Hai chữ “nửa” trong một câu thơ như nhát dao cắt lòng Kiều: “nửa tình” là nỗi đau tình yêu bị chia cắt, tình cốt nhục bị lìa xa; “nửa cảnh” là nỗi đau cảnh ngộ bản thân và khung cảnh trư
Trang 1Đề bài:
Phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” của Nguyễn Du.
Bài làm:
“Trải qua một cuộc bể dâu Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình Nổi chìm kiếp sống lênh đênh
Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều!”
Truyện Kiều là tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Du và Thúy Kiều là nhân vật mà Nguyễn Du yêu quý nhất Từ một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, sống trong cảnh “Êm đềm trướng rủ màn che” Kiều đã trở thành một món hàng trong tay Mã Giám Sinh rồi bị đẩy tới lầu Ngưng Bích sống trong cảnh:
“Bốn phương mây trắng một màu Trông trời phố quốc biết đâu là nhà.”
Ở nơi lầu Ngưng Bích, Kiều phải đối diện với thiên nhiên, đối diện với chính mình Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là những đặc sắc của bi kịch nội tâm trong suốt chặng đường số phận của Kiều, là bức tranh tâm tình đầy xúc động thể hiên tài hoa sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình điêu luyện của nhà thơ
Đoạn trích gồm 22 câu (từ câu 1033 đến câu 1054), nằm ở phần 2 của Truyện Kiều: “Gia biến và lưu lạc” Gặp Tú Bà biết rõ mình bị mắc lừa, đưa vào lầu xanh, Kiều đã tự sát Tú Bà sợ mất món hàng béo bở, mụ dỗ dành Kiều, đưa nàng ra ở lầu Ngưng Bích nói chăm lo thuốc thảng rồi sẽ tìm nơi xứng đáng gả chồng cho nàng, kì thực là giam lỏng nàng đợi thực hiện mưu ma chước quỷ, buộc nàng phải tiếp khách ở lầu xanh kiếm lời cho mụ
Thực chất Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích như một thiếu nữ bị cấm cung, 2 chữ “khóa xuân” nói lên điều đó
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông
Trang 2Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Quá khứ của nàng là bao nỗi đớn đau tủi nhục Hiện tại tha hương và cô đơn còn tương lai thì mờ mịt, hiểm nguy chưa biết sẽ ra sao Nguyễn Du đã đặt Kiều trong cảnh ngộ ấy để nàng tự bộc lộ tâm trạng của mình Đó là một tâm trạng cô đơn, trơ trọi giữa một khung cảnh thiên nhiên mênh mông, vắng lặng: “bốn bề bát ngát” Từ lầu Ngưng Bích, ngước mắt xa trông, nàng chỉ thấy “vẻ non xa” và “tấm trăng gần” ở chung Nhìn xuống mặt đất thì cảnh vật: bên là “cát vàng cồn nọ” như sóng lượn nhấp nhô, bên là “bụi hồng dặm kia” trải khắp xa Cách nói đảo ngữ và dùng hàng loạt các chỉ từ “nọ”, “kia” trong 1 phép liệt kê như làm tăng cái rợn ngợp của cảnh vật Cảnh thì thoáng đãng nhưng lầu Ngưng Bích dường như trơ trọi Đây có thể là cảnh thực cũng mang tích chất ước lệ, gợi sự mệnh mông, miên man, trống vắng để diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
Từ láy “bẽ bàng” được đẩy lên đầu câu như chạm, như khắc nỗi cô đơn, tủi nhục của Kiều Hơn nữa tâm trạng ấy choáng ngợp, bủa vây Kiều trong một thời gian tuần hoàn khép kín “mây sớm đèn khuya” Thời gian cũng như không gian giam hãm con người ta: “sớm” và “khuya”, ngày và đêm Kiều thui thủi một thân chốn quê người, xứ lạ chỉ còn biết bầu bạn với “mây”, với “đèn” Con người rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” Hai chữ
“nửa” trong một câu thơ như nhát dao cắt lòng Kiều: “nửa tình” là nỗi đau tình yêu
bị chia cắt, tình cốt nhục bị lìa xa; “nửa cảnh” là nỗi đau cảnh ngộ bản thân và khung cảnh trước lầu Ngưng Bích Những nối đau đó dồn tới lớp lớp khiến lòng Kiều đau đớn, nát tan
Trong cảnh ngộ một mình bơ vơ nơi chân trời góc bể, cô đơn tuyệt đối, Kiều càng nhớ những người thân yêu
Nỗi nhớ đầu là nỗi nhớ chàng Kim – nhớ người thương:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”
Đặt nỗi nhớ người thương, người yêu lên đầu, Kiều đã không giấu giếm nỗi nhớ da diết mãnh liệt của mình với Kim Trọng Hơn nữa, điều này phù hợp với quy luật tâm lí và thể hiện ngòi bút tinh tế của ngòi bút nhân đao Nguyễn Du Kiều đã
bị Mã Giám Sinh làm nhục, nàng đang bị ép tiếp khách làng chơi nên nỗi đau lớn nhất của Kiều lúc này là “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”, còn với cha mẹ ít nhiều nàng cũng đã báo hiếu được bang hành động “bán mình” Nhớ người yêu là nàng nhớ tới lời hẹn ước hôm nào dưới trăng hai người cùng uống chén rượi thề nguyền son sắt, một lòng cùng nhau đi đến trọn đời Vậy mà, giờ đây, mỗi người
Trang 3mỗi ngả chia xa Kiều xót xa, ân hận như một kẻ phụ tình Nàng tưởng tượng Kim Trọng vẫn không hay biết gì, vẫn ngày đêm thương nhớ về mình, đau đáu chờ tin
mà uổng công vô ích
Câu thơ “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” có thể hiểu là tấm lòng son sắt, nối nhớ thương chàng Kim sẽ không bao giờ phôi phai hoặc có thể hiểu là tấm lòng son cuat Kiều đã bị dập vùi, hoen ố biết bao giờ mới gột rửa trong sạch cho được nữa Hiểu theo cách nào cũng thấy tấm lòng thủy chung, vị tha của Kiều Càng nhớ người yêu, Kiều càng thấm thía tình cảnh bơ vơ, trống trải của ình, càng nuối tiếc những kỉ niêm đẹp đẽ ủa mối tình đầu trong sáng, càng ý thức sâu sắc rằng chẳng bao giờ có thể “gột rửa” được tấm lòng thủy chung son sắt với chàng Kim
Tiếp đó, Kiều xót xa, nhớ thương cha mẹ:
“Xót người tựa cửa hôm mai Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân lai biết mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”
Nàng hình dung cha mẹ vẫn sớm hôm tựa cửa ngóng trông tin tức nàng Nàng xót xa, thương da diết và day dứt khôn nguôi về nỗi ai sẽ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ trong những ngày “Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?” Thành ngữ
“quạt nồng ấp lạnh” và điển cố “Sân lai gốc tử” đều nói lên tấm lòng hiếu thảo của Kiều Nàng tưởng tượng nơi quê nhà, tất cả đã thay đổi: gốc tử đã vừa người ôm, cha mẹ ngày một già yếu Cụm từ “cách mấy nắng mưa” vừa nói được sự xa cách bao mùa mưa nắng, vừa gơi về sự tàn phá của thời gian, của nắng, mưa đối với cảnh vật, với con người Nhớ cha mẹ, Kiều luôn ân hận, day dứt vì mình đã phụ công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ
Nỗi nhớ người yêu, người thân của Kiều được diễn tả qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm nên càng chân thực và sinh động qua ngôn ngữ, nỗi nhớ thương như
tự nên tiếng Hoàn cảnh của Kiều lúc này thật đau buồn, thật bất hạnh nhưng trái tim của nàng vẫn tràn đầy tình yêu thương, nhân hậu, vị tha Nàng là người tình thủy chung, người con hiếu thảo, người có tấm lòng nhân ái đáng trân trọng
Nỗi nhớ thương cồn lên da diết, càng nhớ càng đau đớn và Kiều quay trở về với thực tại của chính mình với cái nhìn trải ra khắp cảnh vật xung quanh Tám câu thơ cuối là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc, là thực cảnh mà cũng là tâm cảnh Mỗi cảnh khơi gợi ở Kiều những nỗi buồn riêng với những lí lẽ do buồn khác nhau
để rồi tình buồn tác động lại cảnh khiến cảnh mỗi lúc một buồn hơn và nỗi buồn ngày một ghê gớm mãnh liệt hơn Tám câu thơ tạo thành một bộ tứ bình cảnh – sắc – tâm – cảnh đặc sắc Mỗi cặp lục bát làm thành một cảnh
Cảnh đầu tiên là bức tranh chiều hôm nhớ nhà:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”
Ở bức tranh này, không gian mênh mông của cửa bể và thời gian của chiều
tà muôn thuở gợi nhớ, gợi buồn Giữa khung cảnh thiên nhiên ấy chỉ có một con
Trang 4thuyền vô định và hữu hạn với cánh buồm thấp thoáng xa xa như một ảo ảnh Cảnh
ấy gợi trong lòng người lưu lạc nỗi cô đơn, nỗi buồn nhớ da diết về cha mẹ, về quê nhà xa cách, gợi nỗi khao khát sum họp Đại từ “ai’ phiếm chỉ, câu thơ là 1 câu hỏi
tu từ ngân lên như một niềm khao khát, hoài vọng, ngóng trông
Lòng đã buồn, cảnh lại buồn thêm, cái nhìn của Kiều hướng về không gian gần hơn:
Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?”
Hình ảnh cánh hoa trôi giữa dòng nước mang ý nghĩa ẩn dụ cho thân phận nổi lênh trôi dạt Nhìn cảnh đó, Kiều lại buồn cho thân phận trôi nổi, vô định, không biết sẽ trôi dạt, bị dập vùi ra sao, lại xót xa cho duyên phận của mình Câu hỏi tu từ một lần nữa được đặt ra là những nỗi băn khoăn, thấp thỏm, một niềm tự thương, một tiếng than của nàng
Kiều tìm đến thiên nhiên mong sao vơi bớt mối sầu chất chứa ở trong lòng nhưng nàng càng nhìn thì tâm trạng lại càng rối bời Mặt nước gợi sự lạnh lẽo, bất định, chảy trôi nên cảnh tiếp theo Kiều tìm về với bờ cỏ xanh, với mặt đất:
“Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.”
Cả một nội cỏ trải ra mênh mang nhưng khác hẳn có trọng ngày thanh minh non tơ giàu sức sống: “xanh tận chân trời” Ở đây là thứ cỏ rầu rầu, từ láy
“rầu rầu” rất có giá trị biểu cảm khiến người đọc hình dung ra một không gian có vàng úa, héo tàn, buồn bã cùng màu xanh nhàn nhạt trải dài từ mặt đất tới chân mây càng khiến Kiều thêm chán ngán, vô vọng vì cuộc sống vì cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnh này không biết kéo dài tới bao giờ Cảnh mịt mờ như tương lai mờ mịt
Nàng Kiều cảm thấy cần tiếng vọng của sự sống nhưng để rồi đáp lại nàng chỉ có những thanh âm hào hùng của thiên nhiên ở cảnh cuối cùng:
“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ấm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Chiều đã muộn, màu sắc như tối lại, cảnh không hiện rõ nữa, âm thanh dội lên mạnh hơn Một cơn gió cuốn trên mặt duềnh làm cho tiếng sóng bỗng nổi lên
ầm ầm như bủa vây quanh ghế Kiều ngồi Tiếng sóng “kêu” như báo trước sóng gió dữ dội của cuộc đời hay cũng là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ kinh hãi như đang đứng trước sóng gió, bão táp của cuộc đời sắp dội xuống đầu nàng Sóng gió ở đây là những ẩn dụ chỉ những tai ương đang dồn dập truy đuổi và đã tới rất gần
Thiên nhiên hiện lên chân thực, sinh động nhưng cũng đầy biểu tượng Đó là cảnh đươc nhìn qua tâm trạng theo quy luật được Nguyễn Du khẳng định:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.”
Trang 5Cảnh được nhìn từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ dồn thành bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều Toàn là hình ảnh vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội Lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất, vì thế nàng dễ mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”
Bốn cặp lục bát được liên kết bởi điệp ngữ “buồn trông” “Buồn trông” nghĩa là buồn mà nhìn xa, mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm đổi thay hiện tại nhưng trông mà vô vọng Nó có cái thảng thốt, lo âu, có cái xa lạ, cuốn hút tầm nhìn của người con gái ngây thơ lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang trái, có
cả dự cảm hãi hùng Điệp ngữ “buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau nó diễn tả nỗi buồn ngày một tăng với những sắc độ khác nhau Điệp ngữ “buồn trông” kết hợp với các từ láy: “thấp thoáng”, “xa xa”, “man mác”, “rầu rầu”, “xanh xanh”, “ầm ầm” tạo lên sự điệp nhịp diễn tả nỗi buồn ngày một tăng dần lên lớp lớp như những cơn sóng lòng đang dồn dập trong tâm một nỗi buồn vô tận Điệp ngữ “buồn trông” tạo âm hưởng trầm buồn trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng
là điệp khúc của tâm trạng, của khúc ca buồn thảm trong lòng Kiều
Để thể hiện tâm trạng phức tạp, một nỗi buồn ôm trọn ba nỗi buồn (buồn nhớ người yêu, buồn thương cha mẹ, buồn cho chinh mình) của Kiều, Nguyễn Du chọn cách thể hiện “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” tạo nên một đoạn thơ tuyệt bút khắc họa hình tượng Thúy Kiều với thế giới nội tâm sâu thẳm và đầy bi kịch trên một chặng đường của số phận nàng Qua đó, bộc lộ vẻ đep tâm hồn đáng quý của Kiều
Kiều ở lầu Ngưng Bích“ là một trong những đoạn miêu tả nội tâm nhân vật thành công nhất trong “Truyện Kiều”, đặc biệt là bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình Đoạn thơ cho ta thấy cảnh cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều Đoạn thơ thể hiện cảm hứng nhân văn sau sắc của tác giả, nước mắt của nhà thơ và nước mắt của nàng Kiều như hòa đượm, thấm ướt cả trang văn Quả đúng là:
“Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều!”