1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề THPTQG Đọc Hiểu Hay nhất

28 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 105,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÁC PHẨM AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ĐỀ 1 I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ, Em, em ơi, tình non đã già rồi; Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi, Mau với chứ Thờ.

Trang 1

TÁC PHẨM AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

ĐỀ 1 I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

     Đọc đoạn trích: 

                       “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,

Em, em ơi, tình non đã già rồi;

       Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,        Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi.

        Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;

       Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.

       Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,

Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!

Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt;

       Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;

Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;

       Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn…”

      (Trích Giục giã - Xuân Diệu, “ Gửi hương cho gió” NXB Hội Nhà văn, 1992)

Câu 1. Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Câu 2. Trong văn bản, ý thơ “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ” được tác giả lí giải bằng những lí do nào?

Câu 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép điệp ngữ trong đoạn thơ.

Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan niệm sống của tác giả Xuân Diệu trong hai câu thơ sau hay không? Vì

sao?

      Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;

      Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn…” 

II PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của lốisống cởi mở và thân thiện

Câu 2 (5,0 điểm)

Trình bày cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng sông Hương qua đoạn trích sau:

[…] Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía

đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị

cổ, trải dọc hai bờ sông Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phố phường với những cây đa, cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh Tôi đã đến Lê-nin-grat, có lúc đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng mặt trời mùa xuân, mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tích […] Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hê-ra-clít, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi qua nhanh, thế vậy! Lúc

ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố… Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.

Trang 2

(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, Nxb Giáo dục

Việt Nam, tr.199-200, 2014)

Từ đó, liên hệ với bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) để nhận xét về vẻ đẹp của sông Hương

– xứ Huế trong cảm nhận của hai tác giả

ĐÁP ÁN

1. ĐỌC HIỂU

Câu 1 (0,75 điểm).  Thể thơ: Tự do.

Câu 2 (0,75 điểm).  Ý thơ “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ” được tác giả lí giải bởi:

+ Tình non đã già rồi;

+ Thời gian không đứng đợi.

+ đôi ngày, tình mới đã thành xưa.

+  Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!

+ Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt; vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài;

+ Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn…

Câu 3 (1,0 điểm)

- Phép tu từ điệp ngữ: Mau với chứ (0,25)

- Hiệu quả nghệ thuật: (0,75)

+ Khiến cho lời thơ mang hơi thở gấp gáp, vội vàng, cuống quýt

+ Thể hiện thái độ giục giã, khẩn cầu tha thiết hãy sống, hãy yêu, hãy tận hưởng cuộc đời một cách mau chóng,ráo riết, gấp gáp

Câu 4 (0,5 điểm)  

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách: đồng tình hay không đồng tình nhưng phải hợp lí và có sức thuyết phục.

Gợi ý:

- Quan niệm sống của tác giả: sống vội vàng, cuống quít vì thời gian trôi nhanh

- Đồng tình: vì đây là lối sống ý nghĩa, biết trân trọng từng phút giây cuộc sống

- Không đồng tình: Bên cạnh sống gấp gáp thì cũng cần biết sống chậm, sống sâu để tận hưởng vẻ đẹp cuộcsống

II – LÀM VĂN

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn về ý nghĩa của lối sống cởi mở và thân thiện.

1. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn: 0,25 điểm

2. Xác định đúng vấn đề nghị luận: ý nghĩa của lối sống cởi mở và thân thiện.

3. Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm)

- Giải thích: Cởi mở là gần gũi trong giao tiếp và dễ dàng để cho người khác hiểu biết tính cách,suy nghĩ của mình Thân thiện là có tình cảm tốt, đối xử tử tế và thân thiết, chân thành với nhau

- Ý nghĩa của lối sống cởi mở và thân thiện: 

        + Trong giao tiếp ứng xử sẽ tạo được sự thiện cảm, yêu quý của mọi người Tạo mối quan

hệ gắn kết, hoà đồng giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể

        + Nhờ có cởi mở và thân thiện, con người sẽ thoát ra khỏi cách sống khép kín, thu mình trong ốc đảo cô đơn

        + Tạo sự hiểu mình, hiểu người, tạo nhiều cơ hội thuận lợi trong công việc, trong cuộc sống, mang đến niềm vui, hạnh phúc và sự thành công…

- Bàn luận mở rộng: Lối sống cởi mở và thân thiện phải chân thành, thật lòng, không miễn cưỡng thân thiện vì lợi ích cá nhân…

- Bài học nhận thức và hành động: hiểu rõ ý nghĩa sống cởi mở, thân thiện, rèn luyện kĩ năngứng xử, tỏ thái độ hoà nhã, gần gũi với mọi người…

4 Đảm bảo chính tả, ngữ pháp, dùng từ đặt câu: (0,25 điểm)

5 Sáng tạo: (0,25 điểm)

Câu 2.

1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,25 điểm): Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển

khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

2.  Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Hình tượng con sông Đà được nhà

văn thể hiện trong đoạn trích

3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Trang 3

 Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường (0,25 điểm), tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông, đoạn trích nghị luận (0,25 điểm).

Tác giả: Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên về bút ký Nét đặc sắc trong

sáng tác của ông là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghịluận sắc bén với tư duy đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, vănhóa, lịch sử, địa lý, Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm vàtài hoa Sáng tác của ông gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, con người, đặc biệt làvăn hóa Huế Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là bút ký hay nhất của nhà văn viết về

xứ Huế thơ mộng và con sông Hương xinh đẹp

- Tác phẩm Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” viết ở Huế năm 1981, in trong tập sách

cùng tên Bài ký có ba phần Sách giáo khoa trích học phần đầu Với bút ký này, tác giả đã mang đếncho người đọc những cảm nhận thật đầy chất thơ về dòng sông Hương theo dòng chảy của nó từTrường Sơn cho đến khi chảy qua thành phố Huế và xuôi về biển. 

- Đoạn trích: “Từ đây, như đã tìm đúng đường về … vấn vương một nỗi lòng” miêu tả vẻ

đẹp sông Hương khi chảy qua kinh thành Huế

Cảm nhận vẻ đẹp sông Hương qua đoạn trích (2,5 điểm):

Khái quát đoạn trích trước đó: Ở đoạn trích trước đó, qua góc nhìn cổ tích, địa lý, hộihoạ – Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm hiện lên vẻ đẹp của sông Hương đầy sức sống “như

cô gái Di gan phóng khoáng và man dại” bởi những tiết tấu hùng tráng, dữ dội nhưng cũng

có lúc trữ tình say đắm Có lúc sông Hương lại đẹp trinh nguyên giữa cánh đồng Châu Hoáđầy hoa dại Đoạn trích tiếp theo tác giả mang đến hình tượng con sông Hương với mốitình đắm say, chung tình với kinh thành Huế

Vẻ đẹp sông Hương qua đoạn trích:

Không còn vẻ trầm mặc cổ thi, không còn những tiết tấu hùng tráng, không còn những đường cong gợi cảm, sông Hương ở quãng này được tác giả cảm nhận với sắc màu hội họa, sắc màu văn hoá gắn bó với kinh thành Huế.

Bằng ngòi bút hoa mỹ của một cái tôi tài hoa, tác giả đã cảm nhận Sông Hương dưới góc nhìnhội hoạ với sự thay đổi của dòng chảy và tâm trạng của cô gái Hương Giang giàu xúc cảm Chính tiếngchuông chùa Thiên Mụ đánh thức dòng chảy đưa dòng sông từ dáng vẻ trầm mặc đột khởi thành niềmvui Bởi thế mở đầu đoạn trích là hình ảnh ngọc nữ Hương giang với tâm trạng “vui tươi hẳn lên”.Nàng đã nhìn thấy “chiếc cầu trắng in ngấn lên nền trời nhỏ nhắn như những vành trăng non”, và chợtnhận ra đó chính là tín hiệu của người tình nhân mong đợi Trước mắt người đọc bỗng hiện ra bứctranh phong cảnh kinh thành Huế với sắc màu tươi tắn mà thanh thoát, nhẹ nhàng Phải chăng chínhcuộc tình đẹp đã làm cho khung cảnh gặp gỡ của lứa đôi cũng thật nên thơ  Bởi thế dòng chảy củanàng Hương cũng trở nên “thẳng thực yên tâm” chảy nhanh hơn để gặp người tình Con sông vì thế mànhư bỗng có hồn, có tâm trạng, con sông mang cái náo nức, rạo rực, nôn nao, khao khát của một cô gáichuẩn bị gặp người mình yêu Và thế là “nàng công chúa ngủ trong rừng” đã sắp được gặp chànghoàng tử ngàn năm mong chờ thật rồi Thấy mình đã “tìm đúng đường về” thật rồi – sông Hương như

“vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long” Phép nhân hoá kết hợpvới miêu tả trong những câu văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường làm dòng sông hiện lên thật sống động

và gợi cảm biết bao

Đoạn văn tiếp theo, tác giả mang đến ấn tượng thật sâu đậm về hình ảnh của Hương giang đoạn chảy qua thành phố Huế.

 Nếu như trước đó, dòng sông chảy thật nhanh, chạy thật mau trong nỗi niềm háo hức được ôm

chầm lấy người mình yêu thì ở đoạn này sông Hương lại mang một tâm trạng khác, một nét tâm lý

khác: “Giáp thành phố ở cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến; đường cong ấy làm dòng sông như mềm hẳn đi như một tiếng “Vâng” không nói ra của tình yêu”. Phép so sánh mới lạ, độc đáo; cái hữu hình so sánh với tâm trạng nên lột tả được cái e thẹn,

ngượng ngùng, xấu hổ của người con gái Hương Giang Ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường thậtlãng mạn, tài hoa biết bao trong những câu văn đậm chất hội hoạ và am hiểu tâm lý như thế Qua ngòibút tài hoa, tinh tế ấy của nhà văn, sông Hương hiện lên như một thiếu nữ Huế Trong niềm vui hânhoan của hội ngộ mà phải đến “hàng thế kỷ qua đi” nàng mới được gặp người mình yêu, nhưng nàngvẫn không đánh mất vẻ dịu dàng, e lệ, tình tứ vốn có của mình

Trang 4

        Bằng phép so sánh và cái nhìn hướng ngoại, nhà văn đã mở rộng tầm nhìn tới những dòng sôngđẹp của thế giới Đó là những dòng sông nổi tiếng đã đi vào thi ca, nhạc hoạ như sông Xen của Pari,sông Đa-nuýp của Pu-đa-pét hay dòng sông Nê va hùng vĩ của nước Nga Tiếp đến, là cái nhìn hướngnội, tác giả lại quay về với Sông Hương, quay về với dòng sông “nằm ngay giữa lòng thành phố yêuquý của mình” và chợt nhận ra nàng Hương đoạn qua thành phố Huế mang vẻ đẹp không chỉ ngoạihình mà còn đẹp ở tâm hồn thuỷ chung, chung tình với Huế Thầy Phan Danh Hiếu Nhà văn Nga Lê-

ô-nit Lê-ô-nốp từng nói: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” Quả đúng vậy, nếu nhà văn họ Hoàng sử dụng hình thức truyện ngắn hay tiểu thuyết để viết về

sông Hương thì chắc chắn sẽ không bao giờ lột tả hết được sức gợi của nó Thể tuỳ bút đầy ngẫu hứng

có lúc không thể kiềm chế được cảm xúc của nhà văn nhưng chính nó đã mang lại vẻ đẹp lộng lẫy củasông Hương Chính nhờ thể tuỳ bút mà nhà văn đã “khám phá” được gần như đầy đủ nhất tâm hồn sâuthẳm của Hương giang Với cái nhìn hoài cổ kết hợp với cảm nhận tình yêu, nhà văn đã thấu cảm đượcphần hồn sâu lắng của con sông xinh đẹp Từ góc nhìn tình yêu, nhà văn nhìn thấy giữa lòng thànhphố, sông Hương tỏa thành nhiều nhánh sông Đào như những cánh tay mềm mại, ôm ấp lấy người tìnhthủy chung Ở góc nhìn hoài cổ, nhà văn lại thấy sông Hương mang nét đẹp cổ thi đầy lãng mạn với

hình ảnh: “sông Hương toả đi khắp phố thị, với những cây đa cây cừa cổ thụ toả vầng lá u sầm xuống những xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ”. Những hình ảnh ấy làm sông Hương vừa gần gũi đời thường, vừa lại

như xa xăm như trong cõi mênh mang của cổ thi Hình ảnh “xóm thuyền xúm xít”, “ánh lửa…lập loè”,

“đêm sương” lại gợi nhớ “trăng tà chiếc quạ kêu sương”, “giang phong ngư hoả đối sầu miên” trong bài thơ Đường nổi tiếng của Trương Kế – Phong Kiều dạ bạc. Nhưng sông Hương qua thành phố Huế

không chỉ mang những nét hội hoạ cổ thi như thế mà còn là một bản nhạc, một “điệu slow tình cảmdành riêng cho Huế”

      Gặp gỡ người tình thủy chung, có lẽ ai cũng muốn thời gian trôi chậm lại, ngừng lại Sông Hươngcũng vậy, phải trải qua một hành trình gian lao mới gặp được người tình mong đợi nên dòng sông dùngdằng không chảy, lặng lẽ như chờ đợi Vì thế qua Huế, dòng chảy chùng hẳn xuống như “vấn vươngcủa một nỗi lòng” Chính đảo cồn Hến đã làm giảm lưu tốc của dòng sông và tạo cho khuôn mặt dòngsông cơ hồ chỉ là một mặt hồ yên tĩnh Nhà văn đã quan sát tinh tế, bắt đúng thần thái, không khí, linhhồn cố đô: sâu lắng, kín đáo, suy tư Thầy Phan Danh Hiếu Trong sự liên tưởng tới dòng chảy hùng vĩ

của sông Nê Va với hình ảnh giàu chất thơ: “sông Nê va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân” hay sự liên tưởng tới nhà triết học Hê –ra-clít đã

khóc suốt đời vì những dòng sông trôi qua quá nhanh Nhà văn họ Hoàng lại đưa ta trở lại sông Hươngtrong nỗi nhớ da diết, chảy bỏng: “tôi lại nhớ con sông Hương của tôi” Rõ ràng, dù có đi trăm phươngnghìn hướng thì cũng không nơi nào đẹp bằng quê hương, và cũng chẳng có dòng sông nào lại có thểđẹp bằng dòng sông của quê nhà Qua cái nhìn hướng ngoại, lại hướng nội, nhà văn càng thấy điệu

slow của sông Hương thật trữ tình Điệu slow ấy gắn với văn hoá tâm linh của Huế: “có thể cảm nhận bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh từ những đêm hội rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng”. Ngôn ngữ mượt mà, bóng bẩy, những tính từ, động từ mỹ miều kết hợp phép

so sánh trong câu văn trên như tả hết được nét đẹp lãng mạn mà giàu chất thơ, chất hoạ của sôngHương làm cho điệu slow tình cảm ấy lại trở nên có linh hồn Dòng chảy này không chỉ xuất hiện trongcái nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường mà trong cái nhìn của nhà thơ mới Hàn Mặc Tử, sông Hươngcũng trở nên vương vấn:

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

(Đây thôn Vĩ Dạ)Hay trong cái nhìn của một nhà thơ kháng chiến:

Con sông dùng dằng con sông không chảy Nên chảy vào lòng với Huế rất sâu

(Tạm biệt Huế – Thu Bồn)          Chính điệu slow trữ tình như bản tình ca dành riêng cho Huế đã làm cho tấm chung tình củasông Hương với Huế trở nên da diết, đắm say Tình yêu với Huế của sông Hương cũng vì thế mà trởnên rất đỗi sâu nặng

Trang 5

Đoạn văn tiếp theo, sông Hương hiện lên trong cảm nhận của một nhà sáng tác âm nhạc, mộtngười thẩm âm nghệ thuật và tâm trạng sông Hương khi rời xa thành phố Huế để về với biển cả của tổquốc Phần sau đó tác giả cũng nói về sông Hương với mối quan hệ văn hoá, lịch sử và lý giải bằnghuyền thoại về dòng sông Hương thơ mộng.

Đánh giá nội dung, nghệ thuật (0,5 điểm): Đoạn trích sử dụng bút pháp miêu tả, nhâncách hoá, so sánh, liên tưởng độc đáo Ngôn ngữ vừa trí tuệ vừa giàu chất thơ, chất hoạ.Giọng văn mượt mà, truyền cảm Bài ký rất tiêu biểu cho phong cách của Hoàng PhủNgọc Tường: kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắcbén và suy tư đa chiều, lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa… 

Liên hệ với bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) để nhận xét về vẻ đẹp của sông Hương – xứ Huế trong cảm nhận của hai tác giả (0,5 điểm): Ở khổ hai của “Đây thôn

vĩ dạ”, Hàn Mặc Tử cũng đã hoài niệm về một cảnh dòng sông Hương của xứ Huế:

“Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Ẩn sâu bên trong bốn câu thơ là vô cùng những cảm xúc, suy tư của nhà thơ Hai câu thơ đầu,Hàn Mặc Tử đã tả thực vẻ êm đềm, nhịp điệu khoan thai của xứ Huế: có gió, có mây, có hoa, có nước,

có trăng, có thuyền Cảnh đẹp nhưng lại thấp thoáng nỗi buồn của sự chia li Xưa nay mây và gió luôn

là biểu tượng song hành gắn bó nhưng trong thơ của thi sĩ họ Hàn, mây và gió lại tách nhau, hai sự vật

ấy chia làm đôi ngả Dòng nước “buồn thiu” hay tâm trạng người “buồn thiu” Hoa bắp cũng chỉ “lay”,một sự chuyển động khẽ khàng, gợi cái hiu hắt thưa vắng Cảnh vật buồn, lòng người cũng buồn nhưNguyễn Du đã từng nói “Cảnh buồn người có vui đâu bao giờ” Miêu tả hình ảnh sông trăng, conthuyền kì ảo, tác giả đã sử dụng bút pháp tượng trưng để thể hiện khao khát hạnh phúc Câu hỏi “cóchở trăng về kịp tối nay” với nhãn tự “kịp” thể hiện sự mong ngóng, hi vọng và cả những nỗi đauthương tuyệt vọng Bốn câu thơ dưới ngòi bút huyền ảo hóa của Hàn Mặc Tử vừa đẹp, vừa gợi cảmnhưng cũng gợi cảm giác bâng khuâng, xót xa biết bao

Đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường và khổ thơ của thi sĩ họ Hàn vừa có điểm gặp gỡ vừa có nétkhác biệt Nét tương đồng đầu tiên là cả hai nhà thơ đều lấy những địa danh nổi tiếng của xứ Huế là Vĩ

Dạ và sông Hương để làm điểm nhấn và gợi cảm xúc Cả hai tác giả đã cùng tái hiện được vẻ đẹp củađiệu chảy nhẹ nhàng thơ mộng của dòng Hương và đều là những cây bút tài hoa tinh tế, có tâm hồnđắm say với sông Hương, với xứ Huế mộng mơ Điểm khác giữa tay bút kí đại tài và nhà thơ “lạ lùng”nằm ở tâm trạng của họ đối với đối tượng miêu tả Nhìn sông Hương, Hàn Mặc Tử buồn vì phải xacách còn Hoàng Phủ Ngọc Tường thì vui mừng, hân hoan vì được hội ngộ

Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hàn Mặc Tử, mỗi người đã cùng góp một trang văn, một câu thơ thậthay về đề tài sông Hương của xứ Huế Nhờ có những người nghệ sĩ tài hoa cùng tâm hồn lãng mạngphong phú, yêu Hương giang, yêu Huế thì những bài kí, những bài thơ đậm chất trữ tình ấy mới đếnđược và giữ được cảm tình của bạn đọc muôn thời

1. Chính tả, ngữ pháp (0,25 điểm): Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu

e Sáng tạo: (0,25 điểm) Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề

nghị luận

-ĐỀ 2 I.ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Những tình yêu thật thường không ồn ào chúng tôi hiểu đất nước đang hồi khốc liệt chúng tôi hiểu điều ấy bằng mọi giác quan bằng chén cơm ăn mắm ruốc

bằng giấc ngủ bị cắt ngang cắt dọc bằng những nắm đất mọc theo đường hành quân

có những thằng con trai mười tám tuổi

Trang 6

chưa từng biết nụ hôn người con gái chưa từng biết những lo toan phức tạp của đời câu nói đượm nhiều hơi sách vở

khi nằm xuống trong đáy mắt vô tư còn đọng một khoảng trời hạnh phúc nào cho tôi

hạnh phúc nào cho anh hạnh phúc nào cho chúng ta hạnh phúc nào cho đất nước

có những thằng con trai mười tám tuổi nhiều khi cực quá, khóc ào

nhiều lúc tức mình chửi bâng quơ phanh ngực áo và mở trần bản chất mỉm cười trước những lời lẽ quá to nhưng nhất định không bao giờ bỏ cuộc.

(Trích Thử nói về hạnh phúc – Thanh Thảo, Thơ hay Việt Nam thế kỷ XX,

NXB Văn hóa Thông tin, 2006)

Câu 1 Xác định thể thơ của đoạn trích trên (0,5 điểm)

Câu 2 Hãy chỉ ra những khó khăn của đất nước trong hồi khốc liệt được nhắc đến trong đoạn

trích trên (0,75 điểm)

Câu 3 Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về những trăn trở của tác giả: hạnh phúc nào

cho tôi/hạnh phúc nào cho anh/hạnh phúc nào cho chúng ta/hạnh phúc nào cho đất nước (0,75 điểm)

Câu 4 Anh/chị có đồng ý với quan điểm Những tình yêu thật thường không ồn ào không? Vì

sao? (1,0 điểm)

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ ý nghĩa của văn bản trong phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng

200 chữ) để trả lời cho câu hỏi: theo quan niệm của bản thân thế nào là hạnh phúc?

Câu 2 (5,0 điểm)

 Trong bài bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhiều lần

ví von vẻ đẹp sông Hương:

Lúc ở thượng nguồn: “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lý giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.”

Khi về ngoại vi thành phố Huế: “Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới gặp thành phố tương lai của nó.”

Và khi tạm biệt kinh thành Huế: sông Hương “như sực nhớ ra một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người ở đây; và để nhân cách hóa nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả…”

(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr198-201)

Phân tích vẻ đẹp hình tượng sông Hương trong những lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật nét tàihoa trong phong cách kí Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trang 7

2 - Những khó khăn được nhắc tới: chén cơm mắm ruốc (sinh hoạt

đạm bạc), giấc ngủ bị cắt ngang cắt dọc (bom đạn khốc liệt), nắm đất mọc theo đường hành quân (chết chóc, hy sinh).

0,75đ

3 - Sự trăn trở, nghĩ suy của người lính trẻ về hạnh phúc của mỗi

cá nhân, của mọi người và của đất nước

- Thể hiện tinh thần trách nhiệm của công dân trước vận mệnhcủa dân tộc

0,75đ

4 - Nêu rõ quan điểm bản thân: đồng tình hay không đồng tình Lí

giải hợp lí, thuyết phục

+ Đồng tình: Những tình yêu thật thường không ồn ào là cách thể

hiện tình yêu chân thành, giản dị bằng hành động cụ thể, giảnđơn mà ý nghĩa Những tình cảm chân thật không nhất thiết phảinói ra bằng lời hoa mĩ hay thể hiện bằng hành động khoa trương

+ Không đồng tình: Trong một số trường hợp đặc biệt, tình cảmlớn lao cũng cần được thể hiện bằng hành động phi thường cótầm ảnh hưởng và sức lan tỏa trong xã hội

+ Vừa đồng tình, vừa không đồng tình: kết hợp cả hai ý trên

1,0đ

Câu 1 “Nói về hạnh phúc” theo quan niệm của bản thân (2,0 điểm)

a Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn

Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp,tổng phân hợp, móc xích hoặc song hành

0,25đ

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Nói về hạnh phúc theo quan niệm của bản thân 0,25đ

c Triển khai vấn đề nghị luận

Học sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn

đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ, nói về hạnhphúc theo quan niệm của bản thân Có thể theo hướng sau:

- Hạnh phúc là trạng thái thỏa nguyện của con người khi đạt được điều

gì đó

- Quan niệm về hạnh phúc là: sự chia sẻ về vật chất hoặc tinh thần; sựcống hiến, hi sinh; cũng có thể là sự hưởng thụ vật chất hoặc đón nhậntình cảm từ người khác; có thể là hạnh phúc trong khoảnh khắc hayhạnh phúc dài lâu…

- Hạnh phúc sẽ khiến cuộc sống tốt đẹp hơn, con người sống nhânvăn, nhân ái hơn

- Quan niệm về hạnh phúc của mỗi người, mỗi thời không giống nhaunên hạnh phúc hay không là do chính chúng ta cảm nhận và tạo ra

1,0đ

d Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt 0,25đ

e Sáng tạo

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện sâu sắc về vấn đề nghị luận 0,25đ

Câu 2 Phân tích vẻ đẹp hình tượng sông Hương trong đoạn văn, từ

đó làm nổi bật nét tài hoa trong phong cách kí Hoàng Phủ Ngọc Tường (5,0 điểm)

a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề nghị luận; Thân bài triển khai được vấn 0,25đ

Trang 8

đề; Kết bài khái quát được vấn đề.

b Xác định đúng vấn đề nghị luận

- Vẻ đẹp sông Hương qua đoạn trích

- Nét tài hoa trong phong cách kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường

0,5đ

c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng

tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn

chứng; đảm bảo các yêu cầu sau:

*Giới thiệu về khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và

*Cảm nhận được vẻ đẹp sông Hương qua ba lần miêu tả:

– Vẻ đẹp sông Hương trong quan hệ với cảnh sắc thiên nhiên xứ

Huế mang những nét đặc trưng của con người và cảnh vật nơi

đây:

+ sông Hương ở thượng nguồn nguyên sơ, man dại, mãnh liệt và

đầy quyến rũ (cô gái Di- gan) nhưng cũng hết sức dịu dàng và trí

tuệ bởi chiều sâu nhân cách của một dòng sông lặng lẽ bồi đắp

“phù sa” cho văn hóa Huế, góp phần tạo nên và bảo tồn văn hóa

của thiên nhiên xứ sở

+ sông Hương ở ngoại vi thành phố mềm mại, đương thì xuân

sắc với những đường cong gợi cảm và tuyệt mĩ

+ sông Hương lúc tạm biệt kinh thành với khúc rẽ ngoặt độc đáo,

được khám phá ở chiều sâu tính cách lãng mạn, đa cảm và chung

tình

– Hành trình sông Hương từ thượng nguồn về đến ngoại vi và

thành phố Huế là hành trình đầy gian truân và thử thách, từ đó

làm nổi bật diện mạo xinh đẹp, dịu dàng và tính cách thủy chung,

thâm trầm của dòng sông;

– Vẻ đẹp sông Hương thể hiện niềm yêu da diết, niềm tự hào và

kiêu hãnh của tác giả về con sông quê hương nói riêng và xứ

Huế nói chung

2,0đ

* Làm nổi bật nét tài hoa phong cách kí Hoàng Phủ Ngọc

Tường:

– Vốn ngôn từ đẹp, tao nhã, tinh tế, lịch lãm; những ví von, so

sánh nhân hóa giàu chất thơ, chất nhạc, chất họa và chất suy

cảm, hướng nội đã làm nên nét thanh tao rất riêng trong chất kí

HPNT; sự quan sát và tưởng tượng bằng lăng kính của tình yêu

và cái nhìn lãng mạn đã làm nên chất trữ tình riêng của kí HPNT;

– Giọng điệu rất Huế, rất trữ tình và sâu lắng, đầy suy niệm

Trang 9

I ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản:

THƯA THẦY

Trước ngọn thước là con đường xa tắp

Bông hoa nào cũng vẻ bình yên

Và em tin, qua cay đắng vẫn tin

Những ngọn suối không làm tan bóng lá

Đã vấp ngã

thưa thầy

nhiều vấp ngã!

Chẳng ở đâu xa, ở ngay giữa con người

Em bước đi lặng lẽ nghĩ về thầy

Đời mau quá, vui buồn chưa kịp cũ

Đời mau quá, tóc thầy khói phủ

Giáo án mong manh bão giật đời thường

Cây trước cửa gió ở ngoài trang vở

Thầy một mình vật vã với văn chương

Đang mưa bão đường về sông nước ngập

Giở trang Kiều thầy giảng chạnh lòng đau.

(Hữu Thỉnh, Thương lượng với thời gian, NXB Hội nhà văn, 2005)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1 Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ sau:

Em bước đi lặng lẽ nghĩ về thầy Đời mau quá, vui buồn chưa kịp cũ Đời mau quá, tóc thầy khói phủ Giáo án mong manh bão giật đời thường

Câu 3 Trình bày suy nghĩ của anh/chị về hai dòng thơ sau:

Và em tin, qua cay đắng vẫn tin Những ngọn suối không làm tan bóng lá.

Câu 4: Anh/Chị hãy nhận xét về tình cảm của người học trò đối với thầy giáo được thể hiện trong văn

bản trên

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung văn bản ở phần Đọc - hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy

nghĩ của anh/chị về vấn đề: Bài học trong trang vở là bài học từ cuộc đời.

Câu 2 (5,0 điểm)

Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhán như những vành trăng non Giáp mật thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Con Hến: đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pé; sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị

cổ, trải dọc hai bờ sông Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả đi khắp phố thị, với những cây đa, cây cừa cổ thụ toả vầng lá u sầm xuống những xóm thuyển xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập loè trong đêm sương những ảnh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi qua thành phố đã

Trang 10

trôi hån đi chậm, thực chậm, cơ hồ chi còn là một mặt hồ yên tĩnh Tôi đã đến Lê-nin-grát, có lúc đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân; mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng; và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tích Tôi vừatừ trong khói lửa miền Nam đến đây, lâu năm xa Huế, và chính Lê-nin-grát đã đánh thức trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuoi dại;ôi, tôi muốn hoá làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thuỷ tinh để đi ra biển Tôi cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hê-ra-clít, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi quá nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận đượcbằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trói về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.

Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiến trăng sầu Và

từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều: “Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời” Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn

Du mà thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh!”.

(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một,

NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.198-199)

Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về tình cảm của Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho xứ Huế.

-Chỉ ra từ ngữ tu từ (0,25đ): Đời mau quá/ Đời mau quá,…/ khói phủ/

Giáo án mong manh bão giật đời thường.

-Nêu được tác dụng (0,5đ)+ Điệp ngữ: mở rộng nghĩa (sự giật mình thảng thốt đầy tính chiêmnghiệm, triết lý về sự trôi chảy của thời gian), gây ấn tượng mạnh, tạonên tính cân đối, giàu nhạc điệu và sức biểu cảm cho đoạn thơ

+ Ẩn dụ làm cho lời thơ sinh động, gợi hình, tăng sức biểu cảm, in đậmtình cảm của người học trò với thầy của mình

+ Tương phản vừa làm nổi bật công việc vất vả của người thầy trướccuộc sống gian nan, vừa giúp cho việc miêu tả thêm sâu sắc và biểucảm

0,75

3

Trước những khó khăn, thử thách, ta luôn giữ vững niềm tin vào nhữngđiều đúng đắn Vì những gì thuộc về lẽ phải, về chân lí sẽ không baogiờ biến mất dù có phải trải qua nhiều gian khó

Lưu ý: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo nội dung và lí giải hợp lí.

0,75

4 - Bày tỏ quan điểm của bản thân Lí giải hợp lí, thuyết phục 1.0

Trang 11

- Khẳng định tình cảm đó mãi vẹn nguyên dù qua bao nhiêu thay đổi

của cuộc đời

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Từ nội dung văn bản ở phần Đọc - hiểu, hãy viết một đoạn văn

(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: Bài học trong trang vở là bài học từ cuộc đời.

2.0

a Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng –

phân – hợp, móc xích hoặc song hành

0.25

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Ý nghĩa của việc con người cần sống một đời đầy màu sắc 0.25

c Triển khai vấn đề cần nghị luận

Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách Một số gợi ý:

- Giải thích:Bài học từ trang vở (bài học trong nhà trường), cũng là

bài học từ cuộc sống, từ trải nghiệm trong trường đời

- Phân tích (học sinh chỉ cần chọn 1 hoặc 2 ý để bàn luận)

+Bài học từ những tri thức, kỹ năng được học ở trường được vận dụng

trong cuộc sống

+ Bài học đối nhân xử thế để trau dồi đạo đức, hoàn thiện nhân cách

+ Bài học từ trang Kiều để thấy biết yêu thương, cảm thông, chia sẻ

trước những mảnh đời bất hạnh

+ Bài học cuộc đời là những ngã rẽ quanh co khiến con người khi vấp

ngã phải biết đứng lên

- Liên hệ: Trang vở là trang đời, nên học cần gắn lý thuyết với thực

hành, quan sát và trải nghiệm

2 Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó,

nhận xét về tình cảm của Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho xứ

Huế.

5.0

a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề; Kết bài khái

quát được vấn đề

0.25

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

- Hình tượng sông Hương trong đoạn trích: Sông Hương trong không

gian kinh thành Huế

- Nhận xét tình cảm của tác giả dành cho xứ Huế

0.5

c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận

Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các

thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảonhững yêu cầu sau:

* Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác phẩm

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, đoạn trích và vấn đề cần nghị luận 0.5

Trang 12

* Phân tích hình tượng sông Hương trong không gian kinh thành Huế

Bắt đầu đi vào thành phố - Sông Hương vui tươi và duyên dáng:

- Tâm trạng vui tươi của dòng sông từ khi gặp tiếng chuông chùa Thiên

Mụ đến đây càng rõ hơn khi đã nhận ra những dấu hiệu của thành phố

- Dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng vâng không nói ra của tình

yêu

Trong lòng thành phố - Sông Hương được so sánh với điệu slow

tình cảm dành riêng cho Huế:

- Nhà văn đã rất tinh tế khi nhận ra đặc điểm riêng của sông Hương là

lưu tốc rất chậm “cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”

- Đặc điểm ấy được nhà văn lí giải từ nhiều góc nhìn khác nhau:

+ Từ đặc điểm địa lí tự nhiên: những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo

nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước

+ Từ lí lẽ của trái tim thì “điệu chảy lặng lờ”, “ngập ngừng muốn đi

muốn ở” của sông Hương là do tình cảm dành riêng cho Huế, do quá

yêu thành phố của mình, do muốn được nhìn ngắm nhiều hơn nữa

thành phố thân thương trước khi phải rời xa

Sông Hương được nhìn từ góc độ âm nhạc:

- So sánh, liên tưởng thú vị: người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya…

- Toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành trên mặt nước

sông Hương…

* Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho Huế

- Ở HPNT, tình yêu dành cho Huế gắn với tình yêu thiên nhiên, con

người và truyền thống văn hóa sâu sắc

- Tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông thể hiện lòng yêu nước, tinh

thần dân tộc gắn liền với tình yêu dành cho sông Hương và con người

nơi đây, gắn liền với truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời của xứ Huế

Tất cả được HPNT truyền tải bằng một ngòi bút tài hoa, đậm chất trữ

tình trí tuệ cùng vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về xứ Huế

2.0

0.5

* Đánh giá

- Sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về kiến thức địa lý,

lịch sử, văn hoá nghệ thuật và những trải nghiệm của bản thân

- Ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, giàu

chất thơ, sử dụng nhiều phép tu tư như : So sánh, nhân hoá, ẩn dụ,…

- Có sự kết hợp hài hoà cảm xúc, trí tuệ, chủ quan và khách quan

Trang 13

Dẫu đêm nay ngọn gió mùa hè Còn bề bộn một vùng gạch ngói Lịch sử quay những vòng xoáy gian nan Đất nước tôi như một con thuyền

Lướt trên sóng những ngực buồm trắng xoá.

Ước chi được hoá thành ngọn gió

Để được ôm trọn vẹn nước non này

Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá

Để mát rượi những mái nhà nắng lửa

Để luôn luôn được trở lại với đời…

(Trích Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Lưu  Quang Vũ, Tinh hoa thơ Viêt, NXB Hội nhà văn, 2007, tr

313,317)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Chỉ ra và nêu hiệu quả của phép điệp được sử dụng trong đoạn thơ:

Ước chi được hoá thành ngọn gió

Để được ôm trọn vẹn nước non này

Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá

Để mát rượi những mái nhà nắng lửa

Để luôn luôn được trở lại với đời…

Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung của các dòng thơ: Đất nước tôi như một con thuyền/ Lướt trên

sóng những ngực buồm trắng xoá?

Câu 4. Qua đoạn trích, anh/chị có cảm nhận gì về vẻ đẹp của non sông đất nước?

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước

Câu 2 (5,0 điểm)

Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu

lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh Người đàn bà đi sau hắn chừng ba bốn bước Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt Thị có vẻ rón rén, e thẹn Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội chạy ra đón xem Sợ chúng nó đùa như ngày trước, Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc đầu ra hiệu không bằng lòng.

Mấy đứa trẻ đứng dừng lại, nhìn Tràng, đột nhiên có đứa gào lên:

– Anh Tràng ơi! – Tràng quay đầu lại Nó lại cong cổ gào lên lần nữa – Chông vợ hài.

Tràng bật cười:

– Bố ranh!

Người đàn bà có vẻ khó chịu lắm Thị nhíu đôi lông mày lại, đưa tay lên xóc xóc lại tà áo Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút Từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết.

Ngày đăng: 06/11/2022, 17:22

w