BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ TIN HỌC THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 2021 MÔN THI LUẬT THƯƠNG MẠI Sinh viên thực hi.
Trang 1MÔN THI: LUẬT THƯƠNG MẠI
Sinh viên thực hiện - MSSV:
- Nguyễn Phương Duy – 18DH380472
- Lê Thành Đạt – 18DH380448
- Lê Hoàng Đức – 18DH380095
- Nguyễn Phú Quý – 18DH380439
Thành phố Hồ Chí Minh, 9 tháng 7 năm 2021
Trang 2 Pháp luật nước ngoài
Quan điểm các tác giả trong khoa học pháp lý
Quan điểm cá nhân
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4I
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
1 Khái niệm hoạt động trung gian thương mại:
- Căn cứ khoản 11 Điều 3 Luật thương mại năm 2005: “Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.”
2 Các hoạt động trung gian thương mại:
- Có 4 hình thức:
Đại diện cho thương nhân
Môi giới thương mại
Ủy thác mua bán hàng hóa
Đại lý thương mại
3 Khái niệm dại lý thương mại:
- Căn cứ Điều 166 Luật thương mại năm 2005: “Đại lý thương mại là
hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.”
4 Đặc điểm đại lý thương mại:
Chủ thể: Bên giao đại lý và bên đại lý
Điều kiện: Cả hai bên đều phải là thương nhân
Trong quan hệ thương mại này, bên đại lý sẽ nhân danh chính mình để giao dịch với khách hàng
Phạm vi: Bên đại lý sẽ theo thỏa thuận, thực hiện bán hàng chobên giao đại lý hoặc mua hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ giao đại lý cho khách hàng
Hình thức pháp lý: Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bảnhoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
Trang 55 Bên giao đại lý và bên đại lý (Chủ thể):
- Căn cứ Điều 167 Luật thương mại năm 2005:
1 Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân
uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ
2 Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ
6 Hợp đồng đại lý:
- Căn cứ Điều 168 Luật thương mại năm 2005: “Hợp đồng đại lý phải
được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.”
7 Các hình thức đại lý:
- Căn cứ Điều 169 Luật thương mại năm 2005:
1 Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy
đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý
2 Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định
3 Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý
và với danh nghĩa của tổng đại lý
8 Quyền và nghĩa vụ của bên giao đại lý và bên đại lý:
- Căn cứ Điều 170, 172, 173, 174, 175 Luật thương mại năm 2005:
Điều 170 Quyền sở hữu trong đại lý thương mại
Trang 6Bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hoá hoặc tiền giao cho bênđại lý.
Điều 172 Quyền của bên giao đại lý
Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên giao đại lý có các quyền sau đây:
1 Án định giá mua, giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ đại lý cho khách hàng;
2 Ấn định giá giao đại lý;
3 Yêu cầu bên đại lý thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật;
4 Yêu cầu bên đại lý thanh toán tiền hoặc giao hàng theo hợp đồng đại lý;
5 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên đại lý
Điều 173 Nghĩa vụ của bên giao đại lý
Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên giao đại lý có các nghĩa
3 Trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho bên đại lý;
4 Hoàn trả cho bên đại lý tài sản của bên đại lý dùng để bảo đảm(nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý;
5 Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bênđại lý, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra
Điều 174 Quyền của bên đại lý:
Trang 7Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên đại lý có các quyền sau đây:
1 Giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 175 của Luật này;
2 Yêu cầu bên giao đại lý giao hàng hoặc tiền theo hợp đồng đại lý; nhận lại tài sản dùng để bảo đảm (nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý;
3 Yêu cầu bên giao đại lý hướng dẫn, cung cấp thông tin và các điều kiện khác có liên quan để thực hiện hợp đồng đại lý;
4 Quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng đối với đại lý bao tiêu;
5 Hưởng thù lao, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hoạt động đại lý mang lại
Điều 175 Nghĩa vụ của bên đại lý
Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại lý có các nghĩa vụ sauđây:
1 Mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng theo giá hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ do bên giao đại lý ấn định;
2 Thực hiện đúng các thỏa thuận về giao nhận tiền, hàng với bên giao đại lý;
3 Thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật;
4 Thanh toán cho bên giao đại lý tiền bán hàng đối với đại lý bán;giao hàng mua đối với đại lý mua; tiền cung ứng dịch vụ đối vớiđại lý cung ứng dịch vụ;
5 Bảo quản hàng hoá sau khi nhận đối với đại lý bán hoặc trước khi giao đối với đại lý mua; liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch
vụ của đại lý cung ứng dịch vụ trong trường hợp có lỗi do mình gây ra;
Trang 86 Chịu sự kiểm tra, giám sát của bên giao đại lý và báo cáo tình hình hoạt động đại lý với bên giao đại lý;
7 Trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về việc bên đại lý chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định của pháp luật đó
9 Thù lao đại lý:
- Căn cứ Điều 168 Luật thương mại năm 2005:
1 Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thù lao đại lý được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá
2 Trường hợp bên giao đại lý ấn định giá mua, giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì bên đại lý được hưởng hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua, giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ
3 Trường hợp bên giao đại lý không ấn định giá mua, giá bán hàng hoá hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng mà chỉ ấn định giá giao đại lý cho bên đại lý thì bên đại lý được hưởng chênh lệch giá Mức chênh lệch giá được xác định là mức chênhlệch giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bên đại lý
4 Trường hợp các bên không có thoả thuận về mức thù lao đại lý thì mức thù lao được tính như sau:
a) Mức thù lao thực tế mà các bên đã được trả trước đó;
b) Trường hợp không áp dụng được điểm a khoản này thì mức thù lao đại lý là mức thù lao trung bình được áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ mà bên giao đại lý đã trả cho các đại lý khác;
c) Trường hợp không áp dụng được điểm a và điểm b khoản này thì mức thù lao đại lý là mức thù lao thông thường được áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường
Trang 910 Thanh toán trong đại lý:
- Căn cứ Điều 176 Luật thương mại năm 2005: “ Trừ trường hợp có
thoả thuận khác, việc thanh toán tiền hàng, tiền cung ứng dịch vụ vàthù lao đại lý được thực hiện theo từng đợt sau khi bên đại lý hoàn thành việc mua, bán một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng một khối lượng dịch vụ nhất định.”
11 Thời hạn đại lý:
- Căn cứ Điều 177 Luật thương mại năm 2005:
1 Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứtsau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày,
kể từ ngày một trong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý
2 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó
- Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý
3 Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý
II.BẤT CẬP
Mặc dù có những điểm tiến bộ so với Luật thương mại 1997,
nhưng sau nhiều năm tồn tại, quy định về thời hạn đại lý tại điều 177
đã bộc lội nhiều hạn chế Là hoạt động trung gian thương mại, đại lý thương mại có vai trò quan trọng Tuy nhiên, pháp luật quy định về
Trang 10hoạt động này vẫn còn chưa đáp ứng được những nhu cầu phát triển trên thực tế mặc dù hoạt động đại lý được quy định trong Luật
thương mại 2005 cũng như nhiều luật chuyên ngành như hoạt động đại lý xăng dầu, hoạt động đại lý tàu biển, đại lý lữ hành du lịch
Thứ nhất, việc tự do, mở rộng thêm các trường hợp đơn phươngchấm dứt mà không có hình thức bảo vệ phù hợp thì lợi ích các bên dễ dàng bị ảnh hưởng Luật thương mại 2005 quy định
mở rộng các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại Theo đó, nếu không có thỏa thuận khác, các bên
có quyền chấm dứt hợp đồng đại lý thương mại mà chỉ cần thông báo cho bên kia bằng văn bản trong thời hạn quy định
Cụ thể, pháp luật quy định thời hạn báo trước việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý ít nhất sáu mươi ngày để bên kia có thời gian chuẩn bị, điều chỉnh lại hoạt động đại lý của mình trước khi chấm dứt hoàn toàn quan hệ đại lý Quy định cụ thể thời hạn báo trước cũng như hình thức thông báo nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn đại lý Có thể thấy, quy định
tự do đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý của các bên trong nhiều trường hợp sẽ làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của bên kia, đồng thời quy định này cũng khiến cho quan hệ đại lý
không còn được vững chắc, gắn bó đúng như bản chất của nó, thương nhân cũng thiếu sự tin tưởng khiến cho việc thúc đẩy hoạt động thương mại thông qua đại lý thương mại cũng bị ảnhhưởng phần nào
Thứ hai, về quyền lợi của bên giao đại lý khi thông báo chấm dứt thời hạn đại lý đúng pháp luật : Khoản 2 Điều 177 quy định
về hậu quả pháp lý trong trường hợp bên giao đại lý thông báo chấm dứt thời hạn đại lý đúng thời hạn báo trước tại khoản 1 Tuy nhiên, về việc đòi bồi thường của bên đại lý khi bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng quy định chưa hợp lý, chưabao quát được tất cả các trường hợp Trường hợp này bên giao
Trang 11đại lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng đai lý chưa được quy định cụ thể Dễ sinh nhầm lần rằng trong mọi trường hợp bên giao đại lý đơn phương chấm dứt hợp đông đại lý đều phải bồi thường cho bên đại lý Trên thực tế, không phải trong bất cứ trường hợp nào bên giao đại lý yêu cầu chấm dứt hợp đồng cũng là vi phạm hợp đồng đã kí Có trường hợp đồng đại lý không xác định thời hạn, trong trường hợp không có vi phạm nhưng muốn đơn phương chấm dứt, trong trường hợp bên giao đại lý chấm dứt thời hạn đại lý không vi phạm hợp đồng đã ký như ví dụ trên, rõ ràng là quyền lợi của bên giao đại lý cũng cần được bảo vệ, tạo nên sự công bằng giữa các chủ thể tron quan hệ thương mại hay đơnphương chấm dứt vì vi phạm của bên đại lý thì bên đại lý phải bồi thường cho bên giao đại lý ( bên có lỗi phải trách nhiệm do lỗi của mình gây ra)… Như vậy,với mỗi trường hợp cần quy định rõ rằng , cụ thể hơn về mức bồi thường thiệt hại để đảm bảo tính khách quan, công bằng.
Thứ ba, về quyền lợi của bên đại lý khi thông báo chấm dứt thờihạn đại lý đúng pháp luật: Khoản 3 Điều 177 Luật thương mại năm 2005 quy định: “ Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý” Quy định như vậy chưathực sự hợp lý, chưa bảo vệ được quyền lợi của bên đại lý trongtrường hợp bên giao đại lý không thực hiện, thực hiện không
đủ, thực hiện không đúng nghĩa vụ buộc bên đại lý phải chấm dứt hợp đồng Xét thấy với một bên đại lý so với bên giao đại lýthì khi bên đại lý đưa ra quyết định chấm dứt đại lý có thể sẽ không ảnh hưởng đến bên giao đại lý nhưng sẽ ảnh hưởng do quyết định của chính bên đại lý đưa ra Vì vậy, quy định này vẫn chưa quy định rõ về các trường hợp hay quyền và nghĩa vụ của bên đại lý trong trường hợp này
Trang 12 Thư tư, về mức bồi thường khi bên giao đại lý đơn phương
chấm dứt hợp đồng : Điều 177 Luật thương mại 2005 quy định
“ Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làmđại lý cho bên giao đại lý Trong trường hợp thời gian đại lý dướimột năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý” Cách quy định giátrị khoản bồi thường như vậy mang tính chủ quan, không phù hợp với nguyên tắc tính bồi thường thiệt hại Hơn nữa, trên thực
tế quan hệ đại lý thường được thực hiện trong thời gian dài và
để thực hiện dịch vụ đại lý cho bên giao đại lý, bên đại lý có thểphải bỏ khá nhiều chi phí Nếu bên giao đại lý đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý sẽ gây thiệt hại cho bên đại lý Ngoài
ra, với từng hợp đồng đại lý khác nhau thì quy mô đại lý khác nhau sẽ dẫn đến quyền lợi của các bên bị xâm phạm sẽ khác nhau; nên việc quy định khoản bồi thường như trên khi gắn với các trường hợp thực tế có thể chưa phù hợp
Nguồn Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê
Trang 13này là chủ sở hữu của hàng hóa, chịu trách nhiệm về mọi rủi ro đối với hàng hóa đó Việc phân định giữa hợp đồng đại lý và hợp đồng phân phối phụ thuộc vào các điều khoản cụ thể mà các bên thỏa thuận có tính quyết định bản chất của hai loại hợp đồng này Trong hợp đồng phân phối chứa đựng các điều khoản xác lập quyền và nghĩa vụ của bên mua và bên bán, cơ bản phản ánh tính độc lập về mặt pháp lý của các bên, sự độc lập này vẫn tồn tại ngay cả trong trường hợp các bên có những thỏa thuận mà theo đó nhà phân phối
có nghĩa vụ tuân thủ một số chỉ dẫn nhất định của nhà sản xuất liên quan tới phương thức hoạt động nhưng không ảnh hưởng đến quyền định đoạt hàng hóa của nhà phân phối Có lẽ chính những thỏa thuậnnày làm cho các bên nhầm lẫn giữa hợp đồng phân phối hàng hóa với hợp đồng đại lý trong quá trình giao kết hợp đồng
Bản chất của hợp đồng phân phối chính là hợp đồng mua bán có điều kiện, thế nên, nó có dấu hiệu của quan hệ đại lý, nhưng đó là mua đứt bán đoạn Tranh chấp hợp đồng đại lý thể hiện trong quyết định giám đốc thẩm số 05/2011/KDTM-GĐT ngày 20/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là một ví dụ về sự nhầm lẫn giữa hợp đồng phân phối hàng hóa với hợp đồng đại lý Hợp đồng
có nội dung như sau: Công ty Cổ phần (CTCP) Chữ thập đỏ Việt Nam
có quan hệ hợp đồng đại lý thuốc tân dược (Reamberin, Cycloferon viên và ống) với các công ty: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Thương mại dược phẩm Thống Nhất, CTCP Dược phẩm Y Phương, CTCP Dược phẩm Thanh Phương, CTCP Dược Hòa Bình Mặc dù hình thức các bên ghi trong hợp đồng là đại lý nhưng các điều khoản
trong hợp đồng lại trái với bản chất của hoạt động đại lý như chứa đựng thỏa thuận bên đại lý là chủ sở hữu hàng hóa, bên đại lý phải chịu rủi ro do hàng hóa mất mát, hư hỏng… Bên cạnh đó, một số thỏa thuận khác mang tính chất là các chỉ dẫn của nhà sản xuất đã làm các bên lầm lẫn mà xác định đây là hợp đồng đại lý Các bên thỏa thuận cụ thể về mức chiết khấu, tiền thưởng khi bán hàng vượt doanh số, mức phạt khi không đạt 100% giá trị hợp đồng… Sở dĩ có
Trang 14sự nhầm lẫn đó vì những thỏa thuận này thường có trong hợp đồng đại lý nhằm khuyến khích nỗ lực bán hàng của bên đại lý Nếu đây chỉ là hợp đồng mua bán thông thường thì các bên không nhất thiết phải đặt ra các điều khoản mang tính chất chỉ dẫn nghiêm ngặt giống như trên Tuy nhiên, vì đây là hợp đồng phân phối – hợp đồng mua bán có điều kiện nên bên phân phối phải tuân thủ những chỉ dẫn nhất định của nhà sản xuất liên quan đến phương thức hoạt động Thực tế xét xử vụ án này các tòa sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm đều giải quyết theo hướng xác định đây là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Tranh chấp thể hiện trong bản án số 80/2008/DSPT ngày
17/3/2008của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao cũng là một
ví dụ khác Nội dung bản án thể hiện ông Trần Văn Dũng đã ký kết hợp đồng đại lý độc quyền với Công ty TNHH nước giải khát Coca-Cola Việt Nam Theo hợp đồng đại lý này, ông Dũng được Công ty Coca-Cola chỉ định là đại lý độc quyền tiếp thị và phân phối các sản phẩm cho Công ty Coca-Cola Việt Nam, ngược lại ông Dũng được hưởng hoa hồng cùng các quyền lợi khác, đồng thời ông Dũng phải
có các nghĩa vụ mua hàng và thanh toán các khoản tiền hàng theo đúng quy định Dựa vào những nội dung trên, đây là hợp đồng phân phối hàng hóa (hợp đồng mua bán có điều kiện) chứ không phải là hợp đồng đại lý như các bên ghi trong hợp đồng Ban đầu, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là tranh chấp mua bán hàng hóa Sau đó, tại cấp phúc thẩm tuyên rằng :
Cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này
là “Tranh chấp hợp đồng mua bán” và áp dụng Khoản 3 Điều
25 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử là không đúng, bởi lẽ ông Trần Văn Dũng với Công ty nước giải khát Coca-Cola Việt Nam
có ký hợp đồng kinh tế đại lý độc quyền Theo hợp đồng đại lý này, ông Dũng được Công ty Coca-Cola Việt Nam chỉ định là đại
lý độc quyền tiếp thị và phân phối các sản phẩm cho Công ty Coca-Cola Việt Nam sản xuất, ngược lại ông Dũng được hưởng