1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn hóa học 9 ở trường THCS

19 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 242,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn hoá học THCS cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, là giáo viên bộ môn hoá học thì cần hình thành ở các em học sinh một kỹ

Trang 1

MỤC LỤC

1 Giải pháp 1: Lồng ghép các hiện tượng vào phần mở bài 4

2 Giải pháp 2: Lồng ghép các hiện tượng trong quá trình giảng

3 Giải pháp 3: Lồng ghép các hiện tượng khi kết thúc hoặc củng

Trang 2

A MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hoá học có vai trò rất to lớn trong sản xuất, đời sống, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Hoá học cũng có vai trò rất quan trong trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việc xác định mục tiêu đào tạo của môn Hoá học trong trường THCS có vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học môn học Nhằm thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục là đào tạo thế hệ

trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước những con người “vừa hồng

vừa chuyên”

Bản thân là một giáo viên đứng lớp giảng dạy bộ môn Hóa học nhận thấy rằng: Hoá học là bộ môn khoa học rất quan trọng trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng Môn hoá học THCS cung cấp cho học sinh một

hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, là giáo viên

bộ môn hoá học thì cần hình thành ở các em học sinh một kỹ năng cơ bản, phổ thông, thói quen học tập và làm việc khoa học để làm nền tảng cho việc giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động

Tuy nhiên việc lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh là hết sức khó khăn Mặt khác, Hóa học là một môn học hoàn toàn mới lạ đối với học sinh THCS, mà khối lượng kiến thức học sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều Phần lớn các bài gồm những khái niệm mới, rất trừu tượng, khó hiểu Do đó, giáo viên cần tìm ra phương pháp dạy học gây được hứng thú học tập bộ môn giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không gượng ép là điều cần quan tâm Khi học sinh

có hứng thú, niềm say mê với môn Hóa sẽ giúp học sinh phát huy được năng lực tư duy, khả năng tự học và óc sáng tạo Chính vì vậy, Tôi nghĩ đổi mới phương pháp dạy học phải thể hiện được bốn tính chất cơ bản sau:

Một là: Học để biết (Cốt lõi là hiểu)

Hai là: Học để làm (Trên cơ sở hiểu)

Ba là: Học để cùng sống với nhau (Trên cơ sở hiểu nhau)

Bốn là: Học để làm người (Trên cơ sở hiểu bản thân)

Kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy hóa học tôi nhận thấy rằng: Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày Rất nhiều kiến thức hóa học có thể liên hệ được với các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta

Xuất phát từ những thực tế đó và một số kinh nghiệm trong giảng dạy bộ môn hóa học, tôi thấy để có chất lượng giáo dục bộ môn hóa học cao, người giáo viên ngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các hiện tượng hóa học thực tiễn trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình

Trang 3

thức khác nhau nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo niềm tin,

niềm vui, hứng thú trong học tập bộ môn Từ những lí do đó tôi chọn đề tài: “Lồng

ghép giải thích các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn hóa học 9 ở trường THCS” để nghiên cứu

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Xây dựng hệ thống một số hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài giảng trong chương trình hóa học lớp 9

Vận dụng hệ thống các hiện tượng đã xây dựng để dạy học chương trình hóa

9 nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn Hóa học cho học sinh

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Quá trình dạy học môn hóa học 9 ở trường THCS

Các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp tích hợp môi trường, kĩ năng vận dụng kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của bộ môn hóa học

Học sinh khối 9trường THCS Hà Tiến

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nêu vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự học và thảo luận theo nhóm học tập

- Giáo viên giải đáp thắc mắc, tổng kết

Trang 4

B NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

Đối với học sinh THCS các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó Người giáo viên dạy hóa học phải biết nắm tâm lý và đặc điểm lứa tuổi của học sinh, trong đó phương pháp dạy học bằng cách lồng ghép Trả lời các hiện tượng hóa học thực tiễn trong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày để các em thấy môn hóa học rất gần gũi với các em

Trong quá trình dạy học, dựa vào sự hướng dẫn của giáo viên học sinh thực hiện các hoạt động chủ yếu theo một quy trình sau:

Thu thập thông tin: thông qua việc tự làm thí nghiệm hoặc quan sát thí nghiệm do giáo viên biểu diễn, quan sát hiện tượng tự nhiên, đọc tài liệu, xem tranh ảnh, ôn lại những kiến thức đã học, học sinh sẽ thu được những thông tin cần thiết về các hiện tượng hóa học cần học

Xử lí thông tin: thông qua một hệ thống câu hỏi, giáo viên hướng dẫn học sinh căn cứ vào thông tin đã thu thập để rút ra những kết luận cần thiết

Vận dụng: Dựa vào kết luận đã rút ra từ bài học, học sinh vận dụng vào thực tiễn để hiểu sâu bài hơn

Tuy nhiên tùy thuộc vào từng bài giảng cụ thể giáo viên có thể lồng ghép trả lời các hiện tượng trong thực tế vào bài dạy của mình cho phù hợp

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

1 Thực trạng

Trước tình hình học hoá học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, về tư tưởng vừa mang bản sắc dân tộc mà không mất đi tính cộng đồng trên toàn thế giới, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có tính chất cập nhật

và mới mẽ, đảm bảo: tính khoa học – hiện đại, cơ bản; tính thực tiễn và giáo dục

kỹ thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm

Tuy nhiên mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả những quan điểm nêu trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm dụng khi lượng kiến thức không đồng nhất

Môn hoá học trong trường THCS là một trong môn học khó, nếu không

có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của hoá học

Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Do phương pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận,

Trang 5

truyền thụ tri thức một chiều Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức hoá học

Có những vấn đề hoá học có thể giúp học sinh Trả lời những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hoá học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học; làm cho hoá học không khô khan, bớt

đi tính đặc thù và phức tạp

2 Kết quả của thực trạng

Qua giảng dạy tôi thấy nhiều học sinh chưa thực sự yêu thích môn hóa học và kết quả học tập của học sinh còn thấp Tôi đã tiến hành khảo sát và thu được kết năm học 20… –20… như sau:

a Kết quả khảo sát việc ham thích học môn Hoá học

a Kết quả học tập:

Qua khảo sát thực tế tôi thấy rằng đa phần học sinh không thích hoặc sợ

và kết quả học tập chưa cao Vì vậy tôi đã nghiên cứu và đưa ra đề tài: “Lồng

ghép các hiện tượng thực tế trong giảng dạy môn hóa học 9 ở trường THCS”

III CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Giải pháp 1: Lồng ghép các hiện tượng vào phần mở bài

Ví dụ 1: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?

Trả lời

- Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô tô, xe máy)

có chứa các khí CO2, SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi nước trong không khí tạo ra axit các axit tương ứng

CO2 + H2O → H2CO3

SO2 + H2O → H2SO3

2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4

2NO + O2 → 2NO2

4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3

- Axit H2CO3, H2SO3, H2SO4, HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit Trong đó H2SO4 là nguyên nhân chính gây ra mưa axit

- Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm

từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là CaCO3):

CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O

Trang 6

Áp dụng: Bài 1: Tính chất hóa học của Oxit, khái quát về sự phân loại oxit

Ví dụ 2: Tại sao khi cho vôi sống vào nước, ta thấy khói bốc lên mù mịt, nước vôi như bị sôi lên và nhiệt độ hố vôi rất cao có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người và động vật Do đó cần tránh xa hố đang tôi vôi hoặc sau khi tôi vôi ít nhất 2 ngày?

Trả lời

- Khi tôi vôi đã xảy ra phản ứng tạo thành canxi hiđroxit:

CaO + H2O  Ca(OH)2

- Phản ứng này tỏa rất nhiều nhiệt nên làm nước sôi lên và bốc hơi đem theo

cả những hạt Ca(OH)2 rất nhỏ tạo thành như khói mù trắng Do nhiệt tỏa ra nhiều nên nhiệt độ của hố vôi rất cao Do đó người và động vật cần tránh xa hố vôi để tránh rơi xuống hố vôi tôi sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng

Áp dụng: Bài 2: Một số oxit quan trọng

Ví dụ 3: Tại sao những đồ dùng bằng sắt thường bị gỉ tạo thành gỉ sắt và dần dần đồ vật bị hỏng và không dùng được ?

Trả lời

- Khi tiếp xúc với không khí ẩm có oxi, hơi nước sắt bị oxi hóa theo các phản ứng sau:

2Fe + O2 + 2H2O không khí ẩm 2Fe(OH)2

4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O  4Fe(OH)3

- Fe(OH)3 bị loại nước dần tạo thành Fe2O3 theo thời gian Vì gỉ sắt

Fe2O3.nH2O xốp nên quá trình ăn mòn tiếp diễn vào lớp bên trong đến khi toàn bộ khối kim loại đều gỉ Gỉ sắt không còn tính cứng, ánh kim, dẻo của sắt mà xốp, giòn nên làm đồ vật bị hỏng

Áp dụng: Bài 21: Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại không bị ăn mòn

Ví dụ 4: Tại sao khi ta ăn cùi dừa, lạc, vừng lại dễ chán (bị ngấy)?

Trả lời

- Trong cùi dừa, lạc, vừng chứa hàm lượng chất béo tương đối lớn Nên khi ta ăn cùi dừa, lạc, vừng lại dễ chán (bị ngấy)

Áp dụng: Bài 47: Chất béo

Ví dụ 5: Hiện tượng tạo thạch nhũ ở các hang động với những hình dạng phong phú đa dạng được hình thành như thế nào ?

Trả lời

- Ở các vùng núi đá vôi, thành phần chủ yếu là CaCO3 Khi trời mưa trong không khí có CO2 tạo thành môi trường axit nên làm tan được đá vôi Những giọt mưa rơi xuống sẽ bào mòn đá theo phương trình:

CaCO3 + CO2 + H2O  Ca(HCO3)2

- Theo thời gian tạo thành các hang động Khi nước có chứa Ca(HCO3)2 ở đá thay đổi về nhiệt độ và áp suất nên khi giọt nước nhỏ từ từ có cân bằng:

Ca(HCO3)2  CaCO3 + CO2  + H2O

- Như vậy lớp CaCO3 dần dần lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành những hình thù đa dạng

Áp dụng: Bài 29: Axit cacbonic và muối cacbonat

Trang 7

Ví dụ 6: Tại sao khi đốt bông hoặc giấy, sản phẩm thu được làm đục nước vôi trong và có hơi nước bám lên thành ống nghiệm

Trả lời

- Bông hoặc giấy đều là hợp chất hữu cớ, nên khi đốt cháy sẽ sinh ra khí CO2

và hơi nước Chính khí CO2 này làm đục nước vôi trong

Áp dụng: Bài 34: Khái niệm về hợp chất hữu cơ và hóa học hữu cơ

Ví dụ 7: Dấm ăn là gì? Có ích gì?

Trả lời

- Giấm ăn là dung dịch axit axetic (CH3COOH) có nồng độ từ 2-5% Dấm

ăn có tác dụng tạo vị chua và có tác dụng làm cho cơ thể có cảm giác muốn ăn

và tiêu hoá tốt, có khả năng tiêu độc, sát khuẩn

Áp dụng: Bài 45: Axit axetic

2 Giải pháp 2: Lồng ghép các hiện tượng trong quá trình giảng dạy

Ví dụ 1: Tại sao người ta thường bón vôi cho ao, hồ nuôi trồng thủy sản?

Trả lời

- Nghề nuôi trồng thủy sản rất coi trọng việc cải tạo ao nuôi bởi sau một

vụ nuôi toàn bộ chất thải, thức ăn dư thừa, mầm bệnh đều tích tụ ở đáy ao và ngấm vào trong nền đáy và bờ ao

- Đối với ao mới đào việc cải tạo ao cũng vô cùng quan trọng nhất là những ao ở vùng chua phèn, chiêm trũng bởi những ao này thường có pH<5, kém màu mỡ nên không tạo thức ăn tự nhiên trong ao và môi trường không phù hợp cho cá phát triển do đó nếu không cải tạo tốt cá sẽ chậm lớn hoặc có thể bị chết vì chua phèn Chính vì thế người ta thường bón vôi để:

- Khử trùng đáy ao nhằm làm môi trường đáy tơi xốp, giúp động vật đáy phát triển tạo cơ sở thức ăn cho cá, giúp pH môi trường nước luôn luôn ổn định

ở mức kiềm yếu, kích thích các phiêu sinh vật làm thức ăn của cá phát triển tốt

và tăng hiệu quả của các loại phân bón, tăng hàm lượng Ion Caxi có lợi cho sinh trưởng của cá

CaO + H2O  Ca(OH)2

- Mặt khác bón vôi có tác dụng diệt ký sinh trùng gây bệnh, diệt các loại

cá tạp cá dữ có hại cho cá

Áp dụng: Bài 2: Một số oxit quan trọng (Chuyển phần thang pH)

Ví dụ 2: Vì sao nước rau muống đang xanh khi vắt chanh vào thì chuyển sang màu đỏ?

Trả lời

- Có một số chất hóa học gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho màu của dung dịch thay đổi khi độ pH của dung dịch thay đổi Trong rau muống (và vài loại rau khác) có chất chỉ thị màu này, trong chanh có 7% axit xitric Vắt chanh vào nước rau làm dung dịch có tính axit, do đó làm thay đổi màu của nước rau Khi chưa vắt chanh nước rau muống màu xanh là chứa chất kiềm

Áp dụng: Bài 3: Tính chất hóa học của axit (sau tính chất tác dụng với chất chỉ thị màu)

Trang 8

Ví dụ 3: Axit clohiđric có vai trò như thế nào đối với cơ thể ?

Trả lời

- Axit clohiđric có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơ thể Trong dịch dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ khoảng chừng 0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng với là 4 và 3) Ngoài việc hòa tan các muối khó tan, nó còn là chất xúc tác cho các phản ứng phân hủy các chất gluxit (chất đường, bột) và chất protein (đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thụ được

- Lượng axit trong dịch dạ dày nhỏ hơn hay lớn hơn mức bình thường đều gây bệnh cho người Khi trong dịch dạ dày có nồng độ axit nhỏ hơn 0,0001 mol/l (pH>4,5) người ta mắc bệnh khó tiêu, ngược lại nồng độ axit lớn hơn 0,001 mol/l (pH<3,5) người ta mắc bệnh ợ chua

Áp dụng: Bài 4: Một số axit quan trọng (ứng dụng của axit clohiđric)

Ví dụ 4: Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể rót

từ từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ?

Trả lời

- Khi axit sunfuric tan vào nước sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng hơn trong nước Nếu bạn cho nước vào axit, nước sẽ nổi trên bề mặt axit Tại vị trí nước tiếp xúc với axit nhiệt độ cao làm cho nước sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm

- Trái lại khi bạn cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit

sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy

nước, sau đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch Như vậy nhiệt lượng sinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh

- Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là “ phải

rót từ từ ” axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh Bởi vì thủy

tinh sẽ dễ vở khi tăng nhiệt độ khi pha

Áp dụng: Bài 4: Một số axit quan trọng (tính chất vật lí của axit sunfuric đặc)

Ví dụ 5: Vì sao muối thô dễ bị chảy nước ?

Trả lời

- Muối ăn có thành phần chính là natri clorua, ngoài ra còn có ít muối khác như magie clorua …, Magie clorua rất ưa nước, nên nó hấp thụ nước trong không khí và rất dễ tan trong nước Muối sản xuất càng thô sơ thì càng dễ bị chảy nước khi để ngoài không khí

Áp dụng: Bài 10: Một số muối quan trọng (phần trạng thái tự nhiên)

Ví dụ 6: Muối ở biển có từ đâu ?

Trả lời

- Các con sông, suối, …Các dòng nước trên lục địa đều chảy về biển, đại dương và hoà tan mọi vật thể có thể hoà tan Do quá trình bay hơi, các nguyên tố, hợp chất tụ tập trong nước biển ngày càng nhiều theo thời gian, trong đó nhiều nhất là NaCl, MgCl2 và một số ít muối khác tạo nên muối biển

Trang 9

Áp dụng: Bài 10: Một số muối quan trọng (phần trạng thái tự nhiên)

Ví dụ 7: Vì sao nhôm lại được sử dụng làm dây dẫn điện cao thế? Còn đồng lại được sử dụng làm dây dẫn điện trong nhà?

Trả lời

- Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhôm nhưng nhôm (khối lượng riêng của nhôm

là 2,70g/cm3) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 8,96g/cm3) Do đó, nếu như dùng đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột điện sao cho chịu được trọng lực của dây điện Việc làm đó không có lợi về mặt kinh tế Còn trong nhà thì việc chịu trọng lực của dây dẫn điện không ảnh hưởng lớn lắm.Vì vậy ở trong nhà thì ta dùng dây đẫn điện bằng đồng

Áp dụng: Bài 15: Tính chất vật lí của kim loại (tính dẫn điện của kim loại)

Ví dụ 8: Tại sao không nên dùng xô, chậu, nồi nhôm để đựng vôi, nước vôi tôi hoặc vữa xây dựng?

Trả lời

- Vì nhôm là kim loại tạo ra oxit và hiđroxit lưỡng tính và có khả năng tác dụng với kiềm

2Al + Ca(OH)2 + 2H2O   Ca(AlO2)2 + 3H2

Al2O3 + Ca(OH)2   Ca(AlO2)2 + H2O

Áp dụng: Bài 18: Nhôm (Nhôm có tính chất hóa học nào khác)

Ví dụ 9: Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu than củi ?

Trả lời

- Do than củi xốp, có tính hấp phụ cao nên hấp phụ hơi khét của cơm làm cho cơm đỡ mùi khê

Áp dụng: Bài 27: Cacbon (tính hấp phụ của cacbon)

Ví dụ 10: Vì sao về mùa đông không được sưởi ấm bằng than trong nhà khi ngủ?

Trả lời

- Vì khi ủ than để sưởi ấm lượng oxi sẽ ít nên khi than cháy sẽ sinh ra lượng khí Cacbon oxit nhiều Cacbon oxit là cực kỳ nguy hiểm, do việc hít thở phải một lượng quá lớn CO sẽ dẫn tới thương tổn do giảm ôxy trong máu hay tổn thương

hệ thần kinh cũng như có thể gây tử vong Nồng độ chỉ khoảng 0,1% CO trong không khí cũng có thể là nguy hiểm đến tính mạng

- CO là chất khí không màu, không mùi và không gây kích ứng nên rất nguy hiểm vì người ta không cảm nhận được sự hiện diện của CO trong không khí CO có tính liên kết với hemoglobin (Hb) trong hồng cầu mạnh gấp 230-270 lần so với ôxy nên khi được hít vào phổi CO sẽ gắn chặt với Hb thành HbCO do

đó máu không thể chuyên chở ôxy đến tế bào CO còn gây tổn thương tim do gắn kết với myoglobin của cơ tim

- Triệu chứng ngộ độc CO thường bắt đầu bằng cảm giác bần thần, nhức đầu, buồn nôn, khó thở rồi từ từ đi vào hôn mê

Áp dụng: Bài 28: Các oxit của cacbon (củng cố phần cacboxit)

Trang 10

Ví dụ 11: Vì sao ngày nay không dùng xăng pha chì ?

Trả lời

- Xăng pha chì là thêm Tetraetyl chì (C2H5)4Pb có tác dụng tiết kiệm 30% xăng dầu khi sử dụng Nhưng khí cháy trong động cơ, chì oxit bám vào các ống

xả, thành xi lanh nên thực tế xăng còn hoà tan thêm vào Dibrom etan thì chì oxit

sẽ bị chuyển thành Chì bromua (PbBr2), dễ bay hơi, thoát ra khỏi xi lanh, ống

xả, thải vào không khí làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

- Vì chì sẽ ở trong môi trường khí, tồn tại trong thực vật, động vật nên khi tiếp xúc với khí thải, động thực vật bị bệnh sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người Ngoài ra hơi Brom bay ra gây nguy hiểm tới đường hô hấp, làm bỏng da Hiện nay, nước ta đã không sử dụng xăng pha chì

Áp dụng: Bài 41: Nhiên liệu (phần nhiên liệu lỏng)

Ví dụ 12: Cồn khô và cồn lỏng có cùng một chất không? Tại sao cồn khô lại được?

Trả lời

- Cồn khô và cồn lỏng đều là cồn (rượu etylic nồng độ cao) vì người ta cho vào cồn lỏng một chất hút dịch thể, loại chất này làm cồn lỏng chuyển khô Ngoài

ra loại chất này còn dùng trong sản xuất tã lót, …

Áp dụng: Bài 44: Rượu etylic (học xong phần tính chất vật lí)

Ví dụ 13: Vì sao ăn đường glucozơ lại cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh ?

Trả lời

- Vì glucozơ tạo một dung dịch đường trên lưỡi, sự phân bố các phân tử đường trong quá trình hòa tan là quá trình thu nhiệt, do đó ta cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh

Áp dụng: Bài 50: Glucozơ (củng cố phần tính chất vật lí)

Ví dụ 14: Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt?

Trả lời

- Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của người có các enzim Khi nhai kỹ trộn đều, tuyến nước bọt làm tăng cơ hội chuyển hoá một lượng tinh bột theo phản ứng thuỷ phân thành mantozơ, glucozơ gây ngọt theo sơ đồ:

(C6H10O5)n amilaza H O 2 C12H22O11 mantaza H O 2  C6H12O6

(Tinh bột) (Mantozơ) (Glucozơ)

Áp dụng: Bài 52: Tinh bột và Xenlulozơ (củng cố phần phản ứng thủy phân)

Ví dụ 15: Tại sao khi nấu, xào thịt, đậu phụ không nên cho muối ăn (chứa NaCl) vào quá sớm?

Trả lời

- Vì trong đậu, thịt chứa protein (protit), vốn có tính keo khi gặp những chất điện ly mạnh, sẽ bị ngưng tụ thành những “óc đậu” khi nấu, xào nếu như cho muối

ăn vào sớm, gây khó khăn cho thẩm thấu vào đậu, thịt và bị đông tụ cứng lại không

có lợi cho tiêu hoá…

Áp dụng: Bài 53: Protein (củng cố phần sự đông tụ)

Ngày đăng: 22/10/2022, 07:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w