- “Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy,/Gửi viên đá con, mình lại dựng nên thành.” là quan niệm của Chế Lan Viên về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc: Nhà
Trang 1ĐỀ 1:
Trong bài thơ Mình và ta, nhà thơ Chế Lan Viên có viết:
Mình là ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình.
Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy!
Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy, Gửi viên đá con, mình lại dựng nên thành.
(Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002)Bằng những trải nghiệm văn học của mình, em hãy làm sáng tỏ qua bài thơ
“Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt (Ngữ văn 9, tập 1).
- Yêu cầu về kĩ năng
+ Thí sinh phải nắm vững kĩ năng làm bài nghị luận văn học, huy động kiến thức, phương pháp về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của mình để giải thích, bình luận và chứng minh vấn đề.
+ Bố cục bài viết rõ ràng, mạch lạc, chặt chẽ; diễn đạt trôi chảy, lưu loát, giàu hình ảnh và cảm xúc Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
- Yêu cầu về kiến thức
+ Học sinh phải biết vận dụng kiến thức lí luận văn học và kiến thức về tác phẩm để giải thích, bàn luận và chứng minh vấn đề.
+ Thí sinh có thể đưa ra những ý kiến, trình bày theo những cách khác nhau, nh ưng phải có lí lẽ, căn cứ xác
đáng.
Yêu cầu cụ thể (Thí sinh có những cách làm bài khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý sau)
Giải thích
Trang 2- “Mình là ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình/ Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy!” thể hiện quan niệm sâu sắc
của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa bạn đọc (mình) và nhà văn (ta) Trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học, chỗ sâu thẳm trong tâm hồn người đọc cũng là chỗ sâu thẳm tâm hồn mà người viết tìm đến khai thác, diễn tả Vì mối quan hệ tương đồng đó mà những điều tác giả viết ra mới có thể chạm đến tâm hồn người đọc
- “Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy,/Gửi viên đá con, mình lại dựng nên thành.” là quan niệm của Chế
Lan Viên về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc: Nhà văn viết tác phẩm văn học là những sáng tạo nghệ thuật theo những đặc trưng riêng, không bao giờ nói hết, nói rõ Nhiệm vụ của người đọc phải tái tạo lại, tưởng tưởng thêm, suy ngẫm, phân tích để sao cho từ bếp “tro” tưởng như tàn lại có thể “nhen thành lửa cháy”, từ “viên đá con” có thể dựng nên thành, nên lũy.
-> Đoạn thơ thể hiện quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa người đọc và nhà văn, về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí người đọc.
Bàn luận
- Khẳng định tính đúng đắn, sâu sắc trong quan niệm của Chế Lan Viên.
- Bàn về mối quan hệ giữa người đọc và người viết:
+ Văn học là một quá trình sáng tạo gồm ba thành tố: Nhà văn - tác phẩm - công chúng Sáng tác của nhà văn và tiếp nhận của người đọc là hai mặt của sự tồn tại tác phẩm văn chương Không có người đọc sẽ không có sự tồn tại của tác phẩm Ở đây tác phẩm chính là cầu nối giữa nhà văn và công chúng Qua các sáng tác văn học, nhà văn không chỉ nói tiếng của tâm hồn mình mà còn phải nói tiếng của tâm hồn con người, tiếng nói của thời đại, của dân tộc và nhân loại Do đó, khi tiếp nhận văn học, người đọc phải hiểu được những điều mà nhà văn muốn tâm sự, kí thác trong mỗi hình tượng nghệ thuật.
+ Văn học nhận thức con người trong mối quan hệ đa chiều với cuộc sống và tập trung khám phá chiều sâu khôn cùng, bí ẩn của tâm hồn con người Vì vậy, khi đọc tác phẩm, người đọc thấy được sâu thẳm tâm hồn mình, cũng là chỗ sâu thẳm trong tâm hồn người viết
- Bàn về quá trình từ văn bản văn học của nhà văn đến tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc: + Trong sáng tạo nghệ thuật, nhà văn là chủ thể sáng tác nên văn bản văn học Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, văn bản văn học là một cấu trúc những kí hiệu chặt chẽ, liên tục, tồn tại một cách khách quan nhưng đằng sau đó là một thế giới nghệ thuật chan chứa tình cảm, tư tưởng của tác giả Nếu không có hoạt động tiếp nhận của người đọc, văn bản văn học sẽ chỉ là những “xác chữ” trên trang giấy không thể tác động đến đời sống xã hội, con người Chỉ có thông quan tiếp nhận của độc giả, văn bản văn học mới có thể làm hiện lên trong tâm trí người đọc những sự việc, hình tượng nghệ thuật, những nỗi niềm, tình cảm của người viết, từ
đó người đọc mới có thể đi vào thế giớ nghệ thuật của tác phẩm.
+ Văn học là nghệ thuật ngôn từ, chất liệu của nó là kí hiệu vật chất, cho nên hình ảnh của nó là gián tiếp Vì vậy, muốn thưởng thức tác phẩm, người đọc nhất định phải trải qua khâu “tái hiện” hay “kiến tạo” ý nghĩa của tác phẩm, phải tưởng tượng thêm, suy ngẫm, phân tích thêm Có như vậy, người đọc mới đồng sáng
Trang 3tạo được với nhà văn, tác phẩm của nhà văn mới có thể trở thành “tác phẩm ” của người đọc, hòa quyện với tư tưởng, tình cảm của người đọc.
Phân tích, chứng minh
a) Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt thể hiện cảm xúc thiết tha, mãnh liệt của nhà thơ.
- Bài thơ được viết năm 1963, lúc đó Bằng Việt đang theo học ngành Luật tại Liên Xô in trong tập “Hương cây – bếp lửa”
-> Từ những dòng cảm xúc chân thành, nỗi nhớ tha thiết ấy đã thôi thúc, khơi gợi nhà thơ sáng tác bài thơ
“Bếp lửa” Bài thơ bắt nguồn từ tấm lòng, trái tim biết ơn của người cháu ở nơi phương xa dành cho bà.
- Mạch cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên, đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm Từ hình ảnh bếp lửa tác giả đã suy ngẫm về người bà với bao vất vả và tình yêu thương dành cho cháu:
+ Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn nỗi nhớ về bà: “Một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, hình ảnh quen thuộc trong mọi gia đình
+ Hình ảnh bếp lửa rất tự nhiên đánh thức dòng cảm xúc hồi tưởng của cháu về bà, người nhóm lửa, nhóm bếp mỗi sớm mai.
+ Kí ức đưa nhân vật trở về những năm “đói mòn đói mỏi” của nạn đói năm 1945.
+ Kí ức trong thời kì kháng chiến: Cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà, sớm có ý thức tự lập, sớm phải lo toan.
+ Đặc biệt hình ảnh người bà bỗng nhiên trở nên cao lớn, vĩ đại khi Bằng Việt nhớ về những năm tháng đau thương, vất vả, giặc tàn phá xóm làng.
-> Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa
=> Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà, người cháu trở về hiện tại để suy ngẫm về cuộc đời bà Hình ảnh bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn
là người truyền lửa - ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
b) Bài thơ “Bếp lửa” tác động đến bạn đọc những tâm tư, những cảm xúc mãnh liệt và sâu sắc.
- Giúp người đọc tái hiện được hoàn cảnh sống và chiến đấu trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, vất vả, thiếu thốn…
- Giúp người đọc thấu hiểu được tâm tư tình cảm của tác giả giành cho bà, cho quê hương, đất nước…
- Giúp người đọc nhận thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình, quê hương, đất nước Bồi đắp được những giá trị lớn lao của cuộc sống.
c) Bài thơ “Bếp lửa” thành công với những hình thức nghệ thuật độc đáo
Trang 4- Bắt nguồn từ một đề tài rất quen thuộc nhưng Bằng Việt đã sáng tạo hình tượng bếp lửa vừa thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng
- Kết hợp miêu tả, biểu cảm, tự sự và bình luận
- Giọng điệu và thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm
- Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu…
- Thơlà một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện
cảm xúc thông qua cách tổ chức ngôn từ đặc biệt, giàu nhạctính, giàu hình ảnh và gợi cảm…
- Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài Hồn:là nội dung,
ý nghĩa của bài thơ Xác: là nói đến hình thức nghệ thuật của
bài thơ thể hiện ở thể loại, việc tổ chức ngôn từ, hình ảnh, nhịpđiệu, cấu tứ…
=> Theo Xuân Diệu thơ hay là có sự sáng tạo độc đáo về nộidung cũng như hình thức nghệ thuật, khơi gợi tình cảm caođẹp và tạo được ấn tượng sâu sắc đối với người đọc, khi đó thơmới đạt đến vẻ đẹp hoàn mĩ của một chỉnh thể nghệ thuật
0,5
1,0
0,5
Trang 52 Bàn luận: 1,0
- Ý kiến của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng bởi nó xuất phát
từ đặc thù sáng tạo của văn chương nghệ thuật
- Cái hay của một tác phẩm văn học được tạo nên từ sự kết hợp
hài hòa giữa nội dung và hình thức Một nội dung mới mẻ có ý
nghĩa sâu sắc phải được truyền tải bằng một hình thức phù hợp
thì người đọc mới dễ cảm nhận, tác phẩm mới có sức hấp dẫn
Gắn với nhận định để thấy sự kết hợp hài hòa giữa “hồn ”
-nội dung và “xác” - hình thức của bài thơ
0,5
LĐ1: Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay về nội dung: 5,0
Ý 1:Bài thơ là cảm xúc mãnh liệt, chân thành của tác giả
trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước.
+ Chỉ bằng vài nét vẽ đơn sơ mà đặc sắc, với những hình ảnh
thân quen, bìnhdị, nhà thơ đã gợi lên một phong cảnh mùa
xuân tươi tắn, thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế: “Dòng sông
xanh”, “bông hoa tím biếc”, “chim chiền chiện hót vang
trời” Bức tranhxuân có không gian thoáng đãng, có màu sắc
tươi tắn hài hòa, có âm thanh rộn rã tươivui, cảnh vật tràn đầy
sức sống Nhà thơ có cái nhìn trìu mến với cảnh vật Đặc
biệt,cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân được thể hiện trong
một động tác trữ tình đón nhận, vừa trân trọng vừa tha thiết
trìu mến: “Từng giọt…tôi hứng” Hình ảnh thơ trở nên lung
linh đa nghĩa, vừa là thơ vừa là nhạc, vừa là họa, thể hiện được
cảm xúc say sưa, ngây ngất của tác giả trước cảnh đất trời xứ
Huế vào xuân Phải có một tình yêu tha thiết, một tâm hồn lạc
quan với cuộc sống mới có thể đón nhận mùa xuân và viết về
mùa xuân như vậy
+ Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, tác giả cảm nhận về
2,5
1,25
Trang 6mùa xuân của đấtnước: Hình ảnh lộc xuân theo người ra trận,
theo người ra đồng làm đẹp ý thơ vớicuộc sống lao động và
chiến đấu, xây dựng và bảo vệ - hai nhiệm vụ không thể
táchrời Có thể nói, chính con người đã tạo nên sức sống của
mùa xuân thiên nhiên, đất nước Sức sống của đất nước, của
dân tộc cũng được tạo nên từ sự hối hả, náo nức của người
cầm súng, người ra đồng Nhà thơ bộc lộ niềm tự hào về một
đất nước anh hùng và giàu đẹp Đó là ý chí quyết tâm, niềm tin
sắt đá, niềm tự hào lạc quan của cả dân tộc
Ý 2:Trước mùa xuân lớn của đất nước, nhà thơ tâm niệm về
mùa xuân riêng củamỗi cuộc đời và dạt dào khát vọng hiến
dâng.
+ Nhà thơ nguyện ước làm con chim hót dâng cho đời tiếng ca
vui, làm bônghoa trong hương sắc của muôn hoa, làm nốt trầm
xao xuyến trong bản hòa tấu muôn điệu, muôn lời ca, làm một
m ùa xuân nho nhỏ để hòa góp chung vào mùa xuân lớn lao
của đất nước Đó là khát vọng sống hòa nhập vào cuộc sống
của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp dù nhỏ bé của mình cho
cuộc đời chung Đây là một quan niệm sống đẹp và đầy trách
nhiệm Làm một mùa xuân là sống đẹp, giữ mãi sức xuân để
cống hiến, cống hiến khi ở tuổi thanh xuân – khi tóc bạc, bất
chấp thời gian, tuổi tác: “Một mùa xuân…tóc bạc” Đây
không chỉ là khát vọng của mỗi con người mà là khát
vọng của mọi lớp người, mọi lứa tuổi, tất cả đều phấn đấu
không mệt mỏi cho đất nước
+ Những câu thơ này không chỉ là lời tự nhắn nhủ bản thân
mình mà còn như một sự tổng kết, đánh giá của tác giả về cuộc
đời Vượt lên đớn đau của bệnh tật, Thanh Hải vẫn sáng lên
một bản lĩnh, một tình yêu cuộc sống mãnh liệt, một khát vọng
mạnh mẽ được cống hiến cả cuộc đời mình, được hóa thân vào
mùa xuân đất nước
1,25
2,5
2,0
0,5
LĐ2: Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay về hình thức: 2,5
- Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo bất ngờ, độc đáo
mà rất hợp lí, chứa đựng chiều sâu chủ đề tư tưởng mà tác giả
0,25
Trang 7muốn gửi gắm qua thi phẩm
- Mạch cảm xúc, mạch ý tạo thành tứ thơ tự nhiên mà chặt chẽ,
lô gích, dựa trên sự phát triển của hình ảnh mùa xuân Từ mùa
xuân của đất trời sang mùa xuân của đất nước và mùa xuân
của mỗi người góp vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung
- Bài thơ được viết bằng thể thơ ngũ ngôn không ngắt
nhịp trong từng câu, nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi
với dân ca miền Trung, xứ Huế Sử dụng cách gieo vần liền
giữa các khổ thơ tạo sự liền mạch của dòng cảm xúc
- Hình ảnh thơ : Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị với
những hình ảnhgiàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát Điều đáng
chú ý là những hình ảnh biểu trưng này thường được phát triển
từ những hình ảnh thực, tạo nên sự lặp lại mà nâng cao, đổi
mới của hệ thống hình ảnh (cành hoa, con chim, mùa xuân).
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, gợi hình, gợi cảm Có những câu thơ
cứ như câu nóitự nhiên, không trau chuốt từ ngữ nhưng vẫn
mang âm hưởng thi ca Cách sử dụng nghệ thuật đảo cấu trúc
ngữ pháp, câu hỏi tu từ, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, điệp từ,
điệp ngữ, điệp cấu trúc ngữ pháp độc đáo, giàu ý nghĩa Cách
chuyển đổi đại từ nhân xưng: “tôi – ta”…
- Giọng điệu bài thơ thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác
giả Giọng điệucó sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn:
Vui tươi, say sưa ở đoạn đầu; trầm lắng, thiết tha ở đoạn bộc
bạch những tâm niệm; sôi nổi và tha thiết ở đoạn kết
- Sức hấp dẫn từ nội dung và nghệ thuật của bài thơ Mùa xuân
nho nhỏ đã tác động sâu sắc đến người đọc bao thế hệ, khơi
gợi từ tình yêu thiên nhiên đến tình yêu quê hương, đất nước,
từ khát vọng nhỏ bé, khiêm nhường của một cá nhân nâng lên
thành lẽ sống cao đẹp giàu giá trị nhân văn Vì thế với Mùa
xuân nho nhỏ ta không thể chỉ đọc một lần, không chỉ đọc
bằng lí trí hay tình cảm mà phải đọc bằng cả tâm hồn
Trang 8- Bài học cho người nghệ sĩ: Những bài thơ hay góp phần làm
phong phú thêmcho thơ ca nhân loại Vì vậy, bằng tài năng và
tâm huyết của mình, nhà thơ hãy sáng tạo nên những thi phẩm
hay và giàu sức hấp dẫn từ nội dung đến hình thức Điều đó
vừa là thiên chức vừa là trách nhiệm của nhà thơ, là yêu cầu
thiết yếu, sống còn của sáng tạo nghệ thuật
- Bài học cho người tiếp nhận: Hiểu được thơ hay là hay cả
“hồn” lẫn “xác” Từ đó bồi đắp tâm hồn cuộc sống để cảm
nhận được giá trị của bài thơ hay; có sự tri ân, sự đồng cảm với
tác phẩm, với nhà thơ để có thể sẻ chia những tình cảm đồng
Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”.
Qua thi phẩm Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải, emhãy làm sáng tỏnhận định trên
Trang 9A YÊU CẦU CHUNG:
- Giám khảo cần vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng các mức điểm một cách hợp lí, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo.
- Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu
cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm
- Điểm toàn bài thi cho lẻ đến 0,25 điểm
B YÊU CẦU CỤ THỂ:
Câu 1
(8,0đ)
+ Yêu cầu về kĩ năng: Cần xác định đây là đề nghị luận xã hội
về một vấn đề tư tưởng đạo lí Có thể lựa chọn thao tác lậpluận phù hợp, nhuần nhuyễn, huy động được các dẫn chứnghợp lí trong đời sống để chứng minh
- Diễn đạt trôi chảy, dùng từ rõ ràng; không mắc lỗi về ngữpháp
+ Yêu cầu về kiến thức: Cần làm rõ những nội dung cơ bản
sau:
- Sai lầm: những thất bại, ngộ nhận, sai sót trong cuộc sống
- Đóng cửa: Không chấp nhận, thừa nhận
- Chân lý: Những nhận thức đúng đắn, có ý nghĩa lớn lao, quantrọng
=> Ý kiến của R.Targo muốn khẳng định về ý nghĩa củanhững sai lầm trong cuộc sống Việc biết chấp nhận, thừa nhậnsai lầm là cách tốt nhất để tìm ra chân lý trong cuộc sống
0,50,50,5
0,5
+ Việc tìm ra những chân lí của đời sống không phải là điều dễdàng vì những chân lý đó thường gắn với những kiến thứcphức tạp, những triết lí sâu sắc đòi hỏi một quá trình tư duynghiền ngẫm lâu dài Việc mắc sai lầm trong quá trình đi tìm
1,5
Trang 10chân lí là điều khó tránh khỏi.
+ Nếu con người không biết thừa nhận sai lầm thì cũng đồngthời tự tước đi của mình cái cơ hội được rút kinh nghiệm, sửachữa để tìm đến chân lí
+ Sau mỗi lần thất bại nếu biết phân tích, tìm nguyên nhân, tìmcách khắc phục thì con người sẽ rút ra được những bài học,kinh nghiệm quý báu để có thể thành công trong những lầnsau
+ Biết đối diện và vượt qua những sai lầm con người sẽ trởnên bản lĩnh, giàu kinh nghiệm sống Đây là điều kiện quantrọng để có thể tìm được những chân lý có giá trị
+ Mọi chân lý đều có tính tương đối, đến một thời điểm nảo đó
sẽ trở nên lạc hậu hoặc không còn phù hợp vì vậy cần xác địnhtâm lí dám chấp nhận và vượt qua sai lầm thì con người mới
có thể vượt qua chính mình tìm ra những chân lý mới
(Trong quá trình bàn luận học sinh cần đưa ra các dẫn chứng xác đáng, phù hợp để chứng minh)
0,50,5
- Cần có bản lĩnh và sự dũng cảm để chấp nhận mình đã sailầm Sau mỗi lần mắc sai lầm cần nghiền ngẫm, phân tích đểxem mắc sai lầm ở đâu và tìm cách khắc phục Cần mạnh mẽ
và bản lĩnh để vượt qua sai lầm
- Liên hệ bản thân (khuyến khích những liên hệ thực tiễn, chân thành của bản thân học sinh).
0,75
0,75
0,5
Câu 2
- Yêu cầu về kĩ năng:
+ Nắm vững kĩ năng làm bài nghị luận văn học, vận dụng tốtcác thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận mộtvấn đề qua tác phẩm cụ thể
+ Bố cục rõ ràng, chặt chẽ, khoa học, hợp lí Diễn đạt trôichảy, lưu loát, văn viết giàu hình ảnh và cảm xúc Không mắc
Trang 11(12,0đ) lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
- Yêu cầu về kiến thức:
+ Biết vận dụng kiến thức LLVH và kiến thức về một tácphẩm để giải thích, bình luận và chứng minh vấn đề
+ Có thể đưa ra những ý kiến, trình bày theo nhiều cách khácnhau, nhưng cần chính xác, hợp lí, rõ ràng, thuyết phục và nêuđược các ý cơ bản sau:
- Thơlà một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện
cảm xúc thông qua cách tổ chức ngôn từ đặc biệt, giàu nhạctính, giàu hình ảnh và gợi cảm…
- Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài Hồn:là nội dung,
ý nghĩa của bài thơ Xác: là nói đến hình thức nghệ thuật của
bài thơ thể hiện ở thể loại, việc tổ chức ngôn từ, hình ảnh, nhịpđiệu, cấu tứ…
=> Theo Xuân Diệu thơ hay là có sự sáng tạo độc đáo về nộidung cũng như hình thức nghệ thuật, khơi gợi tình cảm caođẹp và tạo được ấn tượng sâu sắc đối với người đọc, khi đó thơmới đạt đến vẻ đẹp hoàn mĩ của một chỉnh thể nghệ thuật
0,5
1,0
0,5
- Ý kiến của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng bởi nó xuất phát
từ đặc thù sáng tạo của văn chương nghệ thuật
- Cái hay của một tác phẩm văn học được tạo nên từ sự kết hợphài hòa giữa nội dung và hình thức Một nội dung mới mẻ có ýnghĩa sâu sắc phải được truyền tải bằng một hình thức phù hợpthì người đọc mới dễ cảm nhận, tác phẩm mới có sức hấp dẫnbền lâu
LĐ1: Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay về nội dung: 5,0
Ý 1:Bài thơ là cảm xúc mãnh liệt, chân thành của tác giả 2,5
Trang 12trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước.
+ Chỉ bằng vài nét vẽ đơn sơ mà đặc sắc, với những hình ảnh
thân quen, bìnhdị, nhà thơ đã gợi lên một phong cảnh mùa
xuân tươi tắn, thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế: “Dòng sông
xanh”, “bông hoa tím biếc”, “chim chiền chiện hót vang
trời” Bức tranhxuân có không gian thoáng đãng, có màu sắc
tươi tắn hài hòa, có âm thanh rộn rã tươivui, cảnh vật tràn đầy
sức sống Nhà thơ có cái nhìn trìu mến với cảnh vật Đặc
biệt,cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân được thể hiện trong
một động tác trữ tình đón nhận, vừa trân trọng vừa tha thiết
trìu mến: “Từng giọt…tôi hứng” Hình ảnh thơ trở nên lung
linh đa nghĩa, vừa là thơ vừa là nhạc, vừa là họa, thể hiện được
cảm xúc say sưa, ngây ngất của tác giả trước cảnh đất trời xứ
Huế vào xuân Phải có một tình yêu tha thiết, một tâm hồn lạc
quan với cuộc sống mới có thể đón nhận mùa xuân và viết về
mùa xuân như vậy
+ Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, tác giả cảm nhận về
mùa xuân của đấtnước: Hình ảnh lộc xuân theo người ra trận,
theo người ra đồng làm đẹp ý thơ vớicuộc sống lao động và
chiến đấu, xây dựng và bảo vệ - hai nhiệm vụ không thể
táchrời Có thể nói, chính con người đã tạo nên sức sống của
mùa xuân thiên nhiên, đất nước Sức sống của đất nước, của
dân tộc cũng được tạo nên từ sự hối hả, náo nức của người
cầm súng, người ra đồng Nhà thơ bộc lộ niềm tự hào về một
đất nước anh hùng và giàu đẹp Đó là ý chí quyết tâm, niềm tin
sắt đá, niềm tự hào lạc quan của cả dân tộc
Ý 2:Trước mùa xuân lớn của đất nước, nhà thơ tâm niệm về
mùa xuân riêng củamỗi cuộc đời và dạt dào khát vọng hiến
dâng.
+ Nhà thơ nguyện ước làm con chim hót dâng cho đời tiếng ca
vui, làm bônghoa trong hương sắc của muôn hoa, làm nốt trầm
xao xuyến trong bản hòa tấu muôn điệu, muôn lời ca, làm một
m ùa xuân nho nhỏ để hòa góp chung vào mùa xuân lớn lao
của đất nước Đó là khát vọng sống hòa nhập vào cuộc sống
của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp dù nhỏ bé của mình cho
cuộc đời chung Đây là một quan niệm sống đẹp và đầy trách
nhiệm Làm một mùa xuân là sống đẹp, giữ mãi sức xuân để
1,25
1,25
2,5
2,0
Trang 13cống hiến, cống hiến khi ở tuổi thanh xuân – khi tóc bạc, bất
chấp thời gian, tuổi tác: “Một mùa xuân…tóc bạc” Đây
không chỉ là khát vọng của mỗi con người mà là khát
vọng của mọi lớp người, mọi lứa tuổi, tất cả đều phấn đấu
không mệt mỏi cho đất nước
+ Những câu thơ này không chỉ là lời tự nhắn nhủ bản thân
mình mà còn như một sự tổng kết, đánh giá của tác giả về cuộc
đời Vượt lên đớn đau của bệnh tật, Thanh Hải vẫn sáng lên
một bản lĩnh, một tình yêu cuộc sống mãnh liệt, một khát vọng
mạnh mẽ được cống hiến cả cuộc đời mình, được hóa thân vào
mùa xuân đất nước
0,5
LĐ2: Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay về hình thức: 2,5
- Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo bất ngờ, độc đáo
mà rất hợp lí, chứa đựng chiều sâu chủ đề tư tưởng mà tác giả
muốn gửi gắm qua thi phẩm
- Mạch cảm xúc, mạch ý tạo thành tứ thơ tự nhiên mà chặt chẽ,
lô gích, dựa trên sự phát triển của hình ảnh mùa xuân Từ mùa
xuân của đất trời sang mùa xuân của đất nước và mùa xuân
của mỗi người góp vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung
- Bài thơ được viết bằng thể thơ ngũ ngôn không ngắt
nhịp trong từng câu, nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi
với dân ca miền Trung, xứ Huế Sử dụng cách gieo vần liền
giữa các khổ thơ tạo sự liền mạch của dòng cảm xúc
- Hình ảnh thơ : Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị với
những hình ảnhgiàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát Điều đáng
chú ý là những hình ảnh biểu trưng này thường được phát triển
từ những hình ảnh thực, tạo nên sự lặp lại mà nâng cao, đổi
mới của hệ thống hình ảnh (cành hoa, con chim, mùa xuân).
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, gợi hình, gợi cảm Có những câu thơ
cứ như câu nóitự nhiên, không trau chuốt từ ngữ nhưng vẫn
mang âm hưởng thi ca Cách sử dụng nghệ thuật đảo cấu trúc
ngữ pháp, câu hỏi tu từ, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, điệp từ,
điệp ngữ, điệp cấu trúc ngữ pháp độc đáo, giàu ý nghĩa Cách
0,25
0,25
0,5
0,5
Trang 14chuyển đổi đại từ nhân xưng: “tôi – ta”…
- Giọng điệu bài thơ thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác
giả Giọng điệucó sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn:
Vui tươi, say sưa ở đoạn đầu; trầm lắng, thiết tha ở đoạn bộc
bạch những tâm niệm; sôi nổi và tha thiết ở đoạn kết
0,5
0,5
- Sức hấp dẫn từ nội dung và nghệ thuật của bài thơ Mùa xuân
nho nhỏ đã tác động sâu sắc đến người đọc bao thế hệ, khơi
gợi từ tình yêu thiên nhiên đến tình yêu quê hương, đất nước,
từ khát vọng nhỏ bé, khiêm nhường của một cá nhân nâng lên
thành lẽ sống cao đẹp giàu giá trị nhân văn Vì thế với Mùa
xuân nho nhỏ ta không thể chỉ đọc một lần, không chỉ đọc
bằng lí trí hay tình cảm mà phải đọc bằng cả tâm hồn
- Bài học cho người nghệ sĩ: Những bài thơ hay góp phần làm
phong phú thêmcho thơ ca nhân loại Vì vậy, bằng tài năng và
tâm huyết của mình, nhà thơ hãy sáng tạo nên những thi phẩm
hay và giàu sức hấp dẫn từ nội dung đến hình thức Điều đó
vừa là thiên chức vừa là trách nhiệm của nhà thơ, là yêu cầu
thiết yếu, sống còn của sáng tạo nghệ thuật
- Bài học cho người tiếp nhận: Hiểu được thơ hay là hay cả
“hồn” lẫn “xác” Từ đó bồi đắp tâm hồn cuộc sống để cảm
nhận được giá trị của bài thơ hay; có sự tri ân, sự đồng cảm với
tác phẩm, với nhà thơ để có thể sẻ chia những tình cảm đồng
Trang 15Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
Câu 2:
Mỗi tác phẩm văn học chân chính phải là một lời đề nghị về lẽ sống.
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn
Duy để làm rõ lời đề nghị về lẽ sống của tác giả.
Bàn luận:
- Vì kiến thức ta đạt được sau quá trình học là hành trang theo ta suốt cuộc đời, để
có thể làm những điều ta mong muốn
- Vì học tập là công việc cả đời, trau dồi tri thức là chuyện luôn luôn nên làm, cóđam mê với việc học chúng ta sẽ tích lũy được những điều bổ ích, những kiến thức
đó giúp chúng ta trở thành người tốt hơn
- Đam mê học tập sẽ giúp chúng ta vượt qua những thử thách để đối mặt với nhữngkhó khăn, vượt qua nó một cách dễ dàng Vì cái rễ của học tập thì cay đắng nhưnghoa quả của nó lại ngọt ngào
- Đam mê học tập, ta có kiến thức cho chính bản thân mình Đến cuối cùng, chúng
ta đi học là để có kiến thức, để không trở thành gánh nặng của gia đình và xã hội
- Đam mê học tập là đam mê suốt đời, học tập suốt đời
- Phê phán những con người không hề có đam mê, cũng không có húng thú học hỏikiến thức, dễ nản chí mỗi khi gặp khó khăn
(Trong quá trình bàn luận học sinh cần đưa ra các dẫn chứng xác đáng, phù hợp đểchứng minh)
Bài học nhận thức, hành động:
Trang 16- Nhận thức được cần có đam mê học tập để trở thành nguời có tri thức nhưng cũngcần trở thành người có văn hóa, có đạo đức.
- Cần có đam mê trong học tập sẽ rèn luyện được những đức tính kiên trì, chịu khó
vì biển kiến thức là mênh mông thì con người mới thắp cho bản thân một ngọn lửasinh tồn, nó sẽ soi sáng cuộc đời bạn
- Liên hệ bản thân (khuyến khích những liên hệ thực tiễn, chân thành của bản thânhọc sinh)
Câu 2:
Giải thích:
- Văn học chân chính:là những tác phẩm văn học chứa đựng nội dung tư tưởng sâusắc, có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống con người
- lời đề nghị: đưa ra ý kiến, yêu cầu với mong muốn mọi người làm theo
- lẽ sống: giá trị sống, ý nghĩa cuộc đời mà mỗi người hướng tới
-> Bằng cách nói khẳng định, ý kiến đã nêu lên chức năng cao quý của văn họctrong việc bồi đắp và định hướng lí tưởng sống, giá trị sống cho con người
Bàn luận:
- Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Người nghệ sĩ khi cầmbút sáng tác đều thể hiện nhu cầu muốn bày tỏ, chia sẻ cảm xúc hay những suyngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, về con người
- Bởi vậy, một tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng gửi gắm một thông điệp
về lẽ sống: đó có thể là một triết lý sống, một cách ứng xử, một lý tưởng sống caođẹp hay là lời bày tỏ tình yêu với cuộc sống, lòng căm phẫn trước những lối sốnggiả tạo xấu xa, không xứng đáng với con người…
- Lời đề nghị về lẽ sống trong một tác phẩm không phải là bài giảng khô khan hay
là lời thuyết giáo về đạo đức Trái lại, đó là một cuộc đối thoại, gợi mở thông quahình tượng nghệ thuật độc đáo và cảm xúc mãnh liệt của nhà văn…
- Vì vậy, lời đề nghị về lẽ sống trong một tác phẩm văn học chân chính có khảnăng tác động mạnh mẽ đến người đọc, khơi gợi cuộc tự đấu tranh bên trong tâmhồn để lựa chọn những giá trị sống tích cực, đẹp đẽ…
Phân tích, chứng minh:
a Khái quát:
- Giới thiệu tác phẩm “Ánh trăng của tác giả Nguyễn Duy
Trang 17- Gắn với nhận định để làm rõ mỗi tác phẩm văn học chân chính phải là một lời đềnghị về lẽ sống của bài thơ.
b Phân tích, chứng minh:
- Bài thơ Ánh trăng là lời đề nghị về lẽ sống ân tình, thủy chung: biết trân trọngquá khứ cũng như những điều tốt đẹp từng làm nên ý nghĩa của cuộc đời mỗi conngười
- Bài thơ là những hồi ức sâu sắc về tuổi thơ “sống với đồng/ với sông rồi với bể”chan hòa cùng thiên nhiên tươi mát, sinh động
- Bài thơ là những kí ức không thể nào quên về “hồi chiến tranh ở rừng” có thiênnhiên bao bọc, chở che, làm người bạn tâm tình trong những bước đường hànhquân gian khổ - “vầng trăng thành tri kỉ” Những kí ức đó cũng chính là tình yêuđối với đất nước bình dị, nhân dân bao dung – “ngỡ không bao giờ quên/ cái vầngtrăng tình nghĩa”
- Bài thơ là lời bộc bạch chân thành của tác giả về hoàn cảnh sống thay đổi khiếntình cảm của mình với thiên nhiên, với một thời quá khứ khó khăn, gian khổ bị đổithay: “Từ hồi về thành phố/ quen ánh điện cửa gương…”
- Bài thơ là nỗi ân hận đến day dứt, hổ thẹn khi nhà thơ nhìn lại và đối diệnvới quákhứ vẫn vẹn nguyên tình nghĩa – “trăng cứ tròn vành vạnh” Phút “giật mình” củanhà thơ chính là sự hối hận chân thành nhất về lối sống vô tâm, vô tình của chínhmình – “ánh trăng im phăng phắc/ đủ cho ta giật mình”
Từ đó bài thơ truyền tải đến người đọc lời đề nghị về lẽ sống ân tình, thủy chung:biết trân trọng quá khứ cũng như những điều tốt đẹp từng làm nên ý nghĩa của cuộcđời mỗi con người
- Lời đề nghị về lẽ sống trong bài thơ tác động sâu sắc đến người đọc
Bài thơ giúp người đọc nhìn nhận lại chính mình, dũng cảm đối diện với những sailầm, khuyết điểm; biết day dứt, trăn trở trước những giờ phút sống vô tâm, vôtình… để từ đó vươn lên những lẽ sống cao đẹp
- Lời đề nghị về lẽ sống trong bài thơ được truyền tải bằng những hình thức nghệthuật độc đáo, giàu tính thẩm mĩ khơi gợi được sự rung cảm của người đọc
- Bài thơ kết hợp hài hòa giữa biểu cảm và tự sự: Câu chuyện giữa nhân vật trữtình và trăng được kể với ba mốc thời gian: thời khó khăn, gian khổ - trăng gắn bónhư tri kỉ; thời hòa bình về thành phố - trăng thành người dưng; khi mất điện -trăng hiện ra im phăng phắc và vẫn tròn vành vạnh/ đủ cho ta giật mình Từ đó,làm nổi bật tư tưởng chủ đề của bài thơ
Trang 18- Biện pháp nhân hóa khiến trăng giống như là một người bạn dù trong hoàn cảnhnào vẫn thủy chung, tròn đầy, lặng lẽ, sáng trong: “Trăng cứ tròn vành vạnh/ Kểchi người vô tình” Hình ảnh trong bài thơ vừa cụ thể vừa có tính khái quát, mang
ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, gợi nhiều suy tưởng, triết lí
- Giọng điệu tâm tình tự nhiên, sâu lắng, khiến cho lời đề nghị về lẽ sống dễ đượctiếp nhận và thấm sâu trong trái tim người đọc
Đánh giá, nâng cao
- Để tạo nên một tác phẩm chân chính, mỗi người nghệ sĩ cần phải sống sâu sắcvới cuộc đời và với chính mình; biết tự vượt lên những suy nghĩ, tình cảm nhỏ hẹpmang tính cá nhân để đạt đến những lẽ sống lớn, tình cảm lớn của thời đại
- Để những lẽ sống lớn, tình cảm lớn thấm sâu vào tâm hồn, nhận thức của ngườiđọc, mỗi nghệ sĩ cần không ngừng lao động để sáng tạo nên những tác phẩm đạtđược sự hài hòa giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật
- Mặt khác, người đọc cần phát huy vai trò chủ động, tích cực của mình trong việctiếp nhận những giá trị nội dung tư tưởng của một tác phẩm văn chương, từ đó traudồi nhân cách, vươn lên những lẽ sống cao đẹp ở đời
Nhà lí luận phê bình nổi tiếng của Trung Quốc Viên Mai khi bàn luận về thơ
đã nói: “Thơ là do cái tình sinh ra và đó phải là tình cảm chân thật.” (Tùy Viên