1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử Việt Nam: Một số chuyên đề (Tập 3) - Phần 2

257 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 257
Dung lượng 11,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 của cuốn sách Lịch sử Việt Nam: Một số chuyên đề (Tập 3) tiếp tục cung cấp cho bạn đọc những nội dung về: ngoại giao Việt Nam từ 1945 đến nay; giáo dục cách mạng ở vùng căn cứ địa Thủ Dầu Một - Bình Dương 1945-1975; văn hóa tộc người ở Việt Nam; đặc trưng tín ngưỡng tôn giáo của cư dân Nam bộ; các dân tộc ít người bản địa ở Đông Nam bộ;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

NGOẠI GIAO VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY

Trần Nam Tiến (*)

Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa gồm 15 bộ, trong đĩ cĩ Bộ Ngoại giao do Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Bộ trưởng

Từ đĩ, ngày 28/8 hàng năm trở thành ngày truyền thống của ngành Ngoại giao Việt Nam Ngoại giao Việt Nam là một mặt trận quan trọng phối hợp nhịp nhàng với mặc trận quân sự và chính trị nhằm thực hiện

sứ mệnh cao cả nhất của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam hịa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh Với sự phối hợp nhịp nhàng, mặt trận ngoại giao khơng những đã hỗ trợ đắc lực cho mặt trận quân sự và chính trị mà cịn tạo ra những điều kiện quốc tế thuận lợi để đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên, giành nhiều thắng lợi quan trọng Trong suốt quá trình đĩ, ngoại giao Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách, thơng qua đấu tranh để tự hồn thiện và trưởng thành, tạo nên một nền ngoại giao riêng, đầy bản sắc của Việt Nam, vừa kế thừa truyền thống dân tộc, vừa hấp thu tinh hoa của ngoại giao thế giới

1 NGOẠI GIAO VIỆT NAM THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 – 1954)

1.1 Thời kỳ 1945 – 1946

Sau ngày Độc lập (2/9/1945), nước Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới Tuy nhiên, đây là thời kỳ hết sức khĩ khăn, phức tạp, cĩ lúc vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tĩc” Sau khi ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa chưa được nước nào cơng

(

*) Phĩ giáo sư ‒ Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Trang 2

nhận, chưa có đồng minh; kinh tế đất nước những năm đầu hầu như không có gì; lực lượng quân sự mới được xây dựng phải đối phó cùng lúc với mấy chục vạn quân nước ngoài bao gồm cả Pháp, Anh, Tưởng (Trung Hoa Dân quốc) đang lăm le tiêu diệt chính quyền cách mạng còn non trẻ Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp dưới sự bảo trợ của quân Anh đã chính thức nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và các tỉnh thành ở Nam Bộ nhằm xâm lược Việt Nam một lần nữa Trong bối cảnh đó, ngoại giao được xem là một công tác hết sức trọng yếu, là vũ khí của cách mạng để chèo lái con thuyền Việt Nam vượt qua cơn thử thách Ngày 3/10/1945, Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời đã ra thông cáo về chính sách đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẳng định mục tiêu phấn đấu cho nền độc lập “hoàn toàn và vĩnh viễn” của Việt Nam, hợp tác thân thiện với các nước đồng minh và các dân tộc láng giềng1 Nhiệm vụ chiến lược đặt ra cho ngoại giao lúc bấy giờ là: Khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ địch để ta có thể tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu và lâu dài; Có sách lược đấu tranh với kẻ thù chủ yếu để tranh thủ thời gian, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài; Từng bước tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè, tìm kiếm đồng minh, nhằm thoát dần thế bị bao vây, cô lập, tiến tới tranh thủ sự công nhận của thế giới đối với Nhà nước non trẻ

Đối với các nước trong phe Đồng Minh chống phát xít, Việt Nam thể hiện tinh thần thân thiện và hợp tác trên lập trường bình đẳng tương ái” Ngày 22/10/1945, với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao, Hồ Chủ tịch gửi thư cho Ngoại trưởng Hoa Kỳ nêu bốn đề nghị cụ thể: “1–Vấn đề liên quan đến Việt Nam phải đuợc thảo luận tại cuộc họp đầu tiên của Hội đồng cố vấn về Viễn Đông 2– Đoàn đại biểu Việt Nam phải được phép phát biểu quan điểm của Chính phủ Việt Nam 3–Một

ủy ban điều tra phải được cử đến Việt Nam 4– Nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam phải được Liên Hiệp Quốc công nhận”2 Sau đó thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần gửi điện, thư, công hàm tới Chính phủ Liên Xô, Hoa

1 Vũ Dương Huân, “Thông cáo 3/10/1945 về chính sách ngoại giao: Văn kiện ngoại

giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số

39, 2008, tr 17 – 21

2 Trần Hữu Đính – Lê Trung Dũng, Quan hệ Việt – Mỹ trong Cách mạng Tháng

Tám, NXB Khoa học Xã hội, 1997, tr 118

Trang 3

Kỳ, Trung Quốc (Quốc Dân Đảng) là những nước lớn trong phe Đồng Minh khi đó, đề nghị thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam và công nhận nền độc lập của Việt Nam Cụ thể, ngày 16/2/1946, Hồ Chủ tịch đã gởi điện cho Tổng thống Mỹ Harry Truman “Yêu cầu nước Mỹ với tư cách là người bảo vệ và là nhà quán quân của công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định trong sự ủng hộ nền độc lập của Việt Nam”1 Tuy nhiên, các nước lớn trong phe Đồng Minh đã giữ một lập trường có lợi cho riêng mình nên đã “im lặng” trước những đề nghị thiện chí của phía Việt Nam về thiết lập quan hệ ngoại giao và công nhận Việt Nam

Ngay từ những ngày đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối ngoại giao đa phương Tháng 9/1947, trả lời phỏng vấn của nhà báo

Mỹ về chính sách đối ngoại của Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã đưa ra tuyên

bố bất hủ là Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”2 Có thể nói, nhờ chính sách ngoại giao

đa phương được xác định ngay từ ngày đầu thành lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà trong khi các nước lớn cự tuyệt hoặc phớt

lờ quan hệ ngoại giao với Việt Nam, không công nhận nền độc lập của Việt Nam, Việt Nam vẫn đạt được những thành tựu nhất định trong việc phá thế bao vây cô lập Cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã lập được cơ quan đại diện ngoại giao ở một số nước châu Á như có trụ sở ở Bangkok (Thái Lan), Rangoon (Miến Điện), có quan hệ chính thức với Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Indonesia… Việt Nam cũng lập 11 cơ quan thông tin ở nhiều nước trên thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử nhiều đặc phái viên Chính phủ và sĩ quan liên lạc đến hơn 10 nước và khu vực khác nhau ở châu Á, châu Âu, tới các Hội nghị thuộc Liên Hợp Quốc ở khu vực… theo hình thái ngoại giao đa phương

Tuy nhiên, giai đoạn 1945 – 1946, ngoại giao Việt Nam tập trung vào nhiệm vụ chính là đối phó với Tưởng và Pháp Trong hoàn cảnh phải đối phó với cuộc xâm lược trở lại của thực dân Pháp ở Nam Bộ,

sự uy hiếp của quân Tưởng ở ngoài Bắc nhằm lật đổ chính quyền cách mạng, Chính phủ cùng với Hồ Chủ tịch đã vạch rõ: tránh trường hợp một mình đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc, từ đó chủ trương tạm

1 Trần Hữu Đính – Lê Trung Dũng, sđd, tr 142

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, 2000, tr 220

Trang 4

thời hòa hoãn, tránh xung đột với quân Tưởng Nhằm hạn chế sự phá hoại của quân Tưởng ở miền Bắc, tại kỳ họp đầu tiên, Quốc hội khóa I

đã đồng ý nhường cho bọn tay sai theo chân quân Tưởng về Việt Nam

70 ghế trong Quốc hội cùng với 4 ghế bộ trưởng trong Chính phủ liên hiệp, cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) giữ chức Phó chủ tịch nước; đồng thời nhân nhượng cho quân Tưởng một số quyền lợi kinh

tế như: cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông vận tải, nhận tiêu tiền Trung Quốc Sau một thời gian, quân Tưởng đã bắt tay với Pháp, ký Hiệp ước Hoa – Pháp (28/2/1946) cho phép quân Pháp thay quân Tưởng ra Bắc giải giáp quân Nhật1

Hiệp ước Hoa – Pháp đặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước sự lựa chọn một trong hai con đường: hoặc cầm súng chiến đấu chống Pháp, không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc; hoặc hòa hoãn, nhân nhượng Pháp để tránh tình trạng phải đối phó một lúc nhiều kẻ thù Ngày 3/3/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp đã chọn giải pháp “Hòa để tiến” đối với Pháp Chiều ngày 6/3/1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh (thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đã ký với Jean Sainteny (đại diện Chính phủ Pháp) bản Hiệp định

sơ bộ Bản Hiệp định có các nội dung chính sau:

– Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên của Liên bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp;

– Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15 000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho quân Trung Hoa Quốc dân đảng

để giải giáp quân Nhật, số quân này sẽ đóng tại những địa điểm quy định và rút dần trong thời hạn 5 năm;

– Hai bên thực hiện ngưng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước ngoài và những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam2

1 Theo Hiệp ước Hoa – Pháp, Pháp sẽ trả lại các tô giới, nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc và được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng vào Vân Nam

không phải đóng thuế Xem David G Marr, Vietnam State, War and Revolution

(1945 – 1946), Berkeley: University of California Press, 2013, p 249

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, 2000, tr 324 – 326

Trang 5

Việc ký Hiệp định sơ bộ với Pháp giúp cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tránh được việc phải đối đầu với nhiều kẻ thù, đẩy

20 vạn quân Tưởng cùng bọn tay sai ra khỏi Việt Nam, đồng thời có thêm thời gian hòa bình để củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài

Do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết đấu tranh, sau Hội nghị trù bị tại Đà Lạt (4/5/1956), Pháp buộc phải ngồi vào đàm phán chính thức với ta từ ngày 6/7/1946 tại Fontainebleau (Pháp) Cuộc đàm phán thất bại vì phía Pháp cố chấp không chịu công nhận nền độc lập và thống nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong khi đó, tại Việt Nam, quân Pháp tiến hành nhiều hoạt động quân

sự khiêu khích, khiến cho quan hệ Việt – Pháp ngày càng căng thẳng,

có nguy cơ nổ ra chiến tranh Trước tình hình này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang trong thời gian viếng thăm Pháp, đã ký với Marius Moutet – đại diện Chính phủ Pháp, bản Tạm ước ngày 14/9/1946, tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế – văn hóa ở Việt Nam Bản Tạm ước 14/9 đã tạo điều kiện cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài thêm thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng

cố lực lượng, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp không tránh khỏi

Thực hiện chủ trương “Hòa để tiến”, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh ngoại giao với Pháp Việc ký Hiệp định sơ bộ (ngày 6/3/1946), ký Tạm ước (ngày 14/9/1946) nhằm tranh thủ thêm thời gian và lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp mà Người tiên đoán nhất định sẽ xảy ra Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn này vô cùng phong phú và sôi động, đã trở thành mẫu mực trong đấu tranh ngoại giao là cùng lúc đấu tranh với nhiều lực lượng đối địch, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ địch, có sách lược thích hợp và hòa hoãn có nguyên tắc, đồng thời ra sức tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ được, đưa cách mạng Việt Nam từng bước tiến lên một cách vững chắc Do thực dân Pháp bội ước, ngày 19/12/1946, nhân dân Việt Nam

đã bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp xâm lược với một niềm tin chiến thắng

Trang 6

1.2 Thời kỳ 1947 – 1953

Vào những năm đầu thập niên 50 (thế kỷ XX), trên thế giới xuất hiện một số nhân tố mới, tác động sâu sắc đến cục chiến tranh ở Đông Dương Hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng, nối liền từ tây sang đông Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời (1/10/1949) đã làm thay đổi cơ bản tương quan lực lượng toàn cầu có lợi cho xu thế cách mạng xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới Thời kỳ này, Liên Xô đã đạt được những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế, quân sự, qua đó cải thiện vị trí cường quốc của mình trong quan hệ quốc tế, đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa và cùng với các nước này trở thành chỗ dựa vững chắc của phong trào cách mạng đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới Lúc này, Liên Xô và cộng đồng xã hội chủ nghĩa

đã trở thành đối trọng hàng đầu của Mỹ và các nước đế quốc khác ở phương Tây trong thời kỳ chiến tranh lạnh Ở Việt Nam, những thắng lợi của ta trên chiến trường cả nước đã đưa đến sự thay đổi cục diện của cuộc chiến tranh ở Việt Nam Ta đã giành lại thế chủ động chiến trường, nhất là chiến trường chính ở phía Bắc Với những thất bại liên tiếp, thực dân Pháp bị đẩy vào thế bị động đối phó Đứng trước khả năng Pháp có thể thất bại, đồng thời lúc đó cộng sản đã thắng lợi ở Trung Quốc, nên vào đầu năm 1950 Mỹ quyết định hỗ trợ cho Pháp ở Đông Dương, bước đầu trực tiếp dính líu vào Việt Nam1 Quyết định can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương là một tính toán trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô

và Trung Quốc đang lan rộng ở vùng Viễn Đông cũng như lo ngại ảnh hưởng của Việt Nam sẽ lôi kéo các nước Đông Nam Á vào trào lưu cách mạng, tuyến phòng thủ từ xa của Mỹ nối từ Nhật Bản đến Australia sẽ bị suy yếu

Trước tình hình trên, từ Hội nghị cán bộ Trung ương tháng 1/1949 đến Đại hội Đảng lần thứ II (2/1951), Đảng và Nhà nước ta đã

đề ra đường lối đối ngoại và sách lược ngoại giao trong giai đoạn mới Qua đó, hoạt động đối ngoại trong giai đoạn này là phục vụ cho mục tiêu lớn nhất của công cuộc kháng chiến: “Tiêu diệt thực dân Pháp và

1 George C Hering, Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, NXB Chính trị

Quốc gia, 1998, tr 18

Trang 7

đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới”1 Qua đó, đường lối đối ngoại của ta là đoàn kết chặt chẽ và giúp đỡ hai nước Campuchia và Lào kháng chiến giành độc lập, cùng Việt Nam giải phóng hoàn toàn Đông Dương; tích cực ủng hộ phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức; đoàn kết chặt chẽ với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác; góp phần vào công cuộc chống đế quốc, gìn giữ hòa bình và dân chủ thế giới Tất cả các hoạt động này phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, bình đẳng về quyền lợi, bảo vệ hòa bình dân chủ thế giới Trên cơ sở đó, ngày 14/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước thế giới: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thế nhân dân Việt Nam… Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”2

Ngày 2/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trung Quốc, hội đàm với lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Hai bên đi đến thỏa thuận công nhận lẫn nhau Ngày 15/1/1950, Việt Nam tuyên bố công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Ngày 18/1/1950, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa công bố công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 30/1/1950, Liên Xô cũng tuyên bố công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về mặt ngoại giao Ngày 3/2/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Liên Xô, hội đàm với Stalin và ban lãnh đạo Liên Xô về tình hình Việt Nam và Đông Dương Sau khi Trung Quốc và Liên Xô công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các nước dân chủ nhân dân Đông Âu, Triều Tiên cũng lần lượt tuyên bố công nhận Việt Nam về mặt ngoại giao Đánh giá ý nghĩa to lớn của thắng lợi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đây là “thắng lợi to lớn nhất trong lịch sử Việt Nam… Chắc rằng cuộc thắng lợi chính trị ấy sẽ là cái đà cho những thắng lợi quân sự”3

Có thể nói, trong bối cảnh quốc tế thuận lợi, việc thiết lập quan

hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa

1 Nguyễn Phúc Luân (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành

độc lập, tự do (1945 – 1975), NXB Chính trị Quốc gia, 2001, tr 114

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, NXB Chính trị Quốc gia, 2000, tr 7 – 8

3 Hồ Chí Minh, sđd, tập 6, tr 81 – 82

Trang 8

khác đã làm cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ta gắn liền với hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa Thông qua thắng lợi về ngoại giao này, ta có điều kiện để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và sự chi viện về vật chất, khí tài rất lớn từ bên ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc và Liên Xô Với Trung Quốc, sau khi thiết lập cơ quan sứ quán giữa hai nước, hai bên đã cử các đoàn đàm phán về việc Trung Quốc giúp ta vật tư, khí tài và ký Hiệp định Mậu dịch giữa hai bên Trung Quốc còn cử chuyên gia, cố vấn quân sự, chính trị sang giúp ta, quan hệ hữu nghị và tin cậy lẫn nhau có bước phát triển tốt đẹp Quan điểm của Trung Quốc là ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Điều này đã được Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ khẳng định: “Cuộc kháng chiến ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo rất đúng và rất hay Đảng Cộng sản Trung Quốc hết sức giúp đỡ Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ đó”1 Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 1 700 tấn gạo; 3 600 viên đạn 105mm cùng 24 khẩu pháo; 1 tiểu đoàn DKZ 75mm, 1 tiểu đoàn Kachiusa cùng 1.136 viên đạn2 Về phía Liên Xô, nước bạn đã chủ động trong tuyền truyền, vận động quốc tế đề cao cuộc kháng chiến của ta, qua đó tác động rất lớn đến các nước xã hội chủ nghĩa khác trong việc giúp đỡ, ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta Tháng 10/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã đến Mátxcơva để tham dự Đại hội lần thứ XIX Đảng Cộng sản Liên

Xô Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ tình đoàn kết keo sơn với nhân dân Liên Xô và Đảng Cộng sản Liên Xô Đồng thời, Người cũng nói lên tình cảm sâu đậm của nhân dân ta đối với cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, hòa bình và chủ nghĩa xã hội của nhân dân các nước trên thế giới Từ đây, quan hệ hợp tác, ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau giữa Việt Nam và các nước trong phong trào cộng sản và công nhân quốc

tế, phong trào đấu tranh cho hòa bình dân chủ thế giới do những người cộng sản lãnh đạo ở khắp các châu lục đã có bước phát triển mới

1 Tư liệu nghiên cứu về quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam, tập 1 Dẫn theo

Phạm Mai Hùng, Sự giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp của nhân dân Việt Nam (1945 – 1954), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Kỷ niệm

50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước (1954 – 2004)”, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2004

2 Hồ sơ viện trợ quốc tế của Tổng cục Hậu cần, cấp số 20, 21 Dẫn theo Phạm Mai Hùng, tlđd

Trang 9

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham gia nhiều hoạt động quốc tế bảo vệ hòa bình như Đại hội Hòa bình thế giới ở Vácsava (Ba Lan, 11/1950), Đại hội Hòa bình thế giới ở Viên (Áo, 11/1951), Hội nghị châu Á – Thái Bình Dương vì hòa bình ở Bắc Kinh (Trung Quốc, 10/1952) Đồng thời ta cũng tích cực phối hợp với các hoạt động của các tổ chức dân chủ thế giới, nhất là trong phong trào thanh niên, phụ

nữ dân chủ và tổ chức liên hiệp công đoàn thế giới Việc đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân Triều Tiên chống đế quốc Mỹ xâm lược

là biểu hiện của chính sách đoàn kết quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Trong thời kỳ này, việc đoàn kết với phong trào nhân dân Pháp đấu tranh cho hòa bình và chống chiến tranh Đông Dương là một trong những định hướng quan trọng trong công tác đối ngoại và vận động quốc tế của ta Tháng 7/1950, Léo Figuères, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã sang thăm Việt Nam và bày tỏ tình đoàn kết với cuộc chiến đấu của nhân dân ta Tại Việt Nam, L Figuères đã đến thăm các đơn vị chiến đấu, đến tận nơi quan sát những trận càn quét, ném bom của quân đội Pháp, gặp gỡ trò chuyện với nhân dân… Trở về Pháp, L Figuères đã viết một cuốn sách về Việt Nam, qua đó đánh thức được sự hiểu biết cũng như lương tâm của công chúng Pháp Phong trào phản chiến ở Pháp bắt đầu phát triển mạnh Khẩu hiệu đòi chấm dứt chiến tranh, rút quân Pháp về nước trở thành một trong những mục tiêu đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Pháp, thể hiện tinh thần đoàn kết, ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Cùng với việc tăng cường quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng thúc đẩy quan hệ đoàn kết giữa ba nước Đông Dương Trong kháng chiến chống thực dân Pháp lần này, Đông Dương là một chiến trường Nhân dân và quân đội cách mạng cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia cùng phối hợp và liên minh chống kẻ thù chung là thực dân xâm lược Pháp Ngày 11/3/1951, Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương họp ở Việt Bắc, tuyên bố thành lập khối liên minh chiến đấu Việt Nam – Campuchia – Lào dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau… Liên minh khẳng định mục tiêu của mình là “đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ… làm cho Việt Nam, Lào, Campuchia hoàn toàn độc lập…”

Có thể nói, quá trình tiến triển của cuộc kháng chiến là quá trình

Trang 10

phối hợp liên minh chiến đấu của quân, dân ba nước và sự giúp đỡ to lớn của Việt Nam đối hai nước bạn Lào, Campuchia Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Việt Nam – Lào – Campuchia như anh em một nhà Cả

ba dân tộc đoàn kết chặt chẽ thì nhất định sẽ đánh bại thực dân Pháp Nhân dân Việt Nam hết lòng thành thật giúp đỡ nhân dân Lào, nhân dân Campuchia một cách vô điều kiện…”1 Người cũng nhấn mạnh:

“Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”2 Theo tinh thần

đó, nhiều đơn vị bộ đội Việt Nam được cử sang giúp đỡ nhân dân Lào

và Campuchia tổ chức kháng chiến Vốn sẵn tinh thần yêu nước nồng nàn, chẳng bao lâu sau, cùng với Việt Nam, nhân dân Lào và Campuchia đã giành được những thắng lợi hết sức quan trọng, góp phần đánh bại âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp đối với ba nước Đông Dương

Cùng với những chuyển biến mạnh mẽ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam đã chủ động phá thế bảo vây của các thế lực đế quốc, gắn cuộc kháng chiến của nhân dân ta với hậu phương

xã hội chủ nghĩa Quan hệ ngoại giao của Việt Nam cũng được mở rộng hơn trước, với nhiều lực lượng khác nhau bên ngoài, nhất là kết hợp với phong trào phản chiến của nhân dân Pháp Có thể nói, những thắng lợi về ngoại giao của Việt nam đã góp phần thay đổi cục diện quốc tế của cuộc chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng phát triển bất lợi cho thực dân Pháp trên chiến trường và trên bàn đàm phán sau này

1.3 Ngoại giao Việt Nam ở Hội nghị Giơnevơ 1954

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao

là chiến dịch Điện Biên Phủ đã đập tan những cố gắng chiến tranh cao nhất và cũng là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/1954 “đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”3 Và chính chiến thắng Điện Biên Phủ là nhân

tố trực tiếp thúc đẩy việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương Hội nghị Giơnevơ khai mạc ngày 26/4/1954 Ngày 8/5/1954, vấn đề Đông Dương được đưa lên bàn nghị sự Trải qua tám phiên họp toàn

1 Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, NXB Chính trị Quốc gia, 1996,

tr 371

2 Lê Mậu Hãn (chủ biên), sđd, tr 111

3 Dẫn theo Nguyễn Phúc Luân (chủ biên), sđd, tr 134

Trang 11

thể và 23 phiên họp hẹp rất căng thẳng và phức tạp, nhưng với thiện chí và cố gắng của phái đoàn ta, ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ

về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết Các nước tham gia Hội nghị tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia Như vậy, “tiếp theo chiến thắng oanh liệt Điện Biên Phủ, chúng ta đã giành được thắng lợi trong việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương”1

Với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ (1954), Việt Nam được quốc

tế công nhận là một nước độc lập, thống nhất, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Như vậy, so với Hiệp định sơ bộ (6/3/1946), Hiệp định Giơnevơ đã tiến một bước dài trong việc công nhận về pháp lý: nước ta

là một quốc gia hoàn toàn bình đẳng trong quan hệ quốc tế Sau khi Hiệp định được ký kết, một nửa nước đã được giải phóng, nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho ta bắt đầu thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược liên quan mật thiết với nhau là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ

ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà Việc quân Pháp phải rút về nước sẽ làm cho lực lượng ngụy quân, ngụy quyền thân Pháp rất hoang mang và mâu thuẫn sâu sắc với lực lượng tay sai thân Mỹ Ta đã triệt

để lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch để tập hợp lực lượng cho cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Xét về tầm vóc, Hội nghị Giơnevơ 1954 là lần đầu tiên, phái đoàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bước vào Hội nghị Giơnevơ với tư thế chững chạc, đàng hoàng, không những trực tiếp đàm phán với phái đoàn Pháp mà còn với nhiều phái đoàn các nước lớn Trong lịch sử ngoại giao hiện đại, chưa có một phái đoàn của nước “nhược tiểu” nào lại giành được vị trí quốc tế long trọng đó

Có thể nói, chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp định Giơnevơ được ký kết (20/7/1954) là một thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và can thiệp

Mỹ, qua đó giải phóng hoàn miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam

1 Đảng Lao động Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Ban

Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1960, tr 23 –

24

Trang 12

chuyển qua một giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, hoàn thành độc lập dân tộc, dân chủ và thống nhất đất nước Đây là “lần đầu tiên trong một xứ thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước hùng mạnh Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của lực lượng hòa bình, dân chủ

và chủ nghĩa xã hội trên thế giới”1 Thắng lợi này có ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều khi nhân dân các thuộc địa lấy đó làm tấm gương để vùng lên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc Thắng lợi này cũng chứng tỏ sự đoàn kết và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội đang trở thành nhân tố có ảnh hưởng to lớn đến chiều hướng phát triển của quan hệ quốc tế2 Đối với Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ đi đôi với Hiệp định Giơnevơ, đã nêu cao vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế Nước Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám – 1945, qua

8 năm kháng chiến đã được thế giới chú ý Nhưng từ trận Điện Biên Phủ và thắng lợi Giơnevơ thì địa vị Việt Nam lại càng nổi bật lên Vị thế và uy tín của Việt Nam trở thành một nhân tố quan trọng tác động đến việc hình thành xu thế phát triển quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước Xu thế ủng hộ Việt Nam ở trên thế giới cũng có những bước chuyển mới

2 NGOẠI GIAO VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG

MỸ, CỨU NƯỚC (1954 – 1975)

2.1 Thời kỳ 1954 – 1965

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954), Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành một thành viên của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới Trong kháng chiến chống Pháp, các nước xã hội chủ nghĩa, nhất

là Trung Quốc và Liên Xô, đã có sự ủng hộ, chi viện to lớn đối với công cuộc đấu tranh, giải phóng của ta Nhằm tiếp tục phát huy mối quan hệ với đồng minh chiến lược trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước anh em Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên thăm chính

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, NXB Chính trị Quốc gia, 1996, tr 12

2 Trần Văn Đào – Phan Doãn Nam, Giáo trình Lịch sử quan hệ quốc tế 1945 –

1990, Học viện Quan hệ Quốc tế, 2001, tr 74

Trang 13

thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu một phái đoàn đại biểu Việt Nam đã sang thăm Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa ở Đông

Âu, Bắc Á… Qua các chuyến thăm này, ta đã trao đổi về tình hình Việt Nam, Đông Dương và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đường lối cách mạng nước ta trong giai đoạn mới, tranh thủ sự đồng tình, ủng

hộ, giúp đỡ thiết thực của các nước này với sự nghiệp cách mạng nước

ta trong thời kỳ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược Điều này được Đảng ta xác định rõ: “…tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông – Nam Á và thế giới”1

Đi đôi với việc trao đổi các đoàn cao cấp với các nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ này, ta đã chủ động mời thêm các cơ quan đại diện ngoại giao cấp đại sứ ở các nước Đông Âu, Bắc Á và thúc đẩy việc lập

sứ quán của các nước này tại Hà Nội Ta cũng phối hợp tốt với phái đoàn Ba Lan trong Ủy ban quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp định Giơnevơ Tranh thủ được sự giúp đỡ về nhiều mặt của cộng đồng quốc

tế, đặc biệt là những khoản viện trợ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa

đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế (1955 – 1957) và Kế hoạch ngắn hạn 3 năm phát triển kinh tế, văn hóa (1958 – 1960) Có thể nói, trong giai đoạn này, Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn và hiệu quả về nhiều mặt, đặc biệt là sự giúp đỡ về vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, vũ khí… từ các nước

xã hội chủ nghĩa, trong đó quan trọng nhất là Liên Xô và Trung Quốc

Có thể nói, Liên Xô và Trung Quốc giúp Việt Nam xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, vì lợi ích của phe xã hội chủ nghĩa, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, và đương nhiên cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc của từng nước

Sau Hiệp định Giơnevơ (7/1954), quan hệ giữa Việt Nam và hai nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương có những thay đổi phù hợp

1 Đảng Lao động Việt Nam, sđd, tr 78

Trang 14

với tình hình Mỹ thực hiện mưu đồ can thiệp vào Đông Dương Việt Nam cần tăng cường phát triển hơn mối quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia trên cơ sở thi hành Hiệp định Giơnevơ ngăn chặn

sự gia nhập “Khối phòng thủ Đông Nam Á”, “Khối phòng ngự sông Cửu Long của đế quốc Mỹ”1 Với chủ trương trên, ngày 1/1/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng lập quan hệ hữu hảo với Lào và Campuchia, quan hệ giữa ba nước Đông Dương chuyển sang thời kỳ mới: chống sự can thiệp, thống trị bên ngoài vì độc lập tự do của nhân dân mỗi nước

Với Lào, Việt Nam kiên trì ủng hộ chính sách hòa bình trung lập, hòa hợp dân tộc của Chính phủ Lào do Thủ tướng Phuma đứng đầu, giúp các lực lượng yêu nước Pathét Lào xây dựng lực lượng để đối trọng với thế lực phái hữu ở Lào, tạo cơ sở để chống lại sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào Lào Với Campuchia, Việt Nam thể hiện sự nhất quán ủng hộ chính sách hòa bình trung lập và nền độc lập của Campuchia trên cơ sở của Hiệp định Giơnevơ và 10 nguyên tắc Băng Đung về cùng tồn tại hòa bình và láng giềng thân thiện, không tán thành việc đàn áp những người kháng chiến cũ, nhưng hoan nghênh việc Campuchia thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc, tạo sự cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, duy trì được chính sách hòa bình trung lập của Campuchia, hướng Campuchia vào hành động chung, chống đế quốc Mỹ, can thiệp vào Đông Dương, vì lợi ích toàn cục, hòa bình, độc lập, thông nhất cho các nước Đông Dương Sau năm 1954, Việt Nam đã tính cực, chủ động mở rộng quan hệ với các nước độc lập dân tộc và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc

ở Á, Phi, Mỹ La tinh Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp định Giơnevơ (20/7/1954) đã ghi nhận sự thất bại hoàn toàn của cuộc chiến tranh xâm lược tái chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp

ở Việt Nam, đã góp phần to lớn thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc

ở các nước thuộc địa, bán thuộc địa phát triển Từ năm 1950 đến năm

1961, hơn 30 nước ở châu Á và châu Phi giành lại được độc lập từ các nước thực dân, đế quốc phương Tây Sau Hội nghị Giơnevơ (7/1954), vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được củng cố trong quan hệ

1 Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, NXB Chính trị

Quốc gia, 2002, tr 176

Trang 15

quốc tế Ta có điều kiện để thực hiện việc mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, ủng hộ lẫn nhau giữa cuộc đấu tranh của nhân dân ta với các quốc gia và phong trào đấu tranh cho độc lập dân tộc

Tháng 4/1955, Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu

đã tham gia Hội nghị cấp cao Á – Phi tổ chức tại Bandung (Indonesia) Tham gia Hội nghị Bandung có 23 nước châu Á (Afghanistan, Miến Điện, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Iran, Irắc, Yemen, Trung Quốc, Campuchia, Lào, Syria, Libăng, Nêpan, Pakistan, Arập Xêút, Thổ Nhĩ

Kỳ, Sri Lanka, Philippines, Thái Lan, Nhật Bản, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa) và 6 nước châu Phi (Ai Cập, Ghana, Ethiopia, Liberia, Libi và Suđăng) Síp và Palestin tham dự với tư cách

là quan sát viên Lần đầu tiên Việt Nam có điều kiện tiếp cận với đông đảo các nước Á – Phi, bày tỏ sự đoàn kết châu Á, châu Phi Việt Nam tuyên bố tán thành 10 nguyên tắc Bandung, cùng đoàn kết hướng đến mục tiêu chung, chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Trong diễn văn đọc trước toàn thể hội nghị, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta trong hội nghị này là biểu thị rõ rệt và mạnh mẽ ý chí của nhân dân Á – Phi muốn chung sống hòa bình với nhau và toàn thế giới, kiên quyết giữ gìn và củng cố hòa bình, kiên quyết chống lại mọi âm mưu chiến tranh… Cùng với nhân dân Á – Phi, nhân dân Việt Nam kịch liệt chống lại mọi

âm mưu gây chiến, chống lại mọi khối quân sự xâm lược, chống lại chiến tranh nguyên tử… Nhân dân Á – Phi đòi hỏi một nền hòa bình lâu dài, vững chắc, đòi hỏi quyền độc lập và bình đẳng dân tộc là để có thể gây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc Tình hữu nghị, đoàn kết và quan hệ mật thiết về mọi mặt giữa các nước Á – Phi chính là một điều kiện cần thiết để đạt được mục đích ấy”1 Thành công của Hội nghị Bandung 1955 chứng tỏ rằng các nước có chế độ xã hội và khuynh hướng chính trị khác nhau có thể vượt qua tất cả các bất đồng nếu họ

có chung nguyện vọng bảo vệ hòa bình thế giới, độc lập tự do của các dân tộc, bình đẳng và hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia Đó là tinh

1 Báo Nhân dân, ngày 23/4/1955 Dẫn theo Võ Anh Tuấn, Phong trào Không liên

kết, NXB Chính trị Quốc gia, 1999, tr 31

Trang 16

thần Bandung thường được nhắc tới trong quan hệ quốc tế Đoàn đại biểu Việt Nam chào mừng hội nghị lịch sử này và cũng chính là chào mừng sự thức tỉnh, chào mừng vai trò to lớn của nhân dân Á – Phi trên cục diện thế giới lúc bấy giờ

Từ năm 1955 đến năm 1960, ta đã đón tiếp hơn 10 đoàn cấp cao của các nước độc lập dân tộc và Nam Á, Đông Nam Á, châu Phi đến thăm nước ta Đồng thời, ta đã cử các đoàn cấp cao đi thăm gần 20 nước ở châu Âu và các nước khu vực nói trên Việt Nam đã thiết lập quan hệ tổng lãnh sự với Ấn Độ, Miến Điện và Indonesia, lập quan hệ ngoại giao với Cuba và một số nước châu Phi mới giành được độc lập

Để thể hiện thiện chí của mình, năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm Ấn Độ, Miến Điện, Indonesia, đồng thời cũng tiếp đón trọng thị các nguyên thủ quốc gia này sang thăm Việt Nam Các cuộc viếng thăm này đã góp phần rất lớn tăng cường mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước này

Sau Cao trào Đồng khởi ở miền Nam, ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, trở thành tổ chức chính trị lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam

Từ khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập (từ ngày 6/6/1969 là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), hoạt động ngoại giao Việt Nam trở nên rất phong phú, đa dạng và có đặc thù riêng, dưới hình thức “tuy một mà hai và tuy hai mà một” Cùng với Bộ Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ nay còn có Bộ Ngoại giao của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Cả hai đều dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, có một mục tiêu chiến lược chung nhưng hoạt động dưới hai phương thức khác nhau

Có thể nói, giai đoạn 1954 – 1965 là thời kỳ hoạt động ngoại giao Việt Nam thu hút sự chú ý của toàn thế giới Cùng với những diễn biến ở chiến trường, hoạt động ngoại giao của ta trong thời kỳ này trở thành trung tâm của sinh hoạt chính trị thế giới, nhất là từ năm 1960 trở đi Nhiệm vụ của ngoại giao thời kỳ này cũng rất nặng nề và phức tạp Để phục vụ nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chúng ta đã triển khai nhiều hướng hoạt động, phát triển quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, tăng cường đoàn kết với các phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và các lực lượng tiến bộ,

Trang 17

đấu tranh vì hòa bình, dân chủ trên thế giới; đồng thời tranh thủ cảm tình của nhân dân và chính giới một số nước phương Tây Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao liên quan mật thiết đến nhiệm vụ thứ nhất là phục vụ cuộc đấu tranh chống Mỹ – ngụy phá hoại Hiệp định Giơnevơ,

và sau đó từ năm 1965 là chống cuộc chiến tranh trực tiếp của Mỹ ở miền Nam Việt Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Qua đó, hoạt động ngoại giao làm cho nhân dân thế giới thấy rõ mong muốn của nhân dân Việt Nam là hòa bình và thống nhất đất nước, thấy rõ tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành, từ đó ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta

2.2 Giai đoạn 1965 – 1973

Kể từ khi Mỹ can thiệp trực tiếp vào miền Nam Việt Nam, ngoại giao và quân sự được xem là hai mặt trận gắn liền hữu cơ và hỗ trợ lẫn nhau Trên bàn đàm phán không thể giành được những gì mà trên chiến trường không giành được Mặt khác, những gì giành được trên chiến trường sẽ không được khẳng định nếu không có nghệ thuật giành thắng lợi trên bàn đàm phán Hơn thế nữa, thắng lợi trên bàn đàm phán tạo thêm điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi lớn hơn trên chiến trường Ngay từ cuối năm 1965, lãnh đạo ta đã tính đến việc nói chuyện với Mỹ Nhưng chỉ sau Hội nghị Trung ương 8, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thực sự triển khai kế hoạch này Ngày 28/1/1967, trả lời phỏng vấn nhà báo Burchet, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể nói chuyện với Mỹ Cuối tháng 12/1967, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh lại nêu "sau khi Mỹ

chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề liên quan" Như vậy,

đầu năm chúng ta nói "có thể", đến cuối năm chúng ta đã chuyển sang khẳng định là "sẽ" nói chuyện với Mỹ nếu Mỹ chấp nhận ngừng ném

bom Việt Nam muốn Mỹ ngừng ném bom trước, còn Mỹ muốn Việt Nam cam kết sẽ thảo luận với Mỹ trước Chính vì thế, hai bên vẫn chưa tiến hành gặp gỡ Chỉ đến khi chúng ta mở cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, Tổng thống Mỹ mới buộc phải tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc, chịu nhượng bộ đi bước đầu tiên trên con đường

Trang 18

thương lượng Đây không những là sự thừa nhận đầy đủ nhất về sự phá

sản của chiến lược "Chiến tranh cục bộ", mà còn là bước đầu tiên cho

quá trình xuống thang chiến tranh của Mỹ Như vậy, thắng lợi quân sự

đã mở cánh cửa cho đàm phán ngoại giao

Ngày 31/10/1968, Tổng thống L B Giônxơn ra lệnh cho không quân và hải quân Mỹ chấm dứt mọi cuộc đánh phá chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và mở ra hội nghị gồm bốn bên Cùng ngày, Trưởng Đoàn tiền trạm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam cũng đến Paris Ngày 8/12/1968, Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu cử một phái đoàn đi Paris Ngày 10 tháng 12, Mặt trận cử đoàn đại biểu chính thức do đồng chí Trần Bửu Kiếm, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận làm Trưởng đoàn Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Xuân Thủy, người dẫn đầu Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc đàm phán hai bên từ tháng 5/1968, tiếp tục làm Trưởng Đoàn trong đàm phán bốn bên Ngày 25/1/1969, Hội nghị bốn bên chính thức khai mạc Đây là một thắng lợi lớn, bởi từ chỗ không chấp nhận, nay Mỹ phải ngồi vào đàm phán bốn bên, có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham dự với tư cách một bên độc lập, bình đẳng

Hiệp định Paris có ba giai đoạn chính và gắn chặt với ba bước ngoặt trên chiến trường Việt Nam Giai đoạn I là từ khi bắt đầu đàm

phán cho đến khi Mỹ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc, bốn bên ngồi vào đàm phán chính thức Giai đoạn này gắn với thắng lợi Tết

Mậu Thân năm 1968 Giai đoạn II kéo dài từ lúc bốn bên ngồi vào

đàm phán cho đến giữa năm 1972 Lúc này, trên chiến trường ta chưa giành được thắng lợi quyết định, thậm chí trong một thời gian đầu, chúng ta còn rơi vào tình thế khó khăn Chính vì thế, đàm phán giẫm chân tại chỗ, các bên chủ yếu là thăm dò lẫn nhau Chỉ sau thắng lợi của các cuộc tiến công chiến lược Xuân – Hè 1972, ta giành lại được

thế chủ động trên chiến trường, đàm phán mới đi vào thực chất (giai

đoạn III) và đi đến ký kết Hiệp định vào tháng Giêng năm 1973

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân cùng với những đợt tấn công quân

sự trước và sau đó, gây cho Mỹ nhiều tổn thất về người và của, đã tác động sâu sắc đến nội tình nước Mỹ Phong trào ủng hộ Việt Nam phát triển mạnh trên thế giới càng đưa thế chính trị của Việt Nam lên cao, tiếng nói chính nghĩa của Việt Nam có thêm sức thuyết phục

Trang 19

Trong phiên họp đầu tiên của Hội nghị bốn bên, Trưởng đoàn của Mặt trận Trần Bửu Kiếm đưa ra lập trường Năm điểm, thực chất là tuyên bố chính trị, và bốn tháng sau đưa ra giải pháp toàn bộ Mười điểm về vấn đề miền Nam Việt Nam (3) Đây là giải pháp hoàn chỉnh đầu tiên được đưa ra tại Hội nghị Đối phó lại, ngày 14/5/1969, Tổng thống R Nixơn đưa ra kế hoạch Tám điểm với nội dung chính là đòi đánh đổi việc rút quân Mỹ với việc rút quân miền Bắc và giữ chính quyền Sài Gòn Với sự ra đời của Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đầu năm 1968, Mặt trận đoàn kết dân tộc ở miền Nam được mở rộng Ngày 6/6/1969, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập, làm cho vị thế của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại bàn đàm phán càng vững mạnh Hai ngày sau, Tổng thống R Nixơn công bố chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" và việc rút đợt đầu 25.000 quân

Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam Việt Nam Trong giai đoạn II này, trên cơ

sở phát triển giải pháp toàn bộ Mười điểm, thông qua các Tuyên bố của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam (tám điểm ngày 14/9/1970, bảy điểm ngày 1/7/1971, và hai điểm nói rõ thêm trong giải pháp bảy điểm), ta đòi Mỹ phải rút nhanh toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, thành lập ở miền Nam Việt Nam một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần để tổ chức tuyển cử Xuân – Hè 1972, đánh địch trên các mặt trận từ Trị – Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long, giải phóng một vùng rộng lớn, làm thay đổi lớn

so sánh lực lượng, tạo ra khả năng kết thúc chiến tranh, tháng 7 năm

1972, Bộ Chính trị đã đưa ra quyết sách: phấn đấu đạt một giải pháp thương lượng cuối năm 1972 để chuyển sang giai đoạn đấu tranh mới

Giai đoạn III đàm phán bắt đầu từ đây Trong ba tháng 7, 8, 9 ở Pari,

Lê Đức Thọ và Kissinger có một loạt cuộc gặp riêng bàn vấn đề một cách thực chất Trên cơ sở "Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" do Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa

ra trong cuộc gặp riêng ngày 8/10/1972, hai bên bắt đầu mặc cả từng câu, chữ cho Hiệp định Ngày 21/10, Tổng thống R Nixơn gửi thư cho

Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: "Văn bản của Hiệp định bây

giờ có thể xem như đã hoàn thành"

Quan hệ hỗ trợ nhau giữa quân sự với ngoại giao một lần nữa lại thể hiện ở chính giai đoạn chót của đàm phán này Sau khi vượt qua

Trang 20

được tuyển cử, Mỹ trở mặt; đàm phán diễn ra căng thẳng trong suốt tháng 11 và đầu tháng 12 Đến ngày 12/12/1972, hai bên chỉ còn phải thỏa thuận vấn đề khu phi quân sự và cách ký các văn kiện và đều phải

về nước xin chỉ thị Nhưng khi đồng chí Lê Đức Thọ vừa đến Hà Nội, cũng là lúc Mỹ bắt đầu cuộc tập kích chiến lược bằng B 52 vào Hà Nội và Hải Phòng Đúng như dự đoán của Bác Hồ là nhất định Mỹ sẽ thất bại, nhưng sớm muộn Mỹ cũng sẽ dùng B 52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng trước khi chịu thua Bị tổn thất nặng nề trong trận "Điện Biên Phủ trên không" và bị dư luận quốc tế lên án, ngày 30/12/1972,

Mỹ buộc phải ngừng ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20, phải ký tắt Hiệp

định ngày 23/1/1973 và ký chính thức "Hiệp định về chấm dứt chiến

tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" ngày 27/1/1973, mà nội dung chủ

yếu vẫn giữ nguyên như văn bản đã thỏa thuận ngày 20/10/1972 Trải qua 174 phiên họp công khai, 24 đợt gặp riêng bí mật ở cấp cao, ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris được ký kết1, Mỹ buộc phải rút quân chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Từ ngày 27/2 đến 2/3/1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam được triệu tập ở Paris, gồm đại diện 12 chính phủ là Canada, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Hunggari, Indonesia, Ba Lan, Liên Xô, Anh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Tổng thư ký Liên Hợp Quốc tham dự với tư cách là khách mời Hội nghị quốc tế thông qua định ước, trịnh trọng ghi nhận, tuyên

bố tán thành và ủng hộ Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và bốn nghị định thư của hiệp định Các bên ký định ước trịnh trọng công nhận về mặt pháp lý quốc tế Hiệp định Paris

về Việt Nam, triệt để tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam

và bảo đảm cho Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh

Với việc ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973), nhiệm chiến lược

“đánh cho Mỹ cút” đã được quân và dân ta hoàn thành và nhiệm vụ chiến lược “đánh cho ngụy nhào” được tiếp tục triển khai Hơn nữa, bản thân việc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam cũng đã là một đòn nặng nề đối với ngụy quân ngụy quyền, làm cho chúng trở nên không nơi nương tựa và trực tiếp đối mặt với sự sụp đổ hoàn toàn trong một

1 Nguyễn Thành Lê, Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam (1968 – 1973), NXB Chính

trị Quốc gia, 1998, tr 208

Trang 21

thời gian ngắn trước khí thế đấu tranh mới do thành công tại Hội nghị Paris đem lại cho quân và dân Việt Nam Trên trường quốc tế, uy tín

và ảnh hưởng của Việt Nam ngày càng lớn Từ góc độ quan hệ đối ngoại, Việt Nam trở thành một chủ thể quan trọng Các nước yêu chuộng hòa bình coi Việt Nam “có một địa vị độc đáo trong việc làm dịu tình hình căng thẳng trên thế giới”1 Thắng lợi của Việt Nam ở Hội nghị Paris đã trở thành niềm vui lớn của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và các dân tộc đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội trên thế giới Từ tháng 1/1973 đến tháng 4/1974 có thêm 27 nước công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ngoại giao, trong đó có thêm hai nước Đông Nam Á, Australia và Nhật Bản2 Vị thế và uy tín của Việt Nam do Hiệp định Paris mang lại trở thành một nhân tố quan trọng tác động đến việc hình thành xu thế phát triển quan

hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước Xu thế ủng hộ công cuộc chống Mỹ cứu nước của Việt Nam ở trên thế giới cũng có những bước chuyển mới Nhiều nước trên thế giới, nhiều tổ chức quần chúng, phi chính phủ đã lên tiếng ủng hộ Việt Nam và đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực thi nghiêm chỉnh những điều khoản của Hiệp định Paris Nhìn lại cuộc đàm phán Paris (1968 – 1973), có thể nêu một số

nhận xét sau: Một là, thực chất của mối liên hệ giữa Hiệp định Paris

với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng miền

Nam, thống nhất Tổ quốc là quan hệ giữa đấu tranh quân sự và đấu

tranh ngoại giao Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Thực lực là cái

chuông, ngoại giao là tiếng của chuông Chuông có to thì tiếng mới lớn" Quá trình đàm phán với Mỹ tại Hội nghị Paris đã chứng minh tư tưởng đúng đắn đó của Người Hiệp định Paris còn phát huy tính năng động của nó là hỗ trợ cho mặt trận quân sự trong các bước kế tiếp Với việc ký kết Hiệp định Pari, ta đã buộc Mỹ chấm dứt vô điều kiện việc ném bom miền Bắc, tạo cho miền Bắc một thuận lợi to lớn để làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn Tương quan lực lượng mới ở miền Nam sau Hiệp định Paris cho thấy sự sụp đổ hoàn

1 Tài liệu tổng hợp của Vụ châu Á 2 của Bộ Ngoại giao Dẫn theo Nguyễn Vũ Tùng,

“Hiệp định Paris và quan hệ Việt Nam – ASEAN vào đầu thập kỷ 70”, Tạp chí

Nghiên cứu Quốc tế, số 6 (49) – 2002, tr 65

2 Nguyễn Phúc Luân (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành

độc lập, tự do (1945 – 1975), NXB Chính trị Quốc gia, 2001, tr 303

Trang 22

toàn của ngụy quân, ngụy quyền là "đã ở trong tầm tay" Do đó, có thể nói Hiệp định Paris là một bước đi chiến lược mà Trung ương đã dự kiến để chuyển cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước

nhà sang một giai đoạn mới; Hai là, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí giữa

nền ngoại giao Việt Nam và nền ngoại giao của một đế quốc đầu sỏ lớn nhất thế giới và ngoại giao ta đã thắng Mỹ đã dẫm vào cái bẫy chiến lược của ta khi đặt bút ký Hiệp định Pari Cay đắng vì việc ta giải phóng miền Nam chỉ trong vòng 2 năm 4 tháng sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trong khi trả lời một câu hỏi của một nhà báo nước ngoài (tháng 5/1975), Kissinger đã thề "cạch đến già không bao giờ

gặp Lê Đức Thọ nữa"; Ba là, qua cuộc đàm phán Pari, nền ngoại giao

ta đã trưởng thành So với Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) và Hiệp định Giơnevơ (1954), ngoại giao Việt Nam đã tiến một bước dài về tất cả mọi mặt, phát huy cao độ tính chủ động và độc lập tự chủ trong việc

mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm"; chuyển hướng từ chiến lược chiến tranh sang chiến lược hòa bình; chủ động kết thúc đàm phán đi đến ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh

bộ xã hội”1 Hội nghị cũng đã “kêu gọi các nước không liên kết tăng cường ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam về mọi lĩnh vực chính trị, tinh thần và ngoại giao trong cuộc đấu tranh chính nghĩa nhằm xây dựng một miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ, tiến tới hòa bình thống nhất tổ quốc, và dành mọi sự ủng hộ vật chất cho công cuộc xây dựng lại Việt Nam”2 Điều này đã được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các nước thành viên Nhiều

1 Võ Anh Tuấn, Phong trào không liên kết, NXB Chính trị Quốc gia, 1999, tr 106

2 Võ Anh Tuấn, sđd, tr 107

Trang 23

nước không liên kết đã thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Tiếp đó, các kỳ họp của Hội nghị Bộ trưởng các nước Phong trào không liên kết từ năm 1973 – 1975 đều lên tiếng đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải ngưng ngay mọi hành động chiến tranh, thi hành đúng thỏa thuận ngừng bắn theo đúng tinh thần Hiệp định Paris Sự ủng hộ của Phong trào Không liên kết và những đóng góp thiết thực về

cả vật chất lẫn tinh thần của các nước thành viên đã cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng

Các nước xã hội chủ nghĩa đồng lòng ca ngợi thắng lợi của Việt Nam, lên tiếng ủng hộ Việt Nam bảo vệ, thi hành Hiệp định Paris Phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa đều sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam xây dựng lại miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời lên án mạnh mẽ việc Mỹ dung túng chính quyền Sài Gòn phá Hiệp định Paris Nhiều nước đã xóa nợ cho Việt Nam, coi viện trợ cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là viện trợ không hoàn lại Ba Lan và Hungari là thành viên của Ủy ban quốc tế cũng hết lòng phối hợp với Việt Nam trong việc thực hiện Hiệp định Paris Nhìn chung, sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục dành tình cảm quý trọng và nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam Tổng khối lượng viện trợ quốc tế của các nước cho Việt Nam ước tính 2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp1 bao gồm lương thực, thực phẩm, quân trang, vật liệu xây dựng, vũ khí, khí tài… Tuy nhiên, lúc này xuất hiện trong dư luận quốc tế tư tưởng coi việc chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam đã hoàn thành, các cuộc xung đột ở Nam Việt Nam chỉ là vấn đề nội bộ2

Ở khu vực Đông Nam Á, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, một không khí hòa dịu trong quan hệ giữa Việt Nam và các nước ASEAN đã manh nha xuất hiện Đối với Việt Nam, việc phát triển quan hệ ngoại với các nước ASEAN trong thời kỳ này là nhằm vào mục tiêu phục vụ cuộc đấu tranh buộc Mỹ – ngụy thi hành nghiêm

1 Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt

Nam 1945 – 1975: Thắng lợi và bài học, NXB Chính trị Quốc gia, 2000, tr 601

2 Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, NXB Chính trị

Quốc gia, 2002, tr 269

Trang 24

chỉnh Hiệp định Paris và sau đó là mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam1 Đối với các nước ASEAN, diễn biến của quan hệ quốc tế, nhất

là quan hệ giữa các nước lớn, xung quanh cuộc chiến tranh Việt Nam

và thành công của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã góp phần thay đổi nhận thức của họ trong quan hệ với Việt Nam Lúc này, các nước ASEAN đều muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam để cùng nhau tiến tới xây dựng một khuôn khổ mới trong quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á theo tinh thần của Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thiết lập một khu vực Đông Nam Á hòa bình, tự do và trung lập (ZOPFAN)2 Vào thời điểm đầu năm 1973, xu thế phát triển quan hệ với Việt Nam được các nước ASEAN khởi động mạnh

Indonesia là quốc gia ASEAN đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tiếp đến, Malaysia đã nhiều lần tìm cách tiếp xúc với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có một lần thông qua Thụy Điển làm trung gian gặp đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ngày 30/3/1973, Malaysia đã chủ động đặt vấn

đề quan hệ với Việt Nam3 Ngày 23/2/1973, đại diện Philippines ở Viên Chăn (Lào) cũng đã có hành động thăm dò phía Việt Nam về khả năng buôn bán và quan hệ ngoại giao giữa hai nước Trong năm 1973, Malaysia và Philippines đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; ngày 1/8/1973, Malaysia, Philippines, Singapore cũng đề nghị Việt Nam trao đổi quan hệ cấp đại sứ

Thái Lan, một đồng minh quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á, cũng đã có những động thái mới trong quan hệ với Việt Nam Đầu năm

1973, Thái Lan cùng với Philippines đã rút hết quân đội của mình ra khỏi miền Nam Việt Nam4 Tháng 3/1973, Thứ trưởng Ngoại giao Thái Lan Chatichai Choonhavan tuyên bố rằng Thái Lan đang xem xét khả năng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Cũng trong thời

1 Xem Nguyễn Phúc Luân (chủ biên), sđd, tr 300 – 310

2 Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thiết lập một khu vực Đông Nam Á hòa bình, tự

do và trung lập (ZOPFAN) được ký kết các thành viên tổ chức ASEAN thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN họp từ 26–26 tháng 11 năm 1971 tại Malaysia, qua đó chính thức hóa xu thế trung lập của ASEAN

3 Nguyễn Vũ Tùng, tlđd, tr 68

4 Thái Lan và Philippines gửi một số đơn vị quân đội của mình đến Việt Nam năm

1965 Xem Lê Mậu Hãn (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB

Giáo dục, 1998, tr 202

Trang 25

gian này, Thái Lan đã vận động để ASEAN mời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử một quan sát viên tới Hội nghị Ngoại trưởng của ASEAN họp tại Bangkok (Thái Lan) vào tháng 4/19731 Ngày 31/8/1973, Quốc hội Thái Lan thông qua đạo luật cho phép Thái Lan buôn bán với tất cả các nước cộng sản, trong đó có Việt Nam

Trong khối xã hội chủ nghĩa, Liên Xô và Trung Quốc là hai quốc gia có những đóng góp to lớn cả về tinh thần lẫn vật chất cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam Trong thời kỳ này, Liên Xô và Trung Quốc cùng hoan nghênh việc ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973) và tuyên bố tiếp tục ủng hộ Việt Nam cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của Việt Nam Tuy nhiên, cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh khối đoàn kết Xô – Trung đã bị rạn nứt, phân thành những mảng lợi ích riêng biệt thể hiện qua những chuyển động của ba cặp quan hệ nước lớn Xô – Trung, Trung – Mỹ và Mỹ – Xô Sự hình thành tam giác chiến lược Mỹ – Xô – Trung đã manh nha từ đó Vấn đề Việt Nam là một động lực cho sự hình thành và vận động của tam giác chiến lược và (ngược lại) chịu những tác động phức tạp từ cả ba góc của tam giác nước lớn này2

Đối với Liên Xô, Việt Nam luôn tôn trọng vai trò và tiếng nói Liên Xô trong các vấn đề lớn của chiến tranh thông qua các cuộc gặp cấp cao Trong khoảng thời gian từ 1965 – 1972, Việt Nam đã tiến hành 51 cuộc gặp cấp cao, từ ủy viên Bộ Chính trị, phó thủ tướng trở lên3 Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), Liên Xô lên tiếng ủng hộ những thắng lợi của Việt Nam vì nó đã ghi nhận thất bại của Mỹ và khẳng định vai trò to lớn của Liên Xô trong việc giúp đỡ một nước xã hội chủ nghĩa, một dân tộc nhỏ đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ – đối thủ hàng đầu của mình Liên Xô tuyên bố xóa tất cả nợ cho Việt Nam, sẵn sàng giúp đỡ với khả năng của mình

1 Noordin Sopiee, “The “Neutralization” of Southeast Asia”, in Hedley Bull (ed ),

Asia and the Western Pacific: Toward a New International Order, Canberra:

Thomas Nelson Publiser, 1975, tr 149 Dẫn theo Nguyễn Vũ Tùng, tlđd, tr 68

2 Trần Quang Cơ, “Ý nghĩa của cuộc đấu tranh ngoại giao trong lĩnh vực đối ngoại

hiện nay”, trong: Bộ Ngoại giao, Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, NXB

Chính trị Quốc gia, 1995, tr 155

3 Nguyễn Đình Bin (chủ biên), sđđ, tr 235

Trang 26

cho việc khôi phục lại miền Bắc xã hội chủ nghĩa Có thể nói, thắng lợi của Việt Nam giúp Liên Xô đề cao uy tín của mình trong quan hệ quốc

tế, đặc biệt trong việc tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á, nơi Mỹ đang buộc phải rút dần ảnh hưởng của mình Tuy nhiên, lúc này Liên

Xô không muốn chiến tranh và xung đột vũ trang lại tiếp diễn có hại cho việc kiến tạo bầu không khí hòa dịu chung, đặc biệt là hòa dịu Xô – Mỹ Do đó, ở mức độ nhất định, Liên Xô bắt đầu cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt rất dè dặt trong việc viện trợ cho Việt Nam những loại vũ khí hiện đại Mặc dù vậy, Liên Xô vẫn tiếp tục quan tâm

và giúp đỡ công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của Việt Nam Đây chính là tiền đề quan trọng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước sau này

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc là nước viện trợ cho Việt Nam đồng thời phát động phong trào “Ủng hộ Việt Nam chống Mỹ” và lên án Mỹ rất mạnh Điều này được thể hiện rõ trong Tuyên bố ngày 19/7/1964 của Chính phủ Trung Quốc: “Chúng ta nói thẳng với Mỹ rằng, nhân dân Trung Quốc quyết không khoanh tay ngồi nhìn Mỹ mở rộng xâm lược ở Việt Nam và Đông Dương”1 Nhưng mặt khác, các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn nhắc nhở, ngăn ngừa Việt Nam không được đánh mạnh, và khuyên nên chờ đợi lâu dài Có thể nói, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn này luôn diễn ra trên hai mặt Trên thực tế, chính sách hai mặt đó xuất phát từ mục tiêu chiến lược và lợi ích dân tộc của Trung Quốc: thông qua vấn đề Việt Nam để tập hợp lực lượng chống Liên Xô và bình thường hóa quan hệ với Mỹ Sự kiện Trung Quốc bí mật mời Henry Kissinger, cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ, đến Bắc Kinh (1971), dàn xếp và chuẩn bị cho chuyến đi của Tổng thống Mỹ Nixon đến Bắc Kinh (2/1972) với Thông cáo chung Thượng Hải, trong đó có nội dung ngầm hiểu “giữ nguyên trạng ở miền Nam để Mỹ rút khỏi Đài Loan”2 Điều này cho thấy, Trung Quốc lợi dụng Mỹ đang gặp khó khăn ở miền Nam Việt Nam để nhanh chóng hòa hoãn với Mỹ trước khi Hiệp định Paris được ký kết, bởi nếu “vấn đề Việt Nam” tuột khỏi tay, thì Bắc Kinh không còn con chủ bài để mặc cả với Mỹ Để xoa dịu nỗi bất

1 Trần Văn Đào – Phan Doãn Nam, Giáo trình Lịch sử quan hệ quốc tế 1945 –

1990, Học viện Quan hệ quốc tế, 2001, tr 177

2 Trần Văn Đào – Phan Doãn Nam, sđd, tr 180

Trang 27

bình của Việt Nam, ngay sau đó, phía Trung Quốc cử Thủ tướng Chu

Ân Lai sang Việt Nam để giải thích với các nhà lãnh đạo Việt Nam và cam kết tiếp tục ủng hộ Việt Nam giành thắng lợi

Cũng như các nước khác, Trung Quốc hoan nghênh việc ký kết Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, triệt thoái hoàn toàn quân Mỹ bởi điều đó đưa đến việc giảm dần vai trò khống chế của Mỹ đối với châu Á và Đông Nam Á Tuy nhiên, Trung Quốc muốn giữ và kéo dài nguyên trạng tình hình ở Việt Nam sau Hiệp định Paris, sau khi Mỹ rút Thực tế, sau khi ký kết Hiệp định Paris, Trung Quốc không còn sử dụng vấn đề Việt Nam phục vụ cho chiến lược của mình, và vấn đề Việt Nam không còn ý nghĩa đối với lợi ích chiến lược của Trung Quốc Do đó, lợi ích của hai nước không còn trùng hợp như trước, hơn nữa còn hoàn toàn đối lập nhau trong thái độ đối với Liên Xô, nên chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam thay đổi nhanh chóng: từ hữu nghị, ủng hộ chuyển sang kiềm chế

và làm suy yếu ảnh hưởng của Việt Nam Từ năm 1973, Trung Quốc bắt đầu cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Hơn thế nữa, lợi dụng cơ hội lúc Mỹ rút, ngụy quyền Sài Gòn suy yếu, Trung Quốc đã đưa quân đội đánh chiếm các đảo Hoàng Sa (20/1/1974) để thực hiện “chiến lược biển Đông”, làm một “việc đã rồi” đối với Việt Nam, trước khi ta kịp hoàn toàn giải phóng miền Nam Kể từ đây, quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc ngày một xấu đi

3 NGOẠI GIAO VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY

3.1 Thời kỳ từ 1975 – 1986

Sau khi giải phóng miền Nam (1975) và thống nhất Tổ quốc (1976), ngoại giao Việt Nam đứng trước tình hình và nhiệm vụ mới Việt Nam đã lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước Đông Nam Á, châu Đại Dương, Tây Bắc Âu và một loạt nước khác ở châu lục có chế độ chính trị, xã hội khác nhau Ta cũng đã tiến hành đàm phán với Mỹ về việc bình thường hóa quan hệ Năm 1976, Việt Nam trở thành thành viên của Phong trào Không liên kết và sau đó là thành viên Liên Hợp Quốc (20/9/1977) và nhiều tổ chức quốc tế khác Tuy nhiên, từ cuối năm 1977, Việt Nam gặp nhiều khó khăn về đối ngoại Nhiệm vụ của ngoại giao lúc này là phải phá cho được âm

Trang 28

mưu của một số thế lực muốn cô lập ta trên trường quốc tế Phát huy chính nghĩa của ta trong việc giúp nhân dân Campuchia chống chế độ diệt chủng Pol Pot (7/1/1979), lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ các lực lượng chống đối ta trên trường quốc tế, ta đã tranh thủ mở các cuộc đối thoại với từng nước ASEAN để tìm một giải pháp hòa bình cho vấn đề Campuchia Ta cũng mở các cuộc thương lượng với Trung Quốc, Mỹ để giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ song phương Để tạo thế mạnh cho cuộc đấu tranh ngoại giao, chống lại âm mưu của các thế lực thù địch, ba nước Đông Dương đã tăng cường đoàn kết trong cuộc đấu tranh chung này Những nỗ lực ngoại giao của Việt Nam đã làm cho các nước, trước hết là các nước ASEAN thấy rõ chính nghĩa và thiện chí của ta, do đó họ ngày càng cảm thông và tích cực cùng ta tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Campuchia mà các bên đều có thể chấp nhận được Đây là điều giải thích tại sao các âm mưu nhằm gây

ra sự đối đầu giữa ba nước Đông Dương với các nước ASEAN đã bị thất bại và sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, các nước ASEAN đã chào đón Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội, xóa tan mọi bất đồng trong quá khứ để cùng nhau xây dựng ASEAN thành một trong những tổ chức khu vực thành công như hiện nay

3.2 Thời kỳ từ 1986 đến nay

Thực tế, trong những năm 80 (của thế kỷ XX), Việt Nam đứng trước những khó khăn rất hiểm nghèo Ở trong nước, chúng ta phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, kéo dài Về đối ngoại, Việt Nam phải đương đầu với tình trạng bị cô lập về chính trị, bị bao vây cấm vận về kinh tế1 Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa học

và công nghệ diễn ra như vũ bão, xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa nổi lên, đặt ra những cơ hội và thách thức cho nhiều quốc gia, trong đó

có Việt Nam Trước tình hình đó, vấn đề “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại” lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Việt Nam nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt, đưa đất vượt qua khó khăn, hội nhập cùng thế giới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986), xuất phát từ tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đã phân

1 Nguyễn Dy Niên, “Chính sách và hoạt động đối ngoại trong thời kỳ đổi mới”, Tạp

chí Cộng sản, số 17, tháng 9 – 2005, tr 30

Trang 29

tích và đánh giá đúng những thuận lợi và khó khăn của đất nước thông qua đường lối đổi mới toàn diện Về đối ngoại, Đại hội Đảng lần thứ

VI đã chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại

trong thời gian tới là: “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của

thời đại trong điều kiện kiện mới”1 Đảng ta nhận định: “Sự phát triển

của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật ngày nay và xu thế mở rộng nhân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế –

xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, chúng ta phải đặc biệt coi trọng kết hợp các yếu

tố dân tộc và quốc tế, các yếu tố truyền thống và thời đại, sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội…”2 Thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI (1986) của Đảng đề ra, cùng với việc đổi mới tư duy về kinh tế, ngoại giao cũng từng bước đổi mới, trước hết là đổi mới công tác nghiên cứu, phân tích,

đánh giá tình hình thế giới và quan hệ quốc tế; cách suy nghĩ về mối liên hệ trên một số vấn đề như giữa lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc

tế, giữa an ninh và phát triển, giữa hợp tác và đấu tranh ; tư duy về tập hợp lực lượng, cách đánh giá bạn – thù, từ đó xác định chủ trương, đường lối và có chính sách đối ngoại thích hợp

Thực ra, trước Đại hội VI, Bộ Chính trị đã có chủ trương chuyển

từ đối đầu sang đối thoại (Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị tháng 7/1986) Sau Đại hội VI (1986), Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết

13 (20/5/1988): “Nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình

mới” xác định cụ thể hơn nhiệm vụ của ngoại giao trong thời kỳ đổi

mới với chủ đề “giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế” Nghị quyết

khẳng định nước ta “lại càng có những cơ hội lớn để có thể giữ vững hòa bình và phát triển nền kinh tế” và xác định “với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập

và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn” Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh: Nếu chúng ta để lỡ những cơ hội lớn đó thì sẽ gặp nhiều

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB

Sự Thật, 1987, tr 30

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, sđd, tr 31

Trang 30

thách thức mới và sẽ thua kém về mọi mặt so với nhiều nước khác trên thế giới, do đó, an ninh chính trị, quốc phòng của ta cũng bị ảnh hưởng Tiếp theo đó, tháng 5/1988, Bộ Chính trị khóa VI đã ra Nghị

quyết số 13 nhấn mạnh về chính sách “thêm bạn bớt thù”, “đa dạng

hóa quan hệ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi”1 Nghị quyết xác định rõ mục tiêu chiến lược và cũng là lợi ích cao

nhất của Đảng và nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện

nay là: “ giữ vững hòa bình, tranh thủ điều kiện bên ngoài thuận lợi

và tranh thủ thời gian tập trung những cố gắng đến mức cao nhất nhằm từng bước ổn định và tạo cơ sở cho bước phát triển về kinh tế trong vòng 20 – 25 năm tới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ độc lập Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung cho hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”2

Bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tại Đại hội Đảng lần thứ VII vào tháng 6/1991, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp Đổi mới và đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Phù hợp với chiến lược đó, Đại hội VII xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại là nhanh chóng tạo nên một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định và đề ra chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, hợp tác bình đẳng

và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã

hội khác nhau; đẩy phương châm “thêm bạn bớt thù” lên mức độ cao hơn, khẳng định mạnh mẽ hơn với tuyên bố “Việt Nam muốn là bạn

với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”3, qua đó mở ra bước đột phá trong việc thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế Đại hội cũng đã xác định nguyên tắc

cơ bản trong hội nhập kinh tế quốc tế là: “mở rộng, đa dạng hóa và đa

phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi”4

Trang 31

Trong hội nhập quốc tế, trước hết và chủ yếu trên bình diện kinh

tế, là một nội dung quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hướng tới việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nước nhà Việc Đảng ta đề ra chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại lúc này, khi cục diện thế giới đã thay đổi căn bản, là hết sức đúng đắn và kịp thời nhằm xoay chuyển thế đối ngoại của ta: chủ động chuyển từ tình trạng đối đầu sang hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình, phá vỡ thế bị bao vây cô lập Sau 10 năm đổi mới (1986 – 1996), tình hình chính trị – xã hội Việt Nam dần đi vào ổn định; thế và lực của ta được nâng cao hơn; quan hệ quốc tế được mở rộng; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được cải thiện; khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập được tăng cường

Trên cơ sở những thành tựu đạt được, Đại hội Đảng lần thứ VIII

(6/1996) đã tiếp tục khẳng định: “thực hiện chính sách đối ngoại độc

lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”1 Đại hội VIII chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực

và thế giới” Đại hội nhấn mạnh quan điểm đa phương hóa và đa dạng

hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả, tranh thủ vốn, công nghệ và thị trường quốc tế; mở rộng quan hệ quốc

tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi2

Thế giới bước sang thế kỷ XXI với nhiều cục diện phức tạp, nhiều thách thức, song trên nền tảng cái gọi là phổ biến toàn nhân loại về đạo đức, về một tương lai tốt đẹp, thì tất cả các dân tộc trên hành tinh này đều có chung mục đích và nhiệm vụ làm thế nào để bảo vệ ngôi nhà chung của mình và mối quan hệ đa sắc tộc trong đó Xu hướng đấu tranh

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB

Chính trị Quốc gia, 1996, tr 41

2 Nguyễn Thế Lực – Nguyễn Hoàng Giáp, “Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam:

quá trình và một số kết quả”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 55, 2000, tr 8

Trang 32

vì một nền dân chủ đích thực, vì sự công bằng, bình đẳng và quan hệ kinh

tế cùng có lợi giữa các dân tộc ngày càng mạnh trong từng khu vực và rộng hơn là phạm vi toàn cầu Sự nhìn nhận lại mình, so sánh một cách khách quan và toàn diện hình ảnh cuộc sống và mức sống của dân tộc mình với các dân tộc khác để tìm ra giải pháp, phương châm đúng đắn cho sự phát triển bền vững của dân tộc là đương nhiên và ngày càng trở nên cấp thiết1 Từ thực tế đó, vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc và sức

mạnh thời đại càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết và nó cũng đang diễn ra và ngày càng trở nên cấp bách đối với Việt Nam

Chính từ thực tiễn nêu trên, Đại hội Đảng lần thứ IX (4/2001) đã

tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự

chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”2 Đại hội xác định độc lập tự chủ là cơ sở để thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương

hóa, đa dạng hóa, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, không chỉ “sẵn sàng là

bạn” mà còn sẵn sàng là “đối tác tin cậy của các nước” và “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Trong đó, vấn đề “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức

mạnh thời đại” được Đảng ta chú trọng đẩy mạnh Cụ thể: “phát triển

nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ… có tiềm lực kinh tế đủ mạnh” để “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”3 Tiếp đó, Hội nghị Trung ương VIII (khóa IX) đã tiếp tục khẳng

định “dành ưu tiên cao cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng đa dạng hóa thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo lập lợi ích đan xen với các đối tác”4

1 Trần Nguyên Việt, “Vấn đề kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong

bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại”, Tạp chí Khoa học

4 Chu Văn Chúc, “Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại và hình thành đường lối đối

ngoại đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 58, 2004, tr 9

Trang 33

Kế thừa tư tưởng chỉ đạo về đối ngoại do Đại hội VII, VIII và IX nêu ra, Đại hội Đảng lần thứ IX đã bổ sung và nhấn mạnh quan điểm:

“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình,

hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa,

đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế và khu vực”1 Đại hội X cũng đã nhấn mạnh: vì mục tiêu phát triển, các

hoạt động đối ngoại phải hướng mạnh vào nhiệm vụ kinh tế – xã hội thiết thực như mở rộng thị trường, có thêm đối tác, tranh thủ tối đa vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý Nói một cách hình tượng, hoạt động đối ngoại vừa phải tạo môi trường quốc tế “vô hình” thuận lợi, vừa phải đem lại những lợi ích hữu hình trong đó kim ngạch xuất khẩu phải tăng bình quân hàng năm ít nhất là 16% vốn nước ngoài và ít nhất phải đóng góp hơn 30% tổng số vốn đầu tư của toàn xã hội2 Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc

tế hiện nay và những năm tới đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh

tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất Tựu chung lại, hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam phải trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc

tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường3

Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm

1986 đến nay đã thu được những thành tựu hết sức to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi bộ mặt của đất nước, tạo tiền đề và động lực cho Việt Nam tiến bước nhanh hơn, vững chắc hơn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó, ngoại giao Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng và xứng đáng vào thắng lợi chung đó của đất

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB

Chính trị Quốc gia, 2006, tr 112

2 Vũ Khoan, “Đại hội X của Đảng và đường lối đối ngoại”, Báo Nhân dân, ngày

24/8/2006

3 Nguyễn Hoàng Giáp, “Chính sách đối ngoại của Đại hội X và kết quả sau một

năm triển khai thực hiện”, Thông tin Nghiên cứu quốc tế, số 1 (27), 2007, tr 2–3

Trang 34

nước Quán triệt đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, của đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế, vận dụng tốt chủ trương “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại”, ngoại giao đã trở thành mặt trận quan trọng trong thời bình, góp phần giữ vững và củng cố môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế ngày càng thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế và uy tín của nước ta ở khu vực và trên thế giới1

Thành tựu đối ngoại có tính chất bao trùm trong thời gian qua là

từ chỗ bị cô lập về chính trị, bao vây cấm vận về kinh tế, Việt Nam đã chủ động, nỗ lực mở rộng hơn bao giờ hết quan hệ đối ngoại của mình theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa Trong 20 năm đổi mới (1986 – 2006), Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao thêm với 57 nước, nâng tổng số quốc gia có quan hệ chính thức với ta từ 112 lên 170 nước; và có quan hệ buôn bán với 221 thị trường và đầu tư với 74 quốc gia và vùng lãnh thổ Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam vừa có quan

hệ ngoại giao, kinh tế, thương mại với tất cả các cường quốc, với các trung tâm chính trị – kinh tế trên thế giới, vừa là thành viên tích cực của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Phong trào không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, Liên Hợp Quốc, WTO… Thành tựu được coi là bước phát triển lớn, mang tính đột phá trong triển khai hoạt động đối ngoại thời kỳ Đổi mới, đó là Việt Nam đã đi từ bình thường hóa quan

hệ đến từng bước nâng cấp và xác lập khuôn khổ quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước lớn, các trung tâm kinh tế – chính trị lớn và các nước công nghiệp phát triển như Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ Điển hình nhất là quan hệ với Mỹ Từ chỗ hai nước thù địch trước đây, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao và hợp tác trên nhiều lĩnh vực với Mỹ trên tinh thần gác lại quá khứ, hướng tới tương lai Trong chuyến thăm Mỹ tháng 6/2005 của Thủ

tướng Phan Văn Khải, hai nước đã xác lập khuôn khổ “quan hệ hữu

nghị, đối tác xây dựng, hợp tác nhiều mặt, ổn định, lâu dài trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi”2

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, sđd, tr 161

2 Nguyễn Dy Niên, tlđd, tr 33

Trang 35

Bên cạnh đó, Việt Nam đã tạo dựng được khuôn khổ quan hệ hợp tác hữu nghị, ổn định lâu dài và ngày càng đi vào chiều sâu với các nước láng giềng, khu vực; góp phần đáng kể vào việc duy trì môi trường an ninh xung quanh Việt Nam và phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế Các hiệp ước, hiệp định ký với Trung Quốc, Campuchia trong thời gian qua đã tạo cơ sở pháp lý cho việc biến đường biên giới chung Việt Nam với các nước láng giềng thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, thịnh vượng chung

Trong triển khai chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam đã tích cực và chủ động củng cố và phát triển quan hệ hợp tác với các nước bạn bè truyền thống và các nước đang phát triển khác ở Trung Đông, châu Phi và Mỹ La tinh

Thành tựu đạt được trong quá trình triển khai chủ trương “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại” là quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tranh thủ được nhiều nguồn vốn ODA

và FDI; mở rộng thị trường nước ngoài Nhằm phát huy nội lực và ra sức tranh thủ ngoại lực, Việt Nam coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế đã ngày càng phát huy vai trò; nội dung kinh tế ngày càng thể hiện rõ nét trong mọi hoạt động chính trị đối ngoại Ngoại giao đã kết hợp tốt giữa chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại, góp phần tạo thêm nguồn lực từ bên ngoài, mở rộng thị trường, gia tăng đối tác, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

Trong thời gian đổi mới, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thương mại với trên 150 nước, tranh thủ được hơn 30 tỷ USD vốn ODA từ 50 nước, vùng lãnh thổ và định chế tài chính – tiền tệ quốc tế và 60,473 tỷ USD vốn đăng ký FDI, với 6 813 dự án (tính đến 18/12/2006)1, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và thiết thực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Việc trở thành thành viên WTO (7/11/2006) vừa tạo thuận lợi, vừa đặt ra không ít thách thức đối với Việt Nam, song thực sự đây làm một bước đột phá thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Việc gia nhập WTO tạo ra cơ hội cho Việt Nam tiếp cận thị

1 Vũ Dương Huân, “Ngoại giao Việt Nam trong 20 năm đổi mới: Những thành tựu,

tồn tại và bài học”, Thông tin Nghiên cứu quốc tế, số 1 (27), 2007, tr 13

Trang 36

trường hàng hóa và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm Việt Nam có điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia Với nền kinh tế có độ mở lớn, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng và là yếu

tố bảo đảm tăng trưởng của Việt Nam1

Hoạt động ngoại giao đa phương đã có bước phát triển vượt bậc; góp phần nâng cao hơn nữa vai trò và uy tín của Việt Nam tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế như Liên hiệp quốc, Phong trào Không liên kết, Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái bình dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), từng bước đưa Việt Nam hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới Với vị thế mới, Việt Nam ngày càng giữ vai trò quan trọng tại Liên Hợp Quốc Nhờ đó Việt Nam được tín nhiệm giữ các chức vụ quan trọng tại các kỳ họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, được bầu vào Hội đồng kinh tế xã hội (ECOSOC) và Ban điều hành chương trình phát triển (UNDP), Quỹ Dân số thế giới (UNPFA), Ủy ban Quyền con người… Trong quá trình này, Việt Nam luôn được các nước tín nhiệm và ủng hộ Tháng 10/2006, các nước châu Á đã nhất trí

đề cử duy nhất Việt Nam vào vị trí ứng cử thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc Bên cạnh đó, Việt Nam cũng khá tích cực, chủ động phát huy vai trò tại các tổ chức, diễn đàn quốc

tế khác, tích cực tham gia vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa các dân tộc và đẩy mạnh việc tham gia vào hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế

Việc tăng cường quan hệ với các tổ chức quốc tế, Việt Nam nhận được sự hỗ trợ vật chất, tài chính tạo nên nguồn ngoại lực quan trọng, qua đó phục vụ đắc lực cho quá trình phát triển đất nước trong công cuộc đổi mới Sau gần 30 năm Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, thế giới khi nói về Việt Nam không còn xem đó là đất nước của chiến tranh và nghèo nàn lạc hậu mà là một quốc gia đang có những bước tiến nhanh chóng, sâu rộng trên con đường phát triển, hội nhập khu vực và quốc tế

1 Nguyễn Tấn Dũng, “Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, cơ hội – thách thức

và hành động của chúng ta”, Tạp chí Cộng sản, số 23, 2006, tr 6

Trang 37

4 KẾT LUẬN

Với việc tuyên bố thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2/9/1945, nền ngoại giao mới của Việt Nam cũng

đã ra đời Từ năm 1945, Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới trong lịch

sử của dân tộc, chứng kiến những bước tiến đầy hy sinh, gian khổ nhưng vô cùng vinh quang của cả dân tộc, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa và nô lệ trở thành một nước tự do và độc lập, đang xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tôi luyện nền ngoại giao Việt Nam trở thành nền ngoại giao cách mạng và hiện đại, lớn mạnh theo từng giai đoạn lịch sử và đóng góp xứng đáng vào thắng lợi chung của cả dân tộc

Cùng với tiến trình phát triển và thắng lợi của cả dân tộc, ngoại giao Việt Nam đã góp phần vào những thành tựu vĩ đại đó Ngoại giao Việt Nam ngay trong những ngày tháng đầu tiên của nước Việt Nam mới đã phải đương đầu với thử thách khi vận mệnh đất nước như ngàn cân treo sợi tóc Lúc bấy giờ ngoại giao đã trở thành một vũ khí hữu hiệu trong nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Đảng và Bác Hồ để bảo

vệ nền độc lập vừa mới giành được, tranh thủ hoà bình, nêu cao chính nghĩa, tập hợp lực lượng toàn dân tộc và sự ủng hộ quốc tế, chuẩn bị chống lại âm mưu quay trở lại nô dịch Việt Nam một lần nữa của chủ nghĩa thực dân Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền ngoại giao mới của nước ta đã nhanh chóng trở thành một binh chủng hợp thành có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam Nền ngoại giao đã trưởng thành cùng với những bước đi của sự nghiệp cách mạng, chủ động và sáng tạo, nêu cao chính nghĩa, làm cầu nối dân tộc với thời đại, Việt Nam với thế giới Nhờ đó, công tác ngoại giao đã góp phần đắc lực vào việc tạo nên phong trào thế giới rộng khắp ủng hộ Việt Nam Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta có được sức mạnh vô địch là nhờ kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Các hoạt động ngoại giao đầy sáng tạo trong thời kỳ 1945 – 1946 ; trong cuộc kháng chiến trường kỳ lần thứ nhất dẫn tới Hiệp định Giơnevơ 1954 ; trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dẫn tới Hiệp định Paris 1973 là những dấu mốc quan trọng trong quá trình trưởng thành của ngành ngoại giao, góp phần đưa đến ngày toàn thắng 30/4/1975, Việt Nam được hoàn toàn độc lập, Tổ quốc được thống nhất

Trang 38

Từ sau 1975, trong các hoàn cảnh khác nhau trên thế giới và khu vực, và trong mọi thời kỳ của đất nước, ngoại giao Việt Nam vẫn là một lực lượng chủ động và tích cực góp phần quan trọng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Phối hợp chặt chẽ với các ngành, đặc biệt là kinh tế, an ninh, quốc phòng, Ngoại giao Việt Nam đã tham gia hiệu quả vào việc phá vỡ thế bao vây cấm vận, góp sức bình thường hoá quan hệ quốc tế phức tạp, mở rộng giao lưu hữu nghị, hỗ trợ đắc lực cho việc đảm bảo sự ổn định chính trị, tranh thủ và phát huy mọi nguồn lực để thực hiện thành công đường lối đối mới Ngày nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 167 nước ; có quan hệ kinh tế, thương mại và hợp tác đầu tư với gần 165 quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt là có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước láng giềng, các nước lớn và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ Việt Nam là thành viên tích cực của Liên Hợp Quốc, của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực Thế kỷ XXI đối với dân tộc Việt Nam là thế kỷ tiếp tục xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhiệm vụ bao trùm công tác đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới là giữ vững hoà bình, ổn định cho đất nước, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

Tổ quốc Thông qua chính sách đối ngoại đổi mới, Việt Nam tuyên bố với thế giới rằng: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải nhằm phục vụ chiến lược phát triển kinh

tế, từng bước đổi mới cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh chóng

và bền vững Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại về tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hoá, giáo dục,

y tế, cũng như trên các tuyến Nhà nước, Đảng, các đoàn thể nhân dân

và các tổ chức phi chính phủ Đó là một nền ngoại giao tôn trọng triệt

để các nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ và phát triển kinh tế, tài nguyên, môi trường

và an ninh quốc gia, gìn giữ và phát huy truyền thống và bản sắc tốt đẹp của dân tộc

Trang 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng

Việt Nam 1945 – 1975: Thắng lợi và bài học, NXB Chính trị Quốc gia, 2000

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI,

VII, VIII, IX, X, XI, NXB Sự thật – Chính trị Quốc gia, 1987, 1991, 1996, 2001,

5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, 5, 6, NXB Chính trị Quốc gia, 2000

6 Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, NXB Chính trị

9 Trần Văn Đào – Phan Doãn Nam, Giáo trình Lịch sử Quan hệ quốc tế 1945 –

1990, Học viện Quan hệ Quốc tế, 2001

10 Võ Anh Tuấn, Phong trào không liên kết, NXB Chính trị Quốc gia, 1999

Trang 40

GIÁO DỤC CÁCH MẠNG

Ở VÙNG CĂN CỨ ĐỊA THỦ DẦU MỘT –

BÌNH DƯƠNG (1945 – 1975) Nguyễn Văn Hiệp – Phạm Văn Thịnh(*)

1 VÙNG ĐẤT – CON NGƯỜI VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC Ở THỦ DẦU MỘT – BÌNH DƯƠNG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

1.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội và hành chính tỉnh Bình Dương

Tỉnh Bình Dương thuộc miền Đơng Nam Bộ Phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía đơng giáp tỉnh Đồng Nai, phía nam giáp thành phố

Hồ Chí Minh Diện tích tự nhiên tồn tỉnh là 2 695,22 km2; gồm 7 đơn

vị hành chính cấp thành phố, huyện, thị (Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ

An, Bến Cát, Dầu Tiếng, Tân Uyên, Phú Giáo); thành phố Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế – chính trị – văn hĩa của tỉnh

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Bình Dương được biết đến là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về tốc

độ cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa với gần 30 khu cơng nghiệp cĩ kết cấu hạ tầng hồn chỉnh, đồng bộ tiêu biểu cho cả nước, nhiều khu đơ thị mới được xây dựng hiện đại (điển hình là Thành Phố Mới), cơ sở

hạ tầng giao thơng, cơ sở hạ tầng tài chính, thương mại, dịch vụ phát triển mạnh; đời sống xã hội đã và đang chuyển biến nhanh chĩng từ một xã hội nơng nghiệp – nơng thơn sang xã hội cơng nghiệp – đơ thị Ngược dịng lịch sử, địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay là nơi được lưu dân người Việt khai phá từ khá sớm (khoảng thế kỷ XVII) Sau hơn hai thế kỷ lao động cần cù, sáng tạo, cho đến đầu thế kỷ XIX, các thế hệ cư dân ở Bình Dương đã làm thay đổi diện mạo của vùng

(*) Tiến sĩ, (**) Thạc sĩ Trường Đại học Thủ Dầu Một

Ngày đăng: 24/10/2022, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An, Hệ thống xã hội tộc người của người Stiêng ở Việt Nam (từ thế kỷ XIX đến 1975), NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống xã hội tộc người của người Stiêng ở Việt Nam (từ thế kỷ XIX "đến 1975)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
2. Phan Xuân Biên, Miền Đông Nam Bộ ‒ con người và văn hóa, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền Đông Nam Bộ ‒ con người và văn hóa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
3. Phan Xuân Biên (chủ biên), Văn hóa Chăm, NXB Khoa học Xã hội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Chăm
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
4. Nguyễn Thành Đức, Múa dân gian các tộc người Mạ, Châu Ro, Stiêng vùng Đông Nam Bộ, NXB Văn hóa Dân tộc, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa dân gian các tộc người Mạ, Châu Ro, Stiêng vùng "Đông Nam Bộ
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
5. Mạc Đường và các tác giả, Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Sở Văn hóa tỉnh Lâm Đồng, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng
6. Mạc Đường và các tác giả, Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, NXB Tổng hợp Sông Bé, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc ở Sông Bé
Nhà XB: NXB Tổng hợp Sông Bé
7. Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), NXB Khoa học Xã hội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
8. Nguyễn Đình Khoa, Các dân tộc ở Việt Nam – dẫn liệu nhân học – tộc người, NXB Khoa học Xã hội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở Việt Nam – dẫn liệu nhân học – tộc người
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
9. H. Azemar – Les Stieng de Bơlâm – Excuristons et Ramnaissances, Saigon, 1887 Khác
10. Henri Maitre – Les Jungles Moi – Emile Larose, Paris, 1912 Khác
11. Minority group in the Republic of Vietnam. Headquarters, Repartement of the Azmy – 1966 Khác
12. Bernart Bourottle, Essai d’histoire de populations montagnaid dusud – Indochinois jusqu’a 1945 – BSEI XX, 1955 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm