 4Điều 1 Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg ngày 27/8/2008 của Thủ tướngChính phủ
Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế đối với người thuộc hộ gia đình cậnnghèo: Thông tư số 10/2008/TTLT-BYT-BTC ngày 24 tháng 9 năm
2008 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế đốivới người thuộc hộ gia đình cận nghèo được ngân sách nhà nước hỗ trợmức đóng bảo hiểm y tế
4.2 Kết quả triển khai thực hiện Bảo hiểm y tế cho người cận nghèo:
Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, sau hơn một năm thựchiện Luật Bảo hiểm y tế (từ tháng 7/ 2009), cả nước mới chỉ có khoảng hơn 1triệu người cận nghèo tham gia Bảo hiểm y tế (chiếm chưa tới 10% đối tượngcận nghèo) Tại nhiều địa phương, tỷ lệ người cận nghèo tham gia Bảo hiểm y
tế chỉ đạt 1,2 - 1,5% Ngay tại Hà Nội, với gần 400.000 đối tượng thuộc hộcận nghèo nhưng đến nay mới chỉ có hơn 500 người tham gia Bảo hiểm y tế.Tại Lạng Sơn, con số đó cũng mới chỉ là gần 700 người Tại Yên Bái, cuốinăm 2009 có khoảng 39.000 đối tượng cận nghèo, nhưng đến hết tháng 6 -
2010 cũng mới chỉ có 3.000 đối tượng tham gia Bắc Ninh, một trong nhữngđịa phương đầu tiên dành ngân sách địa phương hỗ trợ tới 70% cho đối tượngcận nghèo trước khi thực thi Luật Bảo hiểm y tế Song tới thời điểm này, tỉnhcũng mới chỉ có khoảng 3.500 đối tượng tham gia, chiếm gần 12% tổng sốđối tượng cận nghèo
Bảng 1 Thông tin chung về các hộ gia đình được phỏng vấn (Q1e)
Tỉnh
(n=361 )
Trang 11và cân nhắc trước khi ra quyết định có tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế haykhông.
Bảng 2 Hiểu biết của người dân về tiêu chuẩn của hộ cận nghèo (Q12)
Tỉnh
(n=361 ) % (n=140 ) % (n=139 ) % (n=82 ) %
đó việc đưa ra các chính kiến tại cuộc họp cũng còn rất hạn chế Một người
dân ở Tây Ninh cho biết: “Gia đình tôi rất nghèo, tuy nhiên chúng tôi cũng
không hề biết gia đình mình thuộc diện được Nhà nước hỗ trợ để mua thẻ Bảo hiểm y tế”.
Bảng 3 Hiểu biết của người dân về cách làm của địa phương để xác định
hộ cận nghèo (Q13)
Tỉnh
(n=361 ) % (n=140 ) % (n=139 ) % (n=82 ) %
Biết rõ cách xác định 95 26.3 46 32.9 32 23.0 17 20.7
Trang 12để bình bầu trực tiếp trên cơ sở kết quả điều tra Sau khi kết quả điều tra phùhợp với nhận xét bình bầu của nhân dân thì danh sách này sẽ được các thôntổng hợp gửi lên Uỷ ban nhân dân xã xác nhận, sau đó lần lượt được gửi lênphòng Lao động – Thương binh Xã hội huyện và cuối cùng là Sở Lao động –Thương binh và Xã hội tỉnh để tổng hợp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phêduyệt.
Mặc dù vậy thì người dân khi được hỏi vẫn trả lời phần lớn là khôngbiết rõ (chiếm hơn 70%), điều này có thể được lý giải là họ đã không nhớhoặc không quan tâm đến việc làm của các cơ quan chức năng tại địa phương
Bảng 4 Hiểu biết của người dân về mức hỗ trợ của Nhà nước để mua thẻ (Q15)
Tỉnh
(n=361 )
Việc người dân không hiểu rõ về chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng
là một rào cản làm hạn chế đến quyết định của họ khi mua thẻ Bảo hiểm y tế.Quá trình triển khai thực hiện, các cơ quan chức năng đã không kết hợp vớituyên truyền phổ biến cụ thể về chủ trương hỗ trợ của Nhà nước Việc ngườicận nghèo chủ yếu là những hộ gia đình có trình độ hiểu biết kém, họ đã đitìm kiếm sự hỗ trợ một cách rất thụ động, thậm chí chỉ có thể là qua sự giớithiệu của hàng xóm, hoặc từ những người đã mua thẻ trước đó, hoặc đôi khichỉ là vô tình được thông tin
Bảng 5 Mức hỗ trợ mà người dân đã được nhận thông qua câu hỏi những người đã tham gia mua thẻ (Q19)
Tỉnh
Chung 3 tỉnh Ninh Bình Nghệ An Tây Ninh
(n=208 ) % (n=81 ) % (n=80 ) % (n=47 ) %
Nhận hỗ trợ ít nhất 50% 139 66.8 63 77.8 54 67.5 22 46.8
Trang 13Biết không rõ bao nhiêu % 69 33.2 18 22.2 26 32.5 25 53.2
Bảng 6 Lý do chính để người cận nghèo tham gia mua Bảo hiểm y tế (Q20)
Tỉnh
Chung 3 tỉnh Ninh Bình Nghệ An Tây Ninh
(n=208 ) % (n=81 ) % (n=80 ) % (n=47 ) %
Gia đình có người thường xuyên đau ốm 115 55.3 33 40.7 52 65.0 30 63.8
Để phòng khi đau ốm, đỡ phải trả viện phí 111 53.4 40 49.4 49 61.3 22 46.8
Được con, cháu hoặc người khác mua cho 4 1.9 2 2.5 2 2.5 0 0.0
Mua vì thấy có Nhà nước hỗ trợ 31 14.9 17 21.0 1 1.3 13 27.7
Chia sẻ khó khăn với những người khác 11 5.3 5 6.2 6 7.5 0 0.0
Thấy mọi người mua thẻ BHYT thì mua 3 1.4 2 2.5 1 1.3 0 0.0
Được địa phương cấp nên có thẻ 10 4.8 0 0.0 0 0.0 10 21.3
Khó khăn về kinh tế và hạn chế trong nhận thức được xem là trở ngạichính khiến những người cận nghèo không có điều kiện tận dụng được cơ hộitham gia mua Bảo hiểm y tế
Khi được phỏng vấn, cán bộ trong ngành Bảo hiểm xã hội nhận định:
“những người được thụ hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước chỉ thực sự quan tâm đến Bảo hiểm y tế khi sức khỏe của họ có vấn đề Một nguyên nhân nữa khiến những người cận nghèo chần chừ chưa mua thẻ Bảo hiểm y tế, đó
là tâm lý trông chờ vào quyết định của địa phương nâng mức chuẩn nghèo để được trở thành hộ nghèo Khi đó họ sẽ được nhà nước hỗ trợ 100% phí mua thẻ”.
Bảng 7 Tình trạng không sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế khi đi khám, chữa bệnh (Q24)
Tỉnh
Chung 3 tỉnh Ninh Bình Nghệ An Tây Ninh
(n=208 ) % (n=81 ) % (n=80 ) % (n=47 ) %
Đi KCB nhưng không sử dụng thẻ 56 26.9 16 19.8 24 30.0 16 34.0
Đi KCB có sử dụng thẻ 152 73.1 65 80.2 56 70.0 31 66.0
Trang 14Việc người dân có thẻ Bảo hiểm y tế nhưng khi đi khám, chữa bệnhvẫn không sử dụng đến chiếm một tỷ lệ khá nhiều (chiếm 26,9%) vì có nhiều
lý do có thể là quên, có thể là đi khám chữa bệnh vượt tuyến hoặc là do thủtục quá rườm rà với một mức chi không lớn nên người bệnh tự bỏ tiền túi chitrả mà không cần đến phải thanh toán bằng bảo hiểm y tế
Bảng 8 Khả năng tiếp tục tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế vào các năm sau (Q25)
Tỉnh
Chung 3 tỉnh Ninh Bình Nghệ An Tây Ninh
(n=208 ) % (n=81 ) % (n=80 ) % (n=47 ) %
Có tiếp tục mua nữa 185 88.9 69 85.2 72 90.0 44 93.6 Chưa biết, còn phải xem xét 23 11.1 12 14.8 8 10.0 3 6.4
Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề còn hạn chế, xong tỷ lệ người đã thamgia mua Bảo hiểm y tế có nguyện vọng tham gia tiếp vào những năm sau làtương đối lớn, chiếm 88,9% Con số này đã phần nào thể hiện sự cần thiết củangười dân khi tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế
Lý do nữa là những người có thẻ Bảo hiểm y tế thường là những ngườigià, ốm yếu lâu dài nên việc có ý định tiếp tục mua nữa là cần thiết
Bảng 9 Lý do chính người cận nghèo không tham gia mua Bảo hiểm y tế (Q26)
Tỉnh
Chung 3 tỉnh Ninh Bình Nghệ An Tây Ninh
(n=153 )
Không cần mua, sẵn sàng trả viện phí 2 1.3 0 0.0 1 1.7 1 2.9 Không biết thông tin được Nhà nước hỗ trợ 23 15.0 3 5.1 17 28.8 3 8.6 Thủ tục phiền hà, chất lượng dịch vụ thấp 1 0.7 0 0.0 1 1.7 0 0.0
Có thẻ BHYT vẫn phải đồng chi trả 6 3.9 0 0.0 4 6.8 2 5.7
Trong số những người không tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế, hầu hếttrong số họ cho là do hoàn cảnh gia đình có khó khăn, điều kiện kinh tế khôngcho phép tất cả thành viên của gia đình tham gia mua thẻ Bảo hiểm y tế Một
số cho rằng những người khỏe mạnh thì không cần mua mà chỉ mua chonhững người ốm hoặc người già, người có bệnh kinh niên Bên cạnh đó thìmột lý do nữa được cho là từ phía những nhà quản lý đã không cung cấp đủ
Trang 15thông tin khiến cho người dân chưa hiểu được đầy đủ những thông tin vềquyền và nghĩa vụ khi tham gia mua Bảo hiểm y tế.
Bảng 10 Kiến nghị để người dân tham gia mua BHYT nhiều hơn (Q27)
Tỉnh
(n=361 ) % (n=140 ) % (n=139 ) % (n=82 ) %
Tăng mức hỗ trợ của Nhà nước 299 82.8 102 72.9 134 96.4 63 76.8
lý đưa ra khi được phỏng vấn sâu Bên cạnh đó thì một số những ý kiến đưa
ra là mong muốn giảm tỷ lệ đồng chi trả, cải cách thủ tục thanh toán thẻ Bảohiểm y tế, thủ tục bán thẻ Bảo hiểm y tế cho người dân cũng như là nâng caochất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh
Cũng qua báo cáo của các địa phương đã thu thập được, các tỉnh đều đềnghị được nâng mức hỗ trợ của Nhà nước cho người cận nghèo với mức tốithiểu là 70% Thậm chí đối với một số tỉnh nghèo thì đề nghị nâng mức hỗ trợlên 100% để người dân không phải đóng tiền mà được thụ hưởng như nhữngđối tượng là người nghèo Một trong những lý do mà họ đưa ra là ranh giớigiữa những người nghèo và cận nghèo là hết sức mong manh, chỉ cần có mộtbiến cố vừa phải thôi cũng sẽ đẩy những gia đình này vào tình trạng là hộnghèo Thêm vào đó, một số địa phương đề nghị được bỏ phần đồng chi trảhoặc chỉ phải chịu đồng chi trả 5% như người nghèo
Qua cuộc khảo sát ở các tỉnh chúng tôi được biết hành vi tìm kiếm dịch
vụ khám, chữa bệnh của người có thu nhập thấp xu hướng tập trung vào trạm
y tế xã, sau đó mới đến bệnh viện tuyến huyện Tuy nhiên, chất lượng dịch vụtrạm y tế xã cung cấp vẫn còn nghèo nàn, cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình
Trang 16độ cán bộ trạm y tế xã ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sócsức khỏe Nhiều người dù không có tiền nhưng vẫn vay mượn để đến KCB tại
bệnh viện huyện Họ quan niệm “của cho không bằng của mua”, “thuốc cấp
là thuốc không tốt”, thuốc cấp cho trẻ em cũng giống như thuốc cấp cho
người lớn
Khi được hỏi, cán bộ y tế tuyến tỉnh cho biết: “Cán bộ y tế cơ sở thiếu cả
về số lượng và chất lượng, biên chế CBYT cơ sở thấp, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân rất cao Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của người dân là do điều kiện kinh tế có khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu”.
Sử dụng dịch vụ y tế của người dân: mặc dù có thu nhập cao hơn ngườinghèo không đáng là bao, xong người cận nghèo khi đi khám chữa bệnh cònphải chịu đồng chi trả 20%, các chi phí khác như chi phí đi lại, chi phí chonhững người nhà đi cùng,… cũng là một gánh nặng cũng đã phần nào làmảnh hưởng đến thái độ tìm kiếm dịch vụ y tế Nhìn chung là không có sự phânbiệt khi khám và chữa bệnh giữa đối tượng được hưởng chế độ chính sách vàkhông được hưởng chế độ chính sách Nhưng những hộ gia đình thuộc nhómđối tượng này vẫn còn một số trường hợp mong chờ để địa phương có nhữngthay đổi về chính sách để họ được xép vào nhóm đối tượng được hỗ trợ 100%như người nghèo
Chi phí chăm sóc sức khoẻ của người dân: Qua kết quả khảo sát chothấy việc thanh toán khi sử dụng BHYT cũng còn khó khăn và gặp nhiều thủtục phiền hà Một số người dân khám chữa bệnh không đúng tuyến y tế đãđăng ký sử dụng thẻ gây khó khăn cho việc thanh toán Tuy nhiên nếu họ điđúng tuyến thì việc thanh toán không khó khăn gì
Thời hạn sử dụng của thẻ Bảo hiểm y tế cũng là một trở ngại khác.Việc làm thẻ chậm, thời hạn sử dụng quá ngắn đã làm cho hiệu quả sử dụng
thẻ không cao Một người dân cho biết: “Tôi có được nhận thẻ Bảo hiểm y tế
vào tháng 4, nhưng thẻ chỉ có hạn sử dụng đến tháng 12, nghĩa là trước đó khi cần đi khám chữa bệnh mà không có thẻ bảo hiểm nên phải tự trả tiền khám chữa bệnh” Lý giải về vấn đề này, một cán bộ xã cho biết: “Việc xác định đối tượng cần phải được tiến hành tuần tự qua từng bước và cuối cùng
là phải có xác minh và được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt danh sách thì mới được cấp thẻ, vì vậy việc chậm phát thẻ là điều khó tránh khỏi”.
Phản hồi và sự hài lòng của bệnh nhân với dịch vụ y tế được tiếp cận:Các ý kiến của người dân về việc hưởng lợi từ chăm sóc sức khỏe tập trungvào các vấn đề: Thời gian gần đây, Nhà nước đã hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng
và cung cấp trang thiết bị y tế cho các TYT xã Hiện tại thì cơ sở nhà trạm đã
có khang trang hơn, trang thiết bị y tế, năng lực cán bộ y tế xã đều được cảithiện so với thời điểm trước đây Tuy nhiên thì hiệu suất sử dụng cơ sở y tếtuyến xã còn phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các dịch vụ được cung cấp
Trang 17cũng như là danh mục thuốc và các dịch vụ được bao phủ bởi hệ thống chi trảcủa Bảo hiểm y tế
Các ý kiến của các tỉnh đều cho rằng phạm vi và chất lượng các dịch vụ
y tế ở cấp huyện, xã và bản đã được cải thiện rõ rệt Người dân địa phươngđến KCB tại TYT xã đông nhất sau đó đến BV huyện Các dịch vụ y tế tuyến
xã đã được cải thiện: Nhà trạm được sửa chữa khang trang hơn CBYT cơ sở
có trình độ chuyên môn và thái độ phục vụ ngày càng tốt hơn Tỷ lệ ngườidân đến khám, điều trị và sử dụng dịch vụ y tế tăng lên
Ý kiến của đối tượng hưởng lợi về dịch vụ khám, chữa bệnh: “trình độ
năng lực của cán bộ y tế xã đã được cải thiện rõ rệt Người dân tin tưởng vào cán bộ y tế hơn Thái độ phục vụ, chăm sóc sức khỏe của cán bộ y tế tuyến
xã, huyện được người dân đánh giá tốt: nhiệt tình, không gây phiền hà cho người dân Tuy nhiên thì việc phối hợp giữa cán bộ làm thẻ BHYT với CBYT
và cán bộ xã chưa đồng bộ dẫn đến việc chậm trễ trong việc cấp, phát thẻ cho người dân”.
Cải thiện chất lượng dịch vụ y tế: tổng hợp báo cáo của các địa
phương cho thấy:
1 Nhận xét chung về chính sách hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo:
Chính sách hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo là một chủ trương lớncủa Đảng và nhà nước cần được thực hiện tốt để góp phần thu hẹp khoảngcách về chăm sóc sức khỏe giữa người dân nông thôn và thành thị, giữa vùnggiàu và vùng nghèo
2 Những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai:
- Số lượng bệnh nhân có thẻ BHYT ngày càng đông, kinh phí sử dụnghàng tháng cho bệnh nhân rất lớn (giá thuốc, vật tư y tế, hoá chất… biến độngliên tục) nhưng việc quyết toán kinh phí một quý mới thực hiện một lần làkhông phù hợp với tình hình thực tế hiện nay Nhìn chung các đơn vị không
đủ kinh phí để thanh toán kịp thời cho các nhà cung cấp do kinh phí tạm ứng
từ BHXH thấp và không phù hợp với thực tế (khoán kinh phí trên đầu thẻBHYT là không phù hợp)
- Chưa có danh mục phân biệt cụ thể vật tư tiêu hao thông thường, vật
tư tiêu hao đặc biệt, vật tư thay thế gây ra tình trạng không thống nhất việcthanh quyết toán giữa BHXH và đơn vị khám chữa bệnh
- Theo báo cáo của các tỉnh cho thấy mặc dù một số các tỉnh đã cóquyết định về việc ban hành danh mục thủ thuật, phẫu thuật (triển khai phầnC2.7 trong Thông tư 03), nhưng đến nay BHXH vẫn không thanh toán một sốhạng mục như: nẹp vít, đinh vít, dụng cụ hỗ trợ trong phẫu thuật kết hợpxương Nẹp vít và đinh vít là những vật tư tiêu hao đặc biệt chi phí rất lớn đãđược Bộ Y tế cho phép thanh toán ngoài chi phí phẫu thuật theo quy định
Trang 18nhưng BHXH vẫn không chấp nhận và chờ ý kiến hướng dẫn của BHXH ViệtNam.
- Bảng giá thông tư 14 hiện nay vẫn còn áp dụng: Không còn phù hợpvới tình hình thực tế do đã quá lạc hậu (từ năm 1995), một số giá trùng vớiThông tư 03 vẫn không được áp dụng theo Thông tư 03 đặc biệt là một số thủthuật có chi phí thuốc gây tê, vật tư y tế như trong thủ thuật chạy thận nhântạo, cắt amidan… (giá thuốc, vật tư y tế và chủng loại thay đổi nhiều so vớiThông tư 14 rất lớn) nhưng chỉ được thanh toán tiền công thủ thuật theoThông tư 14 rất thấp không đủ bù đắp chi phí thuốc và vật tư y tế bỏ ra đểphục vụ thủ thuật
- Các văn bản quy định của BHXH về thực hiện BHYT vẫn còn chồngchéo
3 Những kiến nghị để triển khai tốt BHYT cho người cận nghèo:
Để có thể nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cho người nghèo vàcận nghèo, các Sở, Ban, Ngành cần thực hiện chính sách hỗ trợ BHYT chongười cận nghèo một cách đồng bộ và khẩn trương
- Cần phải thực hiện triệt để việc cấp thẻ BHYT cho họ; đồng thờicác cơ quan hữu quan, đặc biệt là Sở Lao động – Thương binh – Xã hội cầntheo dõi và phối hợp chặt chẽ với UBND các địa phương để xác định các
hộ cận nghèo nhằm kịp thời đề xuất danh sách cấp thẻ BHYT cho những hộnày Đây là công tác rất quan trọng, giúp cho những hộ cận nghèo giảm chiphí y tế, tức là trực tiếp giảm nguy cơ trở thành hộ nghèo
- Nhằm làm giảm gánh nặng chi phí cho Quỹ BHYT ngày càng khókhăn, đồng thời bù đắp khoản chi phí đồng chi trả, có thể tính đến giải pháptăng mức đóng BHYT cho một số đối tượng có thu nhập ổn định và/ hoặc
có thu nhập khá Ví dụ, có thể dựa vào quy định thuế thu nhập để tăng chiphí đóng BHYT của những đối tượng có thu nhập cao phát sinh thuế thunhập
- Cần phải sửa đổi chế độ thu viện phí hiện nay tại các bệnh viện đểthu đúng, thu đủ chi phí khám chữa bệnh, tạo nguồn thu cho bệnh viện đểphục vụ tốt hơn cho đối tượng BHYT mà quan trọng hơn hết là tạo mộtnguồn Quỹ dự phòng để điều trị cho những người gặp khó khăn đột xuất,khi bị hoạn nạn, thiên tai, hạn hán, mất mùa… Chính những đối tượng này
là những đối tượng rất dễ bị tổn hại sức khỏe, nếu không được khám chữabệnh miễn phí sẽ trở thành gánh nặng cho cộng đồng và xã hội và nguy cơtrở thành hộ nghèo là không tránh khỏi khi gặp ốm đau, bệnh tật Chính từgiải pháp này mà cần phải có những quy định cụ thể về việc thành lập Quỹ
dự phòng khám chữa bệnh tại các Bệnh viện để trợ giúp cho đối tượng này
- Cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào hệ thống y tế, cả hệ điều trị lẫn
dự phòng, nhằm nâng cao chất lượng phòng bệnh, cải tiến công tác khám
Trang 19chữa bệnh, cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân và người sử dụng dịch vụđối với hệ thống y tế hiện hành.
Hiện nay, tình trạng quá tải của các bệnh viện vẫn chưa được giảiquyết triệt để Đề án 1816 của Bộ Y tế "Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từbệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chấtlượng khám chữa bệnh", một chủ trương lớn của ngành y tế thể hiện quyết liệtthực hiện chủ đề "Hướng về y tế cơ sở", đồng thời cũng là một trong nhữnggiải pháp quan trọng đóng góp "giảm tải" các bệnh viện tuyến trên đã phầnnào giải quyết tình trạng này nhưng chỉ ở một số cơ sở chứ chưa giải quyếttriệt để vấn đề quá tải bệnh viện Sự kết hợp đề án 1816 với việc nâng cấp cơ
sở vật chất và cung cấp trang thiết bị cho các bệnh viện, tăng cường đào tạocán bộ cả về chăm sóc sức khỏe ban đầu lẫn y tế chuyên sâu, cải tiến chế độtiền lương, phụ cấp cho cán bộ y tế, có chế độ quy định bắt buộc, đồng thờithu hút cán bộ y tế đến công tác tại các vùng nông thôn, vùng khó khăn,vùng sâu, vùng xa
Việc đầu tư cho hệ thống y tế dự phòng là rất cần thiết nhằm giúpbảo vệ người dân nói chung và người nghèo, cận nghèo nói riêng tránh dịchbệnh từ ô nhiễm môi trường và các yếu tố gây bệnh khác Muốn như vậy,ngoài việc đầu tư mạnh mẽ và đồng bộ vào hệ thống y tế dự phòng, cầnphải có sự phối hợp chặt chẽ và thực chất giữa ngành y tế với các ngành cóliên quan như Tài nguyên môi trường, Nông nghiệp và phát triển nôngthôn, Công thương, Quản lý thị trường, Văn hoá - Thể thao và Du lịch,…nhằm tạo ra cho họ một môi trường sống trong lành, một hệ thống kiểmsoát thực phẩm chặt chẽ, giàu dinh dưỡng và an toàn
- BHXH nên duyệt quyết toán kinh phí KCB một tháng một lần thay vì
ba tháng một lần như hiện nay
- Sớm ban hành bảng giá viện phí thống nhất tránh chồng chéo và phùhợp với tình hình thực tế, có tính tới yếu tố trượt giá và sự phát triển của một
số loại phẫu thuật, thủ thuật trong điều trị
- Thống nhất danh mục vật tư y tế thông thường, đặc biệt, thay thế
- Cho phép đơn vị được thu phí những loại thủ thuật, xét nghiệm… màBHXH không đồng ý thanh toán với lý do không có trong danh mục củaBHYT
- Đối tượng là người dân tộc trong và ngoài tỉnh đề nghị BHXH xemxét và quyết toán kinh phí cho cơ sở điều trị kể cả lúc bệnh nhân không mangthẻ BHYT
Cuối cùng, nhưng cũng là giải pháp quan trọng nhất, đó là tăngcường mạnh mẽ vai trò của cấp ủy và chính quyền địa phương trong côngtác xoá đói, giảm nghèo, trong đó có việc xác định hộ nghèo và cận nghèo,kịp thời đề xuất việc cấp thẻ BHYT cho họ Đồng thời, cần xác định vai trò
Trang 20của chính quyền cấp xã trong việc xác nhận những hộ khó khăn đột xuất(thiên tai, hạn hán, tai nạn thảm họa…) trong khi khám chữa bệnh tại cácbệnh viện để được miễn, giảm viện phí trong quy định quỹ khám chữa bệnh
dự phòng như đã nói trên
Theo ý kiến thảo luận tại tỉnh cho biết: “Thực trạng việc xác định hộ
cận nghèo chưa đảm bảo công bằng và còn nhiều bất cập do trình độ cán bộ
xã còn thấp, không nắm được tiêu chí, họ làm theo cảm tính và mang tính chất gia đình, quen biết, nhiều hộ gia đình thực tế là rất khó khăn nhưng đã không được công nhận vào danh sách hộ cận nghèo Việc cấp thẻ bảo hiểm cho người cận nghèo còn khó khăn do phân loại hộ cận nghèo không chính xác”.
Tổ chức và quản lý về khám chữa bệnh cho người cận nghèo: ở cấptỉnh bao gồm quản lý nguồn vốn do Nhà nước hỗ trợ 50%, quản lý danh sách,xây dựng kế hoạch nguồn vốn, quản lý giám sát, hướng dẫn tài chính vàphương thức bán thẻ Bảo hiểm y tế
Qua kết qua thảo luận nhóm ở các tỉnh chúng tôi thu được các ý kiến
đó là: Việc triển khai chương trình hỗ trợ bước đầu khó khăn vì các văn bảnhướng dẫn chưa được cụ thể hóa, cơ chế hỗ trợ còn nhiều điểm chưa rõ,hướng dẫn cụ thể cách xác định và mức đóng còn chậm
Tăng cường công tác, truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân tạicác cấp, các tỉnh đã có kế hoạch đặt các điểm truyền thông tại bệnh viện tuyếnhuyện, tỉnh để tuyền thông về hỗ trợ mua thẻ Bảo hiểm y tế cho người cậnnghèo và các đối tượng hưởng lợi Các phương tiện tuyền thanh của xã,phường cũng đưa tin thường xuyên về chính sách hỗ trợ của Nhà nước chonhững hộ cận nghèo
Quy trình cấp thẻ Bảo hiểm y tế còn rất chậm và phức tạp Người dân không được hưởng chế độ hỗ trợ một cách đầy đủ Cần tuyên truyền sâu rộng
về ý nghĩa của chương trình hỗ trợ đối với người dân và cán bộ lãnh đạo chính quyền các cấp để tăng cường nhận thức và có khả năng triển khai thực hiện được đầy đủ.
5 Các giải pháp tiếp tục triển khai hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo:
Từ những phân tích thực trạng nêu trên, để tiếp tục thực hiện tốt côngtác chăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo, cần xem xét triển khai các giảipháp liên quan đến tài chính y tế như sau:
5.1 Ngân sách Nhà nước: Tăng nhanh tỷ lệ chi ngân sách Nhà nước cho y
tế, ưu tiên kinh phí để thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo:
Trang 21Ngân sách Nhà nước là nguồn kinh phí quan trọng, ổn định và có cơchế phân bổ lại từ vùng giàu sang vùng nghèo, phân bổ lại khi xảy ra cáctrường hợp khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh Cho phép chia sẻ nguy cơ tốtnhất trong cộng đồng để thực hiện chiến lược công bằng trong công tác chămsóc sức khỏe Mặc dù ngân sách Nhà nước cho y tế của Việt Nam đã tăngtrong thời gian gần đây, song vẫn còn nằm ở nhóm nước có mức chi NSNNthấp, chiếm 8,08% tổng chi ngân sách Nhà nước và 2,6% GDP (năm 2009)với mức chi ngân sách y tế bình quân đầu người là 500.400 đồng và thấp hơnrất nhiều so với khuyến cáo của các tổ chức quốc tế cho các nước đang pháttriển.
Theo khuyến cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì các nước có thunhập thấp cần phải chi khoảng 12% GNP cho y tế để có thể đạt được các mụctiêu phát triển quốc tế Với chi phí khám, chữa bệnh ngày càng lớn và gánhnặng chi trả cho y tế thuộc về các hộ gia đình, người có thu nhập thấp gặp khókhăn trong tiếp cận dịch vụ y tế, trong thời gian tới cần phải tiếp tục tăngngân sách Nhà nước cho y tế và ưu tiên kinh phí để thực hiện các chính sáchchăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo
Nghị quyết 46/ NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nêu rõ: “Từ nay đến
năm 2010, Nhà nước cần đầu tư mạnh, tạo bước bứt phá để nâng cấp các cơ
sở y tế…” Để triển khai Nghị quyết này, ngày 05/ 10/ 2005 Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị
quyết 46/ NQ-TW, trong đó cũng đã nêu rõ: “Tăng nhanh tỷ trọng các nguồn
tài chính công cho y tế (bao gồm ngân sách Nhà nước và Bảo hiểm y tế), giảm dần các hình thức thanh toán viện phí trực tiếp từ người bệnh,…”.
Trong giai đoạn này, để thực hiện các chính sách chăm sóc sức khỏecho người cận nghèo, nguồn ngân sách Nhà nước cần tập trung vào lĩnh vựcsau:
- Ngân sách Nhà nước tiếp tục được ưu tiên đầu tư để củng cố và hoànthiện mạng lưới y tế cơ sở, đặc biệt là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùngkhó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Ngoài đầu tư cho cơ sở vật chất,trang thiết bị, kinh phí chi thường xuyên cần đặc biệt chú ý tới việc đầu tư chophát triển nhân lực bằng các chính sách thích đáng về lương, phụ cấp, đào tạocán bộ, hỗ trợ kỹ thuật tuyến trên cho tuyến dưới nhằm giúp cho người có thunhập thấp được tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lượng cao ngay tại tuyến cơ
sở Phấn đấu đến hết năm 2010, có 80% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã
- Đảm bảo ngân sách cho các hoạt động y tế dự phòng, các chươngtrình mục tiêu y tế quốc gia nhằm giữ vững những thành quả đã đạt đượctrong những năm trước đây, chủ động phòng chống dịch, dập tắt kịp thời,không để dịch lớn xảy ra, giảm tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết do một số bệnh dịch xãhội và bệnh dịch nguy hiểm và HIV/ AIDS
Trang 22- Ưu tiên phân bổ ngân sách cho khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xavới định mức phân bổ ngân sách trên đầu dân cao hơn so với vùng đồng bằng
từ 2,5 đến 3 lần
- Ưu tiên ngân sách để thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ chăm sóc sứckhỏe cho người nghèo, vùng nghèo: chăm sóc sức khỏe cho người nghèo,người cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng hưởng các chính sách
xã hội và trẻ em dưới 6 tuổi
5.2 Triển khai hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo:
Quyết định 117/2008/QĐ-TTg đã đánh dấu thêm một bước tiến của quátrình hỗ trợ cho nhóm các đối tượng yếu thế Đồng thời cũng đem đến mộtdấu ấn trên lộ trình tiến tới Bảo hiểm y tế toàn dân Một nguồn vốn tiếp tụcđược huy động từ ngân sách trung ương và địa phương để hỗ trợ cho chămsóc sức khỏe nói chung và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cận nghèo nóiriêng Sau hai năm thực hiện Quyết định 117/2008/QĐ-TTg, nhìn chung kếtquả đạt được là khả quan, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế nhấtđịnh Sau đây là một số đề xuất để sửa đổi, bổ sung và tổ chức triển khai thựchiện tốt hơn nữa chính sách quan trọng này của Nhà nước
- Đối tượng thụ hưởng: theo Quyết định 117/2008/QĐ-TTg, người cậnnghèo là người sống trong hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu ngườikhông vượt quá 130% so với người nghèo theo chuẩn nghèo tương ứng với 2vùng: nông thôn (200.000 đồng) và thành thị (260.000 đồng) Tuy nhiên,trong quá trình triển khai đã xảy ra các hiện tượng vì nể nang hoặc vụ lợi, chonên một số các đối tượng có điều kiện kinh tế khá giả dù không đủ tiêu chuẩnnhưng vẫn được hưởng chế độ hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo.Ngược lại, một số hộ thực sự thuộc diện cần hỗ trợ lại không nhận được sự trợgiúp nào
Việc đưa các đối tượng không thuộc diện cận nghèo vào đối tượng thụhưởng sẽ làm giảm phân bổ ngân sách có theo định hướng giảm nghèo, tăngthêm gánh nặng ngân sách, gây ra tình trạng thiếu niềm tin của nhân dân do
có hiện tượng so bì, khiếu nại trong nhân dân Mặt khác việc bỏ sót các đốitượng đã làm cho những người có nhu cầu hỗ trợ thực sự lại bị lỡ cơ hội thamgia vào chương trình Vì vậy, các đối tượng được hưởng thụ chế độ hỗ trợBảo hiểm y tế cho người cận nghèo cần phải được xác định như sau:
+ Những đối tượng được quy định tại Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg
+ Những đối tượng vừa thoát nghèo
+ Những đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn đột xuất: trong nhà có ngườimắc bệnh hiểm nghèo, có con đang đi học, tổn hại đột xuất do thiên tai, thảmhọa, vì đây là những đối tượng có thu nhập thấp, rất dễ trở thành nhómnghèo khi mắc bệnh
Trang 23- Mệnh giá và phương thức: Luật Bảo hiểm y tế đã quy định về mệnhgiá và phương thức để người cận nghèo tham gia Bảo hiểm y tế Tuy nhiên,khi triển khai thực hiện thì phụ thuộc rất nhiều vào tình hình của mỗi địaphương Khi triển khai thực hiện, các địa phương đã ban hành những chỉ thị,quyết định riêng cho phép các quận, huyện, thị xã chủ động áp dụng cácphương thức và mệnh giá riêng tùy theo tình hình kinh tế - xã hội của mỗi địabàn: công văn số 171/UBND-VP6 ngày 17/ 8/ 2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh
về việc đồng ý với đề xuất của Sở Tài chính cho phép Ủy ban nhân dân cáchuyện, thành phố, thị xã được phép tùy theo khả năng cân đối ngân sách địaphương có thể hỗ trợ thêm người thuộc hộ gia đình cận nghèo tham gia Bảohiểm y tế ngoài mức hỗ trợ chung; Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh NinhBình số 38/ 2009/ QĐ-UBND ngày 23/ 12/ 2009 về việc quy định mức hỗ trợkinh phí từ Ngân sách Nhà nước để đóng Bảo hiểm y tế cho người thuộc hộcận nghèo và học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã quy định hỗtrợ 50% mức đóng Bảo hiểm y tế cho người cận nghèo Vì vậy, cho tới thờiđiểm này có nơi thì người cận nghèo chưa được hỗ trợ gì, có nơi thì ngườinghèo được hỗ trợ thêm một phần từ ngân sách địa phương ngoài phần đãnhận được hỗ trợ từ ngân sách Trung ương là 50% và có nơi thì đã hỗ trợđược cả 100% mệnh giá bằng nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ 50% vàcòn lại là từ ngân sách địa phương (Tp Ninh Bình – tỉnh Ninh Bình) hoặc từcác Dự án viện trợ nước ngoài (Dự án Hỗ trợ y tế vùng đồng bằng sông CửuLong – vay vốn WB) và tới đây là Dự án Hỗ trợ y tế các tỉnh Bắc Trung bộvay vốn WB bao gồm 6 tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên – Huế
Hầu hết các địa phương đã triển khai thực hiện, ngân sách Nhà nướcchỉ hỗ trợ 50%, ngoài ra không còn có nguồn hỗ trợ khác thì người cận nghèophải tự chi trả 50% còn lại, tương đương với 197.100 đồng/ năm (= 730.000 *0.045 * 12/ 2) Với một gia đình quy mô trung bình 4 người (2 người lớn và 2trẻ em) thì cũng đã phải chi trả tới gần 1 triệu đồng/ năm Thêm vào đó, việc
sử dụng thẻ bảo hiểm y tế không thường xuyên, thậm chí có khi cả nămkhông dùng đến một lần nào đã làm cho người hưởng lợi luôn cân nhắc và đặt
ra câu hỏi liệu có cần thiết phải mua bảo hiểm y tế bằng hình thức này haykhông
Theo báo cáo niên giám thống kê y tế năm 2009, mức chi ngân sách y
tế bình quân đầu người là 500.400 đồng/ người/ năm thì cho thấy rằng số tiềnthu được từ Bảo hiểm y tế còn thấp hơn rất nhiều so với mức chi y tế bìnhquân đầu người Đây là một khó khăn lớn dẫn đến tình trạng thâm hụt quỹbảo hiểm y tế qua các năm và ảnh hưởng đến chất lượng của công tác khám,chữa bệnh bằng Bảo hiểm y tế
Cần có thêm các nghiên cứu cụ thể về tình hình sử dụng dịch vụ y tếcủa người cận nghèo, tỷ lệ người cận nghèo khám chữa bệnh bằng Bảo hiểm
y tế dành cho người cận nghèo, khả năng đáp ứng của ngân sách Trung ương
và địa phương, khả năng điều hòa quỹ Bảo hiểm y tế chung
Trang 24Áp dụng cơ chế hỗ trợ một phần cho người cận nghèo từ Quỹ Khám,chữa bệnh cho người nghèo 139 Quyết định 139/2002/QĐ-TTg có nêu: Quỹkhám, chữa bệnh cho người nghèo có thể được dùng để hỗ trợ một phần việnphí cho các trường hợp khó khăn đột xuất (không thuộc đối tượng quy địnhtại Điều 2 của Quyết định 139) do mắc các bệnh nặng, chi phí cao khi điều trị
ở bệnh viện Nhà nước Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện thì các thấy việc hỗtrợ cho người cận nghèo trong những năm qua vẫn chưa được quan tâm thựchiện, mặc dù đã có các chính sách, văn bản hướng dẫn và có bố trí ngân sách
để thực hiện
Trong thời gian tới, việc hỗ trợ cho người cận nghèo cần được tiếp tụcnghiên cứu để ban hành những quy định cụ thể hơn và thực hiện tốt hơn.Phương thức hỗ trợ người cận nghèo cần tiếp tục triển khai theo hai phươngthức:
+ Huy động các nguồn lực về tài chính để hỗ trợ hơn 50% mệnh giá thẻBảo hiểm y tế tự nguyện để các đối tượng cận nghèo tham gia mua thẻ Bảohiểm y tế Với hỗ trợ này, kết hợp với các biện pháp khác sẽ giúp phát triểnBảo hiểm y tế tự nguyện cho đối tượng cận nghèo, trong đó có Bảo hiểm y tếnông thôn, học sinh, sinh viên, góp phần thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dânvào năm 2014
Theo nghiên cứu khảo sát từ hộ gia đình thì hầu hết các hộ gia đình khiđược hỏi đều có nguyện vọng được Nhà nước hỗ trợ nhiều hơn nữa, mức hỗtrợ mà phần lớn được người dân đưa ra là ít nhất phải được hỗ trợ đến 70%, lý
do mà người dân đưa ra là do điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn, cùngvới việc phải đồng chi trả tới 20% khi đi khám, chữa bệnh bằng Bảo hiểm y
tế, trong khi đó thì người nghèo có mức thu nhập chênh lệch không đáng làbao thì lại nhận được sự hỗ trợ gần như tuyệt đối Mong muốn này của ngườidân hoàn toàn phù hợp với kết quả tổng hợp từ báo cáo của các tỉnh phần lớnđều đề nghị nâng mức hỗ trợ mệnh giá Bảo hiểm y tế từ ngân sách Nhà nướclên ít nhất là 70% (xem phụ lục)
+ Hỗ trợ các trường hợp được địa phương chứng nhận là cần phải điềutrị bệnh với chi phí cao, vượt trần thanh toán Bảo hiểm y tế
Qua nghiên cứu tại các tỉnh, bảo hiểm y tế cho người cận nghèo đãđược triển khai ở một số địa phương, nhưng đã đạt được kết quả tham gia kháthấp do gặp phải vấn đề nghiêm trọng về lựa chọn ngược, người tham gia chủyếu tập trung vào những người già, những người ốm yếu và có bệnh tật, cần
có sự chăm sóc về y tế, điều này góp phần dẫn đến tình trạng rủi ro cho quỹBảo hiểm y tế ngày càng gia tăng Nguyên nhân chính của tình trạng này là dongười dân còn thiếu thông tin và hiểu biết về Bảo hiểm y tế; chất lượng dịch
vụ khám, chữa bệnh chưa cao như: tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ y tế,thời gian chờ đợi lâu, các thủ tục hành chính phức tạp, tỷ lệ đồng chi trả của
Trang 25người cận nghèo là 20% đã làm giảm đi lợi ích của bảo hiểm y tế cho đốitượng này; thiếu tinh thần chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng.
Cần tranh thủ sự viện trợ quốc tế của các nhà tài trợ song phương và đaphương để duy trì và tăng nguồn hỗ trợ tài chính cho y tế Một điều kiện cầnthiết để có được sự hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế là Nhà nước phải đảmbảo đóng góp các nguồn vốn đối ứng, có thể là bằng ngân sách địa phươnghoặc huy động đóng góp từ cộng đồng Khi đã tìm kiếm được sự hỗ trợ từviện trợ nước ngoài và ngân sách Nhà nước thì việc huy động hỗ trợ có thể dễdàng hơn khi người dân đã có nhận thức tốt về lợi ích khi tham gia Bảo hiểm
y tế
Hiện tại, Dự án Hỗ trợ y tế vùng đồng bằng sông Cửu Long vay vốnNgân hàng Thế giới, Dự án Hỗ y tế khu vực Bắc Trung bộ, Nam Trung bộcũng đã và đang triển khai áp dụng hỗ trợ mua thẻ Bảo hiểm y tế cho ngườicận nghèo Một số tỉnh, bằng vốn ngân sách địa phương cũng đã chi hỗ trợ tớihơn 90% thậm chí tới 100% mệnh giá thẻ Bảo hiểm y tế cho người cận nghèo(Bắc Ninh, Đồng Nai, )
Khả năng huy động sự tham gia của các hộ gia đình phụ thuộc vào khảnăng chi trả của họ, mà sự sẵn sàng chi trả trước lại là yếu tố quyết định đầutiên cho khả năng chi trả Sự sẵn sàng chi trả trước bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tốkinh tế và xã hội Theo giác độ kinh tế, sự sẵn lòng chi trả trước của hộ giađình phụ thuộc vào niềm tin của họ rằng làm như vậy sẽ thu được lợi ích lớnhơn chi phí mà họ bỏ ra Điều này được thể hiện qua 3 khía cạnh:
1 Các cơ sở y tế cung cấp các dịch vụ một cách hiệu quả hơn sao chochi trả trước có thể thu được nhiều lợi ích hơn hiện tại
2 Chi trả trước sẽ thu được nhiều giá trị đối với hộ gia đình, ít nhất làsẵn sàng bảo vệ được rủi ro
3 Chính phủ trợ cấp kịp thời các khoản đóng góp để cộng đồng có thểtham gia
Theo góc độ xã hội, tinh thần tương thân tương ái, sự đoàn kết và tươngtrợ lẫn nhau trong cộng đồng cũng ảnh hưởng mạnh đến sự sẵn sàng chi trả.Chi trả trước nhằm mục đích chia sẻ nguy cơ tài chính giữa người khỏe mạnh
và người ốm đau, giữa người giàu và người nghèo Người trẻ và khỏe mạnh
sẽ không muốn tham gia nếu họ phải đóng góp bằng với người già yếu, nhưngchính đặc tính xã hội là yếu tố quyết định sự tham gia của họ
Để nâng cao hiểu biết của người dân đối với nghĩa vụ và quyền lợi khitham gia Bảo hiểm y tế và nâng cao tính hấp dẫn của khám, chữa bệnh bằngBảo hiểm y tế cần phải thực hiện các giải pháp sau:
- Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại tất cả các tuyến, đầu
tư nâng cấp cơ sở y tế cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc và đào tạo