1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11 kì 2

116 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thơ “Lưu Biệt Khi Xuất Dương”
Tác giả Phan Bội Châu
Trường học Trường THPT
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Giáo án
Năm xuất bản Kì 2
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Người cách mạng cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc ⇒ hành động cởi mở, luôn tiếp thu những tư tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ giải phóng d

Trang 1

Ngày soạn:

Ngày dạy:

TIẾT 67-69: THƠ PHAN BỘI CHÂU

BÀI THƠ “ LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG”

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

Trang 2

+ Thảo luận nhóm

+ Giảng bình

+ Phân tích

2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Phan Bội Châu trong tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP

PHẦN I: KIẾN THỨC CHUNG

1 Tác giả

- Phan Bội Châu (1867 - 1940)

- Quê: Đan Nhiễm – Nam Đàn – Nghệ An

- Là một người yêu nước và cách mạng ―vị anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập‖

- Là nhà thơ, nhà văn, là người khơi nguồn cho loại văn chương trữ tình

Trang 3

Tác giả nêu lên quan niệm mới: là đấng nam nhi phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên điều kì lạ ―yếu hi kì‖ túc là phải sống cho phi thường hiển hách, dám mưu

đồ xoay chuyển càn khôn

Câu thơ thể hiện một tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở mức

độ và tài năng của mình

b Hai câu thực

- ―Tu hữu ngã‖ (phải có trong cuộc đời) → ý thức trách nhiệm của cái tôi cá nhân trước thời cuộc, không chỉ là trách nhiệm trước hiện tại mà còn trách nhiệm trước lịch sử của dân tộc

→ Đó là ý thức sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó

c Hai câu luận

- Nêu lên tình cảnh của đât nước: ―non sông đã chết‖ và đưa ra ý thức về lẽ vinh nhục gắn với sự tồn vong của đất nước, dân tộc

- Đề xuất tư tưởng mới mẻ, táo bạo về nền học vấn cũ : ―hiền thánh còn đâu học cũng hoài‖

⇒ Bộc lộ khí phách ngang tàng, táo bạo, quyết liệt của một nhà cách mạng tiên phong: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết

Trang 4

⇒ Hình ảnh đầy lãng mạn hào hùng, đưa nhân vật trữ tình vào tư thế vượt lên thực tại đen tối với đôi cánh thiên thần, vươn ngan tầm vũ trụ Đồng thời thể hiện khát vọng lên đường của bậc đại trượng phu hào kiệt sẵn sàng ra khơi giữa muôn trùng sóng bạc tìm đường cứu sống gian sơn đất nước

Trang 5

⇒ Tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở mức độ và tài năng của mình ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai

- Hai câu thực: Khẳng định ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc

+ Câu 3: ―Tu hữu ngã‖ (phải có trong cuộc đời) → ý thức trách nhiệm của cái tôi

cá nhân trước thời cuộc, ý thức rõ vai trò, tầm quan trọng của cá nhân đối với vận mệnh trăm năm Điều này đối lập với sự tự cao cá nhân

+ Câu 4: Tác giả lại chuyển giọng nghi vấn ―cánh vô thuỳ‖ (há không ai?) ⇒ khẳng định cương quyết hơn khát vọng sống hiển hách, phi thường, phát huy hết tài năng trí tuệ dâng hiến cho đời

→ Ý thức sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó

- Hai câu luận : Quan niệm về nguyên tắc hành xử mới của Phan Bội Châu trước vận mệnh đất nước

+ Tình cảnh đất nước: ―Non sống đã chết‖, đất nước đã rơi vào tay giặc

+ Quan niệm mới mẻ, đối lập với các tín điều xưa cũ: ý thức về lẽ vinh nhục gắn với sự tồn vong của đất nước: ―sống thêm nhục :

―Hiền thánh còn đâu cũng học hoài‖

Trang 6

+ Người cách mạng cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc ⇒ hành động cởi mở, luôn tiếp thu những tư tưởng mới

mẻ, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đối lập với quan điểm cứu nước trì trệ, lạc hậu của các nhà Nho đương thời

- Hai câu kết: Tư thế và khát vọng buổi lên đường

+ Tư thế lên đường của người chí sĩ thật sự hoành tráng:

―Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Tiên trùng bạch lãng nhất tề phi‖

+ Những hình tượng kì vĩ được sử dụng: ―trường phong‖- ngọn gió dài, lớn;

―Thiên trùng bạch lãng‖ (ngàn lớp sóng bạc) ⇒ Tư thế hiên ngang, mong muốn lớn lao mang tầm vũ trụ của người cách mạng

⇒ Tầm vóc của ý chí con người đã lớn lao hơn, không cam chịu trói mình trong khuôn khổ, vượt ra ngoài vòng kiểm tỏa

- Giới thiệu tác giả và tác phẩm: ―Xuất dương lưu biệt‖ là một bài thơ đặc sắc của

Phan Bội Châu

Trang 7

- Giới thiệu vấn đề: Một trong những yếu tố làm nên điều đó chính là vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng của nhân vật trữ tình được khắc họa rõ nét qua bài thơ

Ý chí hào hùng của nam nhân mọi thời đại

+Tầm vóc của con người trong vũ trụ và sự tự ý thức về trách nhiệm lớn lao của mình: làm những điều to lớn, giúp ích cho đất nước, để lại tên tuổi cho đời sau =>

Sự tự tin đã làm nên vẻ đẹp lãng mạn và sự ý thức về tầm vóc lớn lao đã tạo nên vẻ đẹp hào hùng cho nhân vật trữ tình

+ Những khát vọng mạnh mẽ, táo bạo về một cuộc ra đi hoành tráng: Con người như hòa quyện vào thiên nhiên, trở thành trung tâm của bức tranh Khí thế của con người lan tỏa ra muôn trùng con sóng bạc và chính những con sóng cũng cùng hòa chung một nhịp đập với trái tim sôi sục, cháy bỏng của con người

-> Qua quan niệm, tư tưởng và tầm vóc của con người, bài thơ đã xây dựng thành công vẻ đẹp hào hùng và lãng mạn của nhân vật trữ tình Những khát vọng mạnh mẽ

đã trở thành nhựa sống rào rạt chảy trong suốt bài thơ

- Vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng được xây dựng bằng những nét nghệ thuật đặc sắc: + Giọng thơ nhiệt thành, sôi sục và có lúc thiết tha, rạo rực

+ Hình ảnh thơ vừa lãng mạn, vừa hùng vĩ Những hình ảnh lớn lao liên tục xuất hiện

từ đầu đến cuối bài thơ như “càn khôn”, “trăm năm”, “non sông”, “bể Đông”,

“muôn trùng sóng bạc”,…đã chắp thêm đôi cánh cho những ước vọng lãng mạn,

mạnh mẽ, táo bạo

c Kết bài

Phan Bội Châu đã xây dựng thành công hình tượng một người chí sĩ mang vẻ đẹp hài hòa giữa lãng mạn và hào hùng Đặt trong hoàn cảnh thực tế, cuộc ra đi này vốn dĩ là một cuộc ra đi âm thầm và lặng lẽ Nhưng tư thế và tầm vóc mà nhà thơ tái hiện lại

Trang 8

qua bài thơ đã thể hiện phần nào sự tự tin, nhiệt huyết sôi sục trong lòng người cách mạng yêu nước Điều đó càng góp phần khẳng định vẻ đẹp vừa lãng mạn lại không kém phần hào hùng của nhân vật trữ tình

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

- Ghi nhớ nội dung bài học

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Chuẩn bị bài: Chủ đề THƠ TẢN ĐÀ

V RÚT KINH NGHIỆM

Trang 9

- Ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm về nghề văn của Tản Đà

- Những sáng tạo hình thức nghệ thuật của bài thơ: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái, tự nhiên, ngôn ngữ sinh động

2 Kĩ năng

- Đọc hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại

- Bình giảng những câu thơ hay

Trang 10

- Luyện đề theo yêu cầu

3 Thái độ

- Có thái độ trân trọng những giá trị văn chương và người nghệ sĩ

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Tản Đà trong tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

PHẦN I: KIẾN THỨC CHUNG

I Đôi nét về tác giả Tản Đà

- Tản Đà (1889- 1939) tên khi sinh là Nguyễn Khắc Hiếu

- Ông sinh ra và lớn lên trong thời buổi giao thời, Hán học đã tàn mà Tây học cũng mới bắt đầu nên con người ông kể cả học vấn, lối sống, sự nghiệp văn chương đều mang dấu ấn người của hai thế kỉ

Trang 11

- Ông học Hán học từ nhỏ nhưng sau hai khóa thi Hương ông bỏ thi chuyển sang sáng tác bằng chữ quốc ngữ

- Các tác phẩm chính:

+ Thơ: Khối tình con I, II

+ Truyện viễn tưởng: Giấc mộng con I, II

+ Luận thuyết: Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ

+ Thơ và văn xuôi: Còn chơi

+ Tự truyện: Giấc mộng lớn, Thơ Tản Đà

II Đôi nét về tác phẩm Hầu trời (Tản Đà)

Trong ―Thi nhân Việt Nam‖ – một cuốn sách được coi là bảo tàng của Thơ mới, Tản

Đà được cung kính đặt lên hàng đầu Tản Đà chưa phải là một nhà thơ mới nhưng những gì thi nhân để lại cho thơ ca thì Hoài Thanh đã coi ông là ―con người của hai thể kĩ‖, ―người đã tạo nên những bản đàn cho một cuộc đại nhạc hội đang sắp sửa‖ Thơ Tản Đà mang những dấu hiệu đổi mới cả về nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật, đặc biệt ta nhận thấy rất rõ cái tôi với những điệu tính cảm xúc mới ―Hầu trời‖ là bài thơ dài tiêu biểu cho những đặc điểm thơ Tản Đà

Trang 12

1 Xuất xứ

- In trong tập thơ Còn chơi, xuất bản năm 1921

2 Giá trị nội dung

- Qua bài thơ tác giả dã thể hiện cái tôi cá nhân ngông ngạo, phóng túng, tư ý thức

về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khát vọng được khẳng định giữa cuộc đời

3 Giá trị nghệ thuật

- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong hình thức nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh

TIẾT 2:

III Dàn phân tích Hầu trời (Tản Đà)

1 Khổ thơ đầu: giới thiệu câu chuyện

- Câu thơ tác giả đặt vấn đề cho vẻ khách quan: chẳng biết câu chuyện tôi sắp kể chẳng biết có hay không?

- Nhưng tác giả vẫn khẳng định câu chuyện có vẻ là thật, điệp từ thật và hàng loạt dấu cảm thán đã giúp tác giả khẳng định độ chân thật của câu chuyện sắp kể

- Cách vào vấn đề gây được mối nghi vấn kích thích trí tò mò ở người đọc, tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện

2 Diễn biến buổi hầu trời

- Thi sĩ:

+ cao hứng đọc hết văn vần sang văn xuôi, hết văn thuyết lí lại sang văn chơi

Trang 13

+ rất đắc ý nên càng đọc càng có cảm xúc nên đọc rất hay: văn dài hơi tốt ran cung mây

- Chư tiên nghe thơ rất tán thưởng, hâm mộ

- Trời đánh giá cao không tiếc lời tán dương

- Nghệ thuật so sánh đã làm nổi bật vẻ đẹp từ ngôn ngữ thơ đến chí khí, tâm hồn của thi sĩ

- Được trời hỏi thăm về tình hình văn chương dưới hạ giới thi sĩ liền trình bày tình cảnh khốn khổ của kẻ theo đuổi nghề văn trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ:

- Một con người ý về cá nhân rất cao, dám tự mình khen mình Đây không phải là sự

tự kiêu mà là cá nhân tự ý thức được tài năng thực sự của mình

- Giọng kể hào hứng, phấn chấn, tự hào

4 Nghệ thuật

Trang 14

- Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc khuôn mẫu

- Ngôn từ hóm hỉnh, có duyên lôi cuốn người đọc

- Cách biểu hiện cảm xúc tự do, phóng túng

- Hư cấu, tưởng tượng sinh động

- Giới thiệu về tác giả Tản Đà và bài thơ Hầu trời

- Dẫn dắt vào vấn đề: Một trong những tác phẩm đặc sắc và thể hiện rõ sự phóng khoáng của Tản Đà là tác phẩm Hầu trời

*.1 Thi nhân đọc thơ cho trời và chƣ tiên nghe

- Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình:

+ Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc: ― Đọc hết văn vần sang văn xuôi/Hết văn thuyết lý lại văn chơi‖

+ Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình: ―Hai quyển khối tình văn

lý thuyết/ Hai khối tình còn là văn chơi/ Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết….‖

Trang 15

+ Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh có phần tự đắc

=> Đoạn thơ cho thấy thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ ―cái tôi‖ cá thể Ông cũng rất ―ngông‖ khi tìm đến trời để khẳng dịnh tài năng Đây là niềm khát khai chân thành trong tâm hồn thi sĩ

- Thái độ của người nghe: Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả

+ Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như sao băng…

+ Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng…Tâm nở dạ, cơ lè lưỡi…

=> Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạng và thể hiện tư tưởng thoát li trước cuộc

đời

*.2 Thi nhân trò chuyện với trời:

+ Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình =>Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cách để khẳng định cái tôi cá nhân của mình

+ Thi nhân kể về cuộc sống: Đó là môt cuộc sống nghèo khó, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, coi thường Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cỏi trời để thoả nguyện nỗi lòng

=>Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội lúc bấy giờ, một cuộc sống cơ cực không tấc đất cắm dùi, thân phận bĩ rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn

=> Qua đoạn thơ tác giả đã cho người đọc thấy một bức tranh chân thực và cảm động

về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác

=> Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này

* 3 Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân:

Trang 16

+ Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương =>Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không hoàn toàn thoát li cuộc sống Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộc sống ấm no hành phúc hơn

+ Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời => đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc

=> Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạng và cảm hứng hiện thực

đan xen khăng khít

* Đánh giá chung:

- Đánh giá trị nội dung, tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

c Kết bài:

- Cảm nghĩ chung về tài năng, tình cảm của tác giả

"Hầu trời" thực sự là một bài thơ hay với nhiều nét độc đáo, tiêu biểu cho nét giao thời trong nghệ thuật thi ca của Tản Đà Tuy không trực tiếp bàn về các vấn đề trong

xã hội, khi cảm nhận tác phẩm này, ta vẫn thấy bóng dáng của các vấn đề ấy dưới một hình thức thể hiện khác, mới mẻ hơn, ấn tượng hơn so với trước đó

ĐỀ SỐ 2: Phân tích cái Ngông của Tản Đà trong bài “Hầu trời ”

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

a Mở bài

- Giới thiệu sơ lược về tác giả và phong cách thơ văn

- Hầu trời là một trong những bài thơ hay nhất của Tản Đà mà ở đó người ta thấy rõ được cái chất thơ của người thi sĩ, mà nổi bật nhất làm nên giá trị đặc sắc của bài thơ

là một cái "ngông" rất Tản Đà

b Thân bài

* Nền tảng của cái "ngông" trong Hầu trời:

- Giấc mơ được lên hầu trời, đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe

Trang 17

- Nỗi cô đơn trước cuộc đời, khao khát được thể hiện, được thấu hiểu nhưng khổ nỗi

"Hạ giới

văn chương rẻ như bèo", nên đành lòng ông phải tìm kiếm chốn cực lạc trong mơ cho thỏa

nỗi lòng của thi sĩ

* Tản Đà "ngông" trong lúc đọc thơ cho chƣ tiên cùng Trời nghe:

- Phong thái ung dung, thích chí và vô cùng tự tin, ông đọc những vần thơ của mình một cách say sưa, mê đắm, đọc như chưa từng được đọc bao giờ "Đọc hết văn vần sang văn xuôi/Hết văn thuyết lí lại văn chơi"

- Thi sĩ tự nâng cao giá trị và tầm vóc bản thân ngang bằng với chư tiên bằng việc được nhà trời săn sóc, châm trà cho "nhấp giọng" để lấy tinh thần đọc thơ

- Tự khen thứ văn chương của mình bằng những lời mà đôi lúc tôi nghĩ là có phần hơi tự phụ, kiêu căng một chút "Văn dài hơi tốt ran cung mây", đắc chí vì thần tiên cũng phải tấm tắc khen "Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay"

=> Xóa nhòa đi sự cách biệt thân phận của thần tiên và người phàm, giờ đây họ chỉ đang đứng trên bình diện thi nhân và người yêu thơ, chan hòa và gần gũi

- Tản Đà còn mạnh dạn liệt kê hết những vốn liếng văn chương mà mình có được, vô cùng tâm đắc với thành tựu của mình chỉ muốn sao để người ta phải công nhận và thán phục

- Tự tin, vui vẻ khoe rằng "Nhờ Trời văn con còn bán được", ngầm chứng minh rằng thơ văn của ông có sức hút mạnh mẽ vô cùng, bởi trong thời cuộc rối ren mà người ta vẫn muốn đọc sáng tác của Tản Đà

* Cái "ngông" trong khi trò chuyện cùng Trời:

- Lối nói của ông không hề có sự e dè sợ hãi, mà thay vào đó là phong thái tự tin, thành thực, xen lẫn chút hóm hỉnh, vui tươi vô cùng thoải mái

- Xem chư tiên và Trời là những người bạn tâm giao, kể lể về cuộc sống nghèo khó, khiến những nhà trí thức phải nhiều phen khốn đốn

- Cho mình vốn là một trích tiên bị đày xuống hạ giới vì tội "ngông", rồi lại được Trời giải thích rằng sai Tản Đà xuống làm việc "thiên lương"

Trang 18

- Vinh hạnh được thiên đình ưu ái cho xe Khiên Ngưu đưa tiễn, chúng tiên thì lũ lượt tiễn đưa

- Cách dùng từ, hành văn hóm hỉnh, phóng khoáng, bay bổng cũng góp phần làm cho cái "ngông" của Tản Đà nổi bật hơn

c Kết bài

- Tổng kết giá trị nội dung nghệ thuật của tác phẩm hoặc nêu cảm nghĩ cá nhân

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

- Ghi nhớ nội dung bài học

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Chuẩn bị bài: Chủ đề NHẬT KÍ TRONG TÙ

Ngày soạn: 3/3/2022

Ngày dạy:4/3/2022

Trang 19

- Đọc hiểu bài thơ theo đặc trưng thể loại

- Luyện giải đề theo yêu cầu

3 Thái độ

- Giáo dục tinh thần lạc quan, yêu nước cho Hs

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

Trang 20

+ Phân tích

2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

PHẦN I: KIẾN THỨC CHUNG

1/Tác giả:

- Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890, trong một gia đình yêu nước ở Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An

- Học ở trường Quốc học Huế rồi dạy học ở Dục Thanh (Phan Thiết)

- Sớm có lòng yêu nước; Năm 1911, ra đi tìm đường cứu nước

- Hoạt động cách mạng ở nhiều nước: Pháp, TQuốc, Thái Lan…

- Ngày 3-2-1930, thành lập đảng cộng sản Việt Nam

- Năm 1941, trở về nước, lãnh đạo phong trào CM trong nước

- Tháng 8-1942, sang TQ để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến tháng 9-1943

- Ra tù, Người trở về nước, lãnh đạo phong trào CM, tiến tới tổng khởi nghĩa tháng 8-1945

- Ngày 2-9-1945, đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH, giữ chức vụ Chủ tịch nước

- Lãnh đạo nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ

- Từ trần ngày 2-9-1969, tại Hà Nội

→ Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và nhà cách mạng vĩ đại, nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào quốc tế

Trang 21

→ Văn thơ Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá, là một bộ phận gắn bó hữu cơ với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người Văn thơ của Người có tác dụng to lớn đối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, đồng thời có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử và đời sống tinh thần của dân tộc

2/Tác phẩm: “ Nhật kí trong từ”

a Hoàn cảnh sáng tác

Nhật ký trong tù (nguyên văn chữ Hán: 獄中日記; Hán-Việt: Ngục trung nhật ký) là

tập thơ chữ Hán gồm 134 bài theo thể Đường luật do Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây, Trung Quốc, từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943 Ngoài ra, phần cuối văn bản là bút ký đọc sách và bút ký đọc báo ghi chép tóm tắt những thông tin quan trọng

về chính trị, quân sự, văn hóa quốc tế và Việt Nam đương thời

Nhật ký trong tù không chỉ ghi những cảnh sinh hoạt trong tù, mà còn có ý nghĩa tố

cáo chế độ nhà tù khắc nghiệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch Để tránh rắc rối với chính quyền Tưởng Giới Thạch, ở bìa đầu cuốn sổ, Hồ Chí Minh đã cẩn thận viết chệch thời gian sáng tác đi 10 năm: "29/8/1932 – 10/9/1933"; nhưng đến cuối tập thơ, trang 53, trên chữ "hoàn" (hết), Hồ Chí Minh đã dùng cùng một thứ chữ để ghi lại thời gian sáng tác chính xác: "29/8/1942 – 10/9/1943"

Từ năm 1960, tác phẩm này được dịch ra tiếng Việt, được nhiều người đánh giá là một thể hiện khác của con người Hồ Chí Minh qua cách nhìn là một nhà thơ Đến nay đã được xuất bản nhiều lần, dưới nhiều hình thức khác nhau, được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới, nhiều lần được thể hiện bằng thư pháp chữ Việt, Hán, Triều Tiên, Nhật Bản Ngày 1 tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định công nhận bảo vật quốc gia cho tác phẩm "Ngục trung Nhật ký"

b Giá trị cơ bản:

- Giá trị nội dung:

Trang 22

+ Giá trị hiện thực: ―NKTT‖ ghi lại một cách chân thực bộ mặt thật đen tối của chế

độ nhà tù nói riêng và của xã hội Trung Quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch

Giam cầm đầy đọa người vô tội

Cướp đoạt mọi quyền lợi của con người

Nhà tù chứa đầy những tệ nạn xã hội

+ Giá trị tinh thần: bức chân dung tự họa bằng thơ về con người tinh thần Hồ Chí Minh trong nhà lao Tưởng Giới Thạch

Một tinh thần thép vững vàng, bất khuất

Phong thái ung dung tự tại luôn tin tưởng lạc quan

Tinh thần yêu nước cháy bỏng, luôn khát vọng tự do khắc khoải, luôn hướng về Tổ quốc

Tinh thần yêu thiên nhiên

Tinh thần nhân đạo

- Giá trị nghệ thuật:

+ Đậm màu sắc cổ điển

+ Thể hiện tinh thần hiện đại

3 Bài thơ Mộ( Chiều tối)

- Hoàn cảnh sáng tác:Bài thơ thứ 31 gợi cảm hứng từ một buổi chiều tối tác giả bị giải từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo

a Nội dung

* Bức tranh thiên nhiên

Trang 23

- Hình ảnh: ―quyện điểu,cô vân‖ thể hiện chất liệu cổ điển của bài thơ

- Sự vận động: ―Tầm túc thụ, độ thiên không‖ là sự di chuyển có định hướng

→ Câu thơ có sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại

→ Với cách miêu tả chấm phá thiên nhiên buổi chiều được gợi lên đẹp nhưng đượm buồn.Câu thơ biểu hiện lòng yêu thiên nhiên và trạng thái tinh thần bình tĩnh trong hoàn cảnh khó khăn,gian khổ.Người tù đó không than van,oán trách.Nỗi đau của một nhân cách vĩ đại được người đọc cảm nhận từ cảnh và tình rất thật

* Bức tranh sự sống

- Hình ảnh: ―Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc‖ làm cho bức tranh thiên nhiên có sự vận động xua tan đi cảm giác buồn bã,xua tan đi không khí lạnh lẽo,xua tan đi cảm giác mệt mỏi

- Nghệ thuật diễn tả vòng quay theo chu kì, biện pháp tu từ điệp vòng,nghệ thuật nhịp điệu phối âm diễn tả sự bùng lên nhanh mạnh của ngọn lửa→vòng quay của công việc và cũng là vòng quay của tg.Câu thơ không nói đến cái tối mà vẫn gợi được tối

- Nghệ thuật sử dụng nhãn tự ―hồng‖ làm ta có cảm giác cái nóng ấm bao trùm bài thơ, câu thơ rực lên sắc màu tha thiết tin yêu c/sống

→ Hai câu thơ thể hiện lòng yêu thương con người,yêu c/sống ở Bác đồng thời thấy được ý nghĩa tượng trưng đó là sự vận động có chiều hướng lạc quan bởi luôn hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai

c Nghệ thuật

- Từ ngữ cô đọng, hàm súc

- Thủ pháp đối lập, điệp liên hoàn,

d Ý nghĩa văn bản

Trang 24

Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ- chiến sĩ Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống

TIẾT 2: PHẦN II: LUYỆN ĐỀ

ĐỀ SỐ 1: Phân tích bài thơ “Mộ” ( Chiều tối) của nhà thơ- chiến sĩ Hồ Chí Minh

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

a Mở bài

- Giới thiệu sơ lược về tác giả, nêu những ý chính trong bài thơ Chiều tối

+ Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là nhà thơ lớn của dân tộc Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù) là tác phẩm tiêu biểu, được Bác viết trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt tại Quảng Tây (Trung Quốc), từ mùa thu năm

1942 đến mùa thu 1943

+ Mộ (Chiều tối) là bài thơ có giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo: Điều khác lạ là

bài thơ được viết trong hoàn cảnh người bị giải đi trên đường, với gông cùm xiềng xích, nhưng không phải là một lời than vãn xót xa Trái lại, đó là một nét hoan ca về cuộc sống, về con người, biểu hiện tâm hồn hết sức đẹp đẽ, nhân cách lớn lao của Hồ Chí Minh

b Thân bài

* Khái quát chung về hoàn cảnh sáng tác, thể thơ

Tháng 8/1942, Bác Hồ sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của bạn bè quốc tế

về cuộc cách mạng ở Việt Nam Sau mười lăm ngày đi bộ khi vừa tới thị trấn Túc Vinh, tỉnh Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ và bị

"mười bốn trăng tê tái gông cùm" trong gần ba mươi nhà lao của tỉnh Quảng Tây

Trong thời gian này Người đã sáng tác tập thơ Nhật ký trong tù gồm 134 bài thơ

bằng chữ Hán Bài thơ "Mộ" (Chiều tối) được xem là áng thơ tuyệt bút, được Người

làm trên đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo

* Phân tích:

Trang 25

* 1 Hai câu đầu

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

- Hai cầu mở đầu bài Chiều tối vẽ nên một bức tranh nên thơ, yên bình của cuộc sống

: chim bay về rừng tìm chốn trú ngụ, đám mây trôi lững lờ trên bầu trời chiều, chỉ vài nét chấm phá, những bức họa (trong bài thơ có họa) của thơ xưa Song, phong vị cổ thi ấy do gần gũi về bút pháp Còn thực ra, đây vẫn là buổi chiều nay, với cảnh thật

và người thật (người tù - nhà thơ) đang tận mắt nhìn ngắm

- Bức tranh phong cảnh kia tuy đẹp và nên thơ nhưng vẫn có nét buồn:

+ "Quyện" nghĩa là mỏi, chán, mỏi mệt

+ "Không" là trên bầu trời dài, rộng mênh mông

-> Bản thân bầu trời vẫn dài rộng như là triệu năm qua, nhưng đám mây đơn lẻ kia đã khiến nó càng trở nên mênh mang hơn

=> Hai câu thơ, theo đúng nghĩa đen cũng chỉ ra một cảnh buồn Với người bình thường, thậm chí đang vui, trước cảnh ấy, lòng hẳn không sao tránh một cảm xúc man mác, bâng khuâng Câu thơ khiến người ta liên tưởng đến một buổi chiều khác, trong thơ cổ:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn

Trang 26

(Cảnh chiều hôm - Bà Huyện Thanh Quan)

- Buổi chiều xưa không vắng lặng, nhưng lòng người đã tím ngát nỗi buồn Còn cảnh

ở đây, vốn là đơn chiếc Cảnh ấy nói hộ lòng người, hẳn đang buồn Đúng thôi, ngay đến cánh chim kia, khi chiều tắt đã vội trở về Thế mà, giờ này, người tù mắt mờ, chân yếu, lại bị gông cùm, vẫn đang lê bước trên đường dài Người đó không than vãn, do nhân cách vĩ đại, song ai không cảm được nỗi đau rất thật từ cảnh tình ấy?

* 2 Hai câu cuối

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

- Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang dần tắt, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống Còn ở đây, dù không tả nhưng ai cũng biết, đất trời đã vào đêm, bóng tối len dày muôn nơi Vậy, điều gì khiến người ta cảm nhận được từng bước đi của thời gian, cảm nhận thấy được ánh sáng và bóng tối? Đó là cánh chim đơn lẻ bay về chốn cũ Đặc biệt, đó là ánh rực hồng của lò than nơi xóm núi Đây cũng là lối chấm phá, lấy ánh sáng tả bóng tối

- Nhưng sự chuyển hướng đích thực của hình tượng thơ không chỉ có vậy Nếu cảnh

ở trên mang nét buồn của sự lẻ loi, hoang vắng, thì cảnh ở đây, dù là đêm tối nhưng

ấm áp, giàu sức sống Đôi mắt của người nghệ sĩ ở cảnh trước khi phóng nhìn ra xa

và lên cao, càng nhìn càng mất hút và trống trải Khi đôi mắt ấy nhìn gần, đã bắt gặp hình ảnh không ngờ:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

- Vóc dáng người thôn nữ cùng với công việc lao động dường như là thường ngày ấy

đã xua đi sự cô quạnh giữa miền sơn cước Và, đến lúc công việc đã xong, thì ánh sáng tràn ngập

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

=> Trong bóng đêm, ánh sáng ấy càng có sức lan tỏa Lòng người từng man mác buồn đã ấm lại cùng với ánh lửa kia Đến đây thì sự vận động của hình tượng thơ được trọn vẹn

* Đánh giá chung:

Trang 27

- "Mộ" là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh với bút

pháp chấm phá để tả cảnh, lấy động tả tĩnh, đặc biệt là lấy cảnh tả tình

- Trong bài thơ, không có từ hay chi tiết nói về chủ thể trữ tình, nhưng người đọc vẫn nhận ra đôi mắt, tấm lòng của con người ấy Tuy nhiên, dù mang phong vị cổ điển, đây vẫn là bài thơ hiện đại Chất hiện đại bộc lộ ở sự vận động hình tượng thơ, nhất

là ở tấm lòng và tư tưởng của thi nhân Dù bị gông cùm, xiềng xích, con người đó vẫn hết sức ung dung tự tại, luôn quên mình để nhìn ngắm cuộc sống và rung động

với từng biểu hiện, dù chỉ nhỏ nhoi, tinh tế

c Kết bài:

Như vậy chỉ với 28 câu thơ thất ngôn tứ tuyệt được kết hợp hài hòa giữa chất cổ điển

và hiện đại, giữa tâm hồn thi sĩ với trái tim thép người chiến sĩ, bài thơ đã làm xúc động người đọc trước tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu tha thiết cuộc sống và sự cảm thông, thương yêu con người của vị cha già dân tộc Con người Bác là tấm gương sáng để cho biết bao thế hệ đồng bào Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

b Thân bài

* Khái quát chung:

Trang 28

+ Hình ảnh chòm mây: biểu tượng cho không gian cao rộng của bầu trời

- Thể thơ tứ tuyệt, lời ít ý nhiều, để lại nhiều dư ba

- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: chỉ bằng vài nét chấm phá mà ghi lại linh hồn của tạo vật và gợi được nỗi niềm của nhà thơ

*.2 Vẻ đẹp hiện đại:

- Hình ảnh thơ: cánh chim, chòm mây, người con gái xay ngô là những hình ảnh của hiện thực

+ Cánh chim mỏi: chữ ―mỏi‖ thể hiện sự cảm nhận rất sâu cái bên trong của sự vật

Đó là cánh chim bay theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống Đó là cánh chim của

tự do, của ước mơ sum họp Đấy cũng là niềm khao khát của người tù

+ Chòm mây cô đơn trôi chậm chạp giữa bầu trời là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang

bị giải đi trên đường xa vạn dặm chưa biết đâu là điểm dừng Thế nhưng phong thái

Trang 29

của người tù vẫn rất ung dung, tự tại, phong thái của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, luôn làm chủ hoàn cảnh

+ Hình ảnh người con gái xóm núi xay ngô tối là hình ảnh của con người lao động, hiện lên sinh động, khỏe khoắn, tích cực, là trung tâm của bức tranh Chiều tối

+ Sự rực hồng của bếp lửa, hình ảnh này đã xua tan đi bóng tối, giá rét, mang đến cho người tù niềm vui của sự sống, của hơi ấm

=> Hình ảnh thơ giản dị mà chứa đựng được những tình cảm rất đỗi đời thường và một nghị lực phi thường của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh

- Sự vận động của tứ thơ: đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ nỗi buồn đến niềm vui

=>Thể hiện được tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của Bác

- Tâm hồn Bác:

+ Yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống

+ Đồng cảm, chia sẻ với muôn loài, đặc biệt là nỗi vất vả của những con người lao động Đó cũng là tình cảm quốc tế vô sản trong sáng

+ Tâm hồn lạc quan, giàu nghị lực

=> Đó là một tâm hồn nghệ sĩ mà rất chiến sĩ

* Đánh giá chung:

- Qua đó đã làm toát lên hình tượng nhân vật trữ tình: Người vừa có tâm hồn thi sĩ vừa có cốt cách của người chiến sĩ Bác có tâm hồn lạc quan, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và nghị lực phi thường

c Kết bài:

- Khẳng định lại vẻ đẹp cổ điển và hiện đại đã góp phần làm nên thành công của bài thơ Chiều tối và phong cách thơ của Hồ Chí Minh

Trang 30

IV HƯỚNG DẪN HS HỌC BÀI Ở NHÀ: ( 1 phút )

- Ghi nhớ nội dung bài học

- Tìm hiểu một số đề bài liên quan

- Chuẩn bị bài: Chủ đề THƠ TỐ HỮU

Ngày soạn: 8/3

Ngày dạy: 9/3

TIẾT 76,77,78:

THƠ TỐ HỮU BÀI THƠ “ TỪ ẤY ”

Trang 31

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên

- Giáo án dạy thêm

- Phương tiện, đồ dùng dạy học

2 Học sinh: Sgk, tài liệu tham khảo

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu viết về Tố Hữu trong các tài liệu tham khảo hoặc trên các trang web

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

PHẦN I: KIẾN THỨC CHUNG

1 Tác giả

- Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành

- Là ―lá cờ đầu của thơ ca cách mạng‖ Việt Nam hiện đại

- Thơ trữ tình – chính trị: thể hiện lẽ sống, lí tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống

2 Bài thơ

a Hoàn cảnh sáng tác

- Tháng 7 năm 1938 Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương Để ghi lại kỉ niệm đáng nhớ ấy, ông đã viết bài thơ Từ ấy

Trang 32

- Bài thơ rút ra từ phần Máu lửa của tập thơ Từ ấy

b Giá trị nội dung

* Niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng cộng sản

*.1 Hai câu đầu

- Từ ấy là phút giây đầu tiên tác giả đón nhận ánh sáng của lí tưởng cộng sản Đó là phút giây thiêng liêng trong cuộc đời nhà thơ

- Lí tưởng cộng sản là ánh nắng hạ chói chang tỏa ra từ mặt trời chân lí ⇒ đó là thứ ánh sáng của sự sống, của lí tưởng đúng đắn, cao đẹp

- Nhà thơ đã đón nhận bằng cả trái tim và khối óc, tâm hồn nhà thơ như bừng tỉnh Hai động từ bừng, chói đã đặc tả sự thay đổi bất ngờ, mạnh mẽ ấy

*.2 Hai câu cuối

- Tâm hồn nhà thơ diễn ra cuộc tái sinh màu nhiệm lí tưởng cộng sản như chiếc đũa thần biến tâm hồn tài lụi lâu nay của nhà thơ bỗng chốc thành vườn hoa lá rực rỡ sắc hương và rộn ràng tiếng chim

- Nhịp thơ linh hoạt , biến hóa, lối thơ vắt dòng khiến đoạn thơ như tiếng reo vui hân hoan, như khúc ca sôi nổi chứa chan niềm thành kính, tri ân với Đảng

* Nhận thức mới về lẽ sống

- Trước khi bắt gặp lí tưởng cộng sản tâm hồn nhà thơ thu vào cái tôi cô đơn, sầu buồn, bế tắc như bao nhà thơ cùng thời

- Từ khi bắt gặp lí tưởng tâm hồn nhà thơ thay đổi diệu kì:

+ nhà thơ hòa vào khối đời chung vào cuộc sống của những người lao khổ để cùng phấn đấu vì lí tưởng cao cả

+ ông tự nguyện gắn kết đời mình với mọi người, với trăm nơi, với bao hồn khổ

Trang 33

+ mà sự gắn kết ấy mới máu thịt, thiết tha làm sao: gắn bó bằng cả tấm lòng, cả tâm hồn, cả trái tim

+ gắn kết để sẻ chia, tạo nên sức mạnh lớn lao, tạo nên khối đại đoàn kết vì độc lập tự do của dân tộc

- Hàng loạt điệp từ, điệp cấu trúc khiến lời thơ rắn rỏi như lời thề thiêng liêng

* Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm

- Tự nhận mình là con, là anh, là em, là anh của vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu

em nhỏ, Tố Hữu đã trở thành thành viên của đại gia đình – quần chúng nhân dân lao động

- Tình cảm giai cấp bỗng chốc đầm ấm, thân thương như tình cảm gia đình

- Hàng loạt các điệp từ là, của kết hợp chặt chẽ với lặp cấu trúc ngữ pháp thể hiện sự sâu sắc, bền chặt trong tình cảm nhà thơ với quần chúng nhân dân lao động

- Dấu ba chấm cuối bài thơ như sự kết đọng bao cảm xúc sâu lắng, tha thiết, mạnh

mẽ

-> Tâm nguyện cao đẹp của người thanh niên trẻ trung nhiệt tình cách mạng: Niềm say mê mãnh liệt và vui sướng tràn trề cùng với nhận thức mới về lẽ sống, sự chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn khi gặp gỡ và được giác ngộ lí tưởng cộng sản

c Nghệ thuật

- Bài thơ giàu nhạc điệu (cách ngắt nhịp thay đổi liên tục theo cảm xúc, có sức ngân vang)

- Các biện pháp tư từ so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ được sử dụng linh hoạt, hiệu quả

- Sự vận động của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinhh động bằng những hình ảnh tươi sáng, các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhạc điệu

Trang 34

TIẾT 2: PHẦN II: LUYỆN ĐỀ

ĐỀ SỐ 1: Phân tích bài thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

a Mở bài:

Trong văn học Việt Nam Tố Hữu được xem là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Từ một thanh niên trí thức tiểu tư sản, được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu trở thành một chiến sĩ cộng sản Tập thơ ―Từ ấy‖ là tập thơ đầu tay đánh dấu thời điểm bừng sáng của tâm hồn và lí tưởng cách mạng Bài thơ ―Từ ấy‖ có ý nghĩa như một tuyên ngôn

về lẽ sống của người chiến sĩ cách mạng và tuyên ngôn của một nhà thơ

b Thân bài

* Khái quát chung:

- Từ ấy là cái mốc đánh dấu thời điểm (1937) và được kết nạp Đảng năm 1938 - Tố Hữu giác ngộ và gặp ánh sáng lí tưởng cộng sản Đó cũng chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Tố Hữu Tự nhận định về Từ ấy, anh viết: "Từ ấy: là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh"

* Phân tích:

*.1 Khổ 1: Diễn tả niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng của Đảng

- Hai câu đầu viết theo bút pháp tự sự: "Từ ấy trong tôi " Từ ấy, là lúc nhà thơ mới vào tuổi 18 thật trẻ trung được mặt trời "chân lí" cách mạng soi sáng đường đời Hình ảnh ẩn dụ "nắng hạ" cho nguồn nhiệt lượng cách mạng làm bùng sáng tâm hồn nhà thơ, "mặt trời chân lí" là một liên kết đầy sáng tạo giữa hình ảnh và ngữ nghĩa Câu thơ ca ngợi ánh sáng điệu kì của cách mạng Đó là thứ ánh sáng của tư tường cộng sản - ánh sáng của những công bình xã hội, của chân lí xã hội

Trang 35

- Hai câu thơ sau của khổ thơ đầu, chợt vụt thoát bay bổng, dạt dào cảm hứng lãng mạn Những vang động và vui tươi tràn ngập trong tâm hồn được so sánh bằng những hình ảnh và âm thanh lấy từ thiên nhiên tạo vật: "vườn hoa lá", "đậm hương"

"rộn tiếng chim"

- Đón nhận ánh sáng cách mạng là Tố Hữu đã đón nhận một con đường thênh thang tươi sáng cho cuộc đời, cho hồn thơ: một cuộc đời có ý nghĩa thiêng liêng, to lớn, một hồn thơ bát ngát tình yêu cách mạng, yêu đồng bào

*.2 Khổ 2: Biểu hiện những nhận thức về lẽ sông

- Hai dòng đầu : nhà thơ khẳng định quan niệm mới mẽ về lẽ sống là sự gắn bó hài hòa giữa "cái tôi" cá nhân với "cái ta" chung của mọi người

- Động từ "buộc" là một ngoa dụ để thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm sắt đá của Tố Hữu để vượt qua "ranh giới" của "cái tôi" để chan hòa mọi người

"Tôi buộc lòng tôi với mọi người"

- Từ đó, tâm hồn nhà thơ vươn đến "trăm nơi" (hoán dụ) và "trang trải" sẻ chia bằng những đồng cảm sâu sắc, chân thành và tự nguyện đến với những con người cụ thể

- Hai dòng thơ sau bộc lộ tình yêu thương con người bằng tình yêu giai cấp rõ ràng Nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ "Để hồn tôi với bao hồn khổ" và từ đó như một biện chứng mang cái tất yếu là sức mạnh tổng hợp "Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời" Ta cũng gặp điều đó trong thơ Nguyễn Khoa Điềm — nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ xâm lược: "khi chúng ta cầm tay mọi người - Đất nước vẹn tròn, to lớn"

Tóm lại, Tố Hữu đã khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học và đời sống, mà chủ yếu là cuộc sống của quần chúng nhân dân

*.3 Khổ 3: Sự chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ

Trang 36

- Trước khi gặp cách mạng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản Khi ánh sáng cách mạng như "Mặt trời chân lí chói qua tim", đã giúp nhà thơ vượt qua những tầm thường ích kỉ trong đời sống tâm hồn chật hẹp để vươn đến một tình yêu "vẹn tròn

to lớn"

- Nhà thơ tự nhận mình "là con của vạn nhà" trong nghĩa đồng bào thiêng liêng nhất; là em của "vạn kiếp phôi pha" gần gũi bằng tình cảm xót thương những kiếp đời lao khổ, bất hạnh, những kiếp sống mòn mỏi, đáng thương; là anh của "vạn đầu

em nhỏ" "cù bất cù bơ" Từ những cảm nhận ấy đã giúp nhà thơ say mê hoạt động cách mạng với những thiết tha cao đẹp công hiến đời mình góp phần giải phóng đất nước, giải phóng những kiếp lầm than trong xã hội tăm tối dưới bóng thù xâm lược

* Đánh giá chung: Về nội dung- nghệ thuật

c Kết bài

- Hồn thơ Tố Hữu chứa chan tình yêu giai cấp và niềm biết ơn sâu sắc cách mạng

- Thơ Tố Hữu rõ ràng là thơ trữ tình - chính luận, hướng người đọc đến chân trời tươi sáng

TIẾT 3: ĐỀ SỐ 2: Nhận định về phong cách thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng:

“Tố Hữu là nhà thơ của tình cảm lớn, lẽ sống lớn, niềm vui lớn” Điều đó được thể hiện như thế nào qua bài thơ “Từ ấy””

Trang 37

* Giải thích

- Tố Hữu là nhà thơ của tình cảm lớn: Thi sĩ không viết về những tình cảm riêng tư

nhỏ bé của con người trong mối quan hệ đời thường mà say mê ca ngợi những tình cảm công dân, tình Cảm Cách mạng như tình đồng bào đồng chí, tình yêu quê hương, đất nước, kính yêu lãnh tụ, tinh thần quốc tế và sản Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ đầu là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tội nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc

- Lẽ sống lớn trong thơ Tố Hữu là gắn bó với cuộc đấu tranh chung của đất nước

nhân dân ―vì thiêng liêng giá trị con người/ Vì muôn đời hoa lá xanh tươi‖ Niềm vui trong thơ Tố Hữu cũng không nhỏ bé, tầm thường mà là niềm vui lớn; sôi nổi, hân hoan nhất và cũng rực rỡ tươi sáng nhất là những vần thơ về chiến thắng (Huế tháng tám, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Toàn thắng về ta)

* Phân tích

*.1 Niềm say mê náo nức của tâm hồn nhà thơ khi đón nhận lý tưởng Đảng

- Bắt gặp lý tưởng Cộng sản, người thanh niên trí thức ấy như tiếp nhận được nguồn sáng xua đi đám mây u ám của cái tôi cá nhân tiểu tư sản:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

“Từ ấy”, một phiếm định về thời gian, chỉ thời khắc thiêng liêng bắt gặp lý tưởng

cộng sản đã trở thành mốc son, trở thành bước ngoặt trong cuộc đời nhà thơ Cách nói mang tính chiêm nghiệm, hồi tưởng nhưng không gợi cảm giác bâng khuâng, tiếc nuối thường có mà mạnh mẽ, khẳng định ―Từ ấy‖ là lúc ánh sáng của lý tưởng cộng sản soi rọi, như chiếc đũa thần kì ban phép lạ, làm bừng tỉnh, giúp con người đốn ngộ chân lí của cuộc sống Trước ―Từ ấy‖, Tố Hữu đã từng bế tắc và tăm tối:

Trang 38

Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời

Vẩn vơ mãi theo vòng quanh quẩn

Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời

Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước

Chọn một dòng hay để nước trôi

- Từ bóng đêm của cuộc đời cũ, Tố Hữu đã đón nhận ánh sáng lý tưởng Đảng Lý

tưởng Đảng đã chiếu rọi và làm bừng sáng về mặt trí tuệ, bồi dưỡng tình cảm cho

con người Vì thế hai tiếng “Từ ấy‖ không chỉ là tiếng lòng riêng của Tố Hữu mà nó

ngân nga với mọi cuộc đời chung Phải thấu hiểu được nỗi băn khoăn trong quá trình tìm đường và nhận đường của người thanh niên Nguyễn Kim Thành trước đó mới có thể cảm nhận được phần nào niềm vui lớn lao mãnh liệt khi được giác ngộ

- Nhà thơ đã gọi lý tưởng cộng sản bằng những hình ảnh ẩn dụ rực rỡ và ấm nóng Nắng hạ – thứ ánh nắng chói chang, rực rỡ, nồng nàn, có tác động mạnh mẽ đến tâm hồn thi sĩ Với Tố Hữu, lý tưởng cộng sản còn là ―mặt trời chân lí‖ – một nguồn sáng

vô biên, bất diệt mang lại sức sống, nguồn ấm nóng dạt dào

- Tố Hữu không chỉ đón nhận lý tưởng Đảng bằng trí tuệ mà bằng cả tình cảm rạo rực, say mê, sôi nổi nhất Hồn người đã trở thành vườn hoa, một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót Một mảnh vườn hoa lá chắc hẳn phải là mảnh vườn xanh tươi, tràn trề nhựa sống, có lá có hoa lại ngọt ngào hương sắc, Có chim hót rộn ràng

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

- Mảnh vườn ấy được so sánh như tâm hồn nhà thơ Phải chăng tâm hồn ấy tràn ngập niềm vui, niềm say mê, náo nức trẻ trung sôi nổi với cảm hứng lãng mạn tràn đầy trong buổi đầu tiếp nhận lý tưởng Cộng sản Tố Hữu sung sướng đón nhận lý tưởng cộng sản cũng như cỏ cây đón nhận ánh sáng mặt trời Lý tưởng cộng sản đã mang lại sức sống và niềm tin yêu cuộc đời cho con người Đó cũng là giọng điệu

Trang 39

chung của thơ Tố Hữu Sau này khi viết về lý tưởng cộng sản, Tố Hữu cũng say sưa như thế:

-> Có thể nói đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà màu sắc lãng mạn nhất trong thơ

Tố Hữu Ngoài việc sáng tạo hình ảnh ẩn dụ “Mặt trời chân l ”, hình ảnh so sánh “Vườn hoa lá”, cũng được tác giả lựa chọn, sử dụng từ ngữ rất chính xác, hình tượng và gợi cảm: Bừng; Chói; Đậm; Rộn… Để diễn tả thật hay niềm say

mê lý tưởng mà Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng (Aragông-Pháp)

*.2 Niềm vui lớn dẫn đến sự chuyển biến về lẽ sống

- Như một sự tự nhiên, yêu nước, bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lê nin, người thanh niên

trí thức sau phút giây bừng ngộ về lẽ sống, hạnh phúc vì như được hồi sinh trong tâm hồn, là thức nhận về hành động của mình:

- Tố Hữu biểu hiện và khẳng định quan niệm mới về lẽ sống Đó là sự gắn bó giữa cái tôi riêng và cái ta chung: ―Tôi buộc lòng tôi với mọi người‖, Sự gắn bó đó hoàn toàn có tính tự nguyện vượt qua giới hạn của cái tôi để chan hoà với mọi người Đó

là biểu hiện tình thương với những người nghèo khổ Hai tiếng ―hồn khổ‖ giúp người đọc liên tưởng tới quần chúng lao khổ

- Giác ngộ lý tưởng cộng sản ở Tố Hữu nghĩa là giác ngộ lập trường giai cấp, từ bỏ cái tôi cá nhân của giai cấp tiểu tư sản để hoà nhập với khối đời chung của nhân dân lao khổ Dù sao quan niệm mới mẻ của Tố Hữu đã chứng tỏ nhà thơ đã thoát khỏi cái tôi cô đơn bế tắc, gắn bó với giai cấp cần lao, tìm thấy niềm vui và sức mạnh ngay trong cuộc đời Đặc biệt, Tố Hữu khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa thơ nói riêng

và văn học nói chung với cuộc sống Nhất là cuộc sống của nhân dân lao khổ

*.3 Mốc thời gian để khẳng định tình cảm lớn của nhà thơ Tố Hữu

- Khổ thơ cuối với cách diễn tả trùng điệp, các từ ―con‖, ‖em‖ xuất hiện liên tục,giọng thơ càng trở nên sôi nổi thiết tha Đây là thể hiện sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của Tố Hữu Nhà thơ khẳng định mình là con người gần gũi thân thiết, là thành viên của đại gia đình lao khổ Các từ ―đã là‖ ―là con‖, ―là em‖, ―là

Trang 40

anh‖ diễn tả tình cảm đầm ấm, thiết gắn bó và gần gũi biết bao cùng với vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ Cho thấy người chiến sĩ cách mạng sống trong lòng nhân dân, được nhân dân yêu thương, đùm bọc, chở che để khơi dậy sức mạnh nhân dân đứng lên đấu tranh cho hạnh phúc, cho độc lập, tự do của dân tộc

- Nhà thơ đồng cảm, yêu thương, san sẻ cùng với những con người ấy bằng cả trái

tim bằng cả những tình cảm ruột thịt của bản thân Và càng yêu thương, càng căm giận những điều bất công, tác giả càng hăng hái hoạt động cách mạng, hoạt động nghệ thuật

* Đánh giá

*.1 Nội dung

Bài thơ là niềm vui giác ngộ lý tưởng thể hiện nhận thức mới mẻ về lẽ sống và những chuyển biến về tình cảm sau khi nhà thơ bắt gặp lý tưởng cách mạng Từ ấy còn là lời tuyên bố về lẽ sống và lý tưởng nghệ thuật của tác giả

Sau này nhớ lại thuở Từ ấy, Tố Hữu viết: ―Từ ấy là tâm hồn trong trái của tuổi người tin đồn mươi, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh Từ độ không chỉ là tình cảm của riêng Tố Hữu với Đảng mà là tâm trạng của một thế hệ thanh niên các mạng được Đảng giác ngộ và dìu dắt để gánh vác sự nghiệp giải phóng dân tộc những năm đất nước còn dưới ách thực dân phong kiến

*.2 Nghệ thuật

Nhà thơ đã xây dựng những hình ảnh thơ tươi sáng, giàu sức sống như hình ảnh mặt trời chân lí, nắng hạ, vườn hoa lá Bên cạnh đó, thi sĩ đã sử dụng nhuần nhuyễn những biện pháp tu từ truyền thống như ẩn dụ, so sánh, điện từ ngữ, ngôn ngữ thơ giản dị giàu tính nhạc Giáo sư Đặng Thai Mai gọi tập thơ Từ ấy là ―bó hoa lửa lộng lẫy nồng nàn nở ra từ cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc‖

c Kết bài

- “Tố Hữu là nhà thơ của tình cảm lớn, lẽ sống lớn, niềm vui lớn”

Ngày đăng: 16/10/2022, 16:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

⇒ Hình ảnh đầy lãng mạn hào hùng, đƣa nhân vật trữ tình vào tƣ thế vƣợt lên - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
nh ảnh đầy lãng mạn hào hùng, đƣa nhân vật trữ tình vào tƣ thế vƣợt lên (Trang 4)
- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong hình thức nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm  hỉnh - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
i thơ có nhiều sáng tạo trong hình thức nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh (Trang 12)
- Được trời hỏi thăm về tình hình văn chương dưới hạ giới thi sĩ liền trình bày tình cảnh khốn khổ của kẻ theo đuổi nghề văn trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy  giờ: - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
c trời hỏi thăm về tình hình văn chương dưới hạ giới thi sĩ liền trình bày tình cảnh khốn khổ của kẻ theo đuổi nghề văn trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ: (Trang 13)
- Hình ảnh: ―quyện điểu,cơ vân‖ thể hiện chất liệu cổ điển của bài thơ - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
nh ảnh: ―quyện điểu,cơ vân‖ thể hiện chất liệu cổ điển của bài thơ (Trang 23)
Trời chiều bảng lảng bóng hồng hơn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
r ời chiều bảng lảng bóng hồng hơn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn (Trang 25)
- Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang dần tắt, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
ai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang dần tắt, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống (Trang 26)
- Hiểu được sự vận động của tứ thơ và những đặc sắc trong hình ảnh, ngôn ngữ nhịp điệu - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
i ểu được sự vận động của tứ thơ và những đặc sắc trong hình ảnh, ngôn ngữ nhịp điệu (Trang 30)
Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
o cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau (Trang 45)
- Câu thơ 3 chữ Tơi muốn ơm rất đặc biệt gợi hình ảnh cái tôi ham hố đang ôm trọn tất cả sự sống mơn mởn - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
u thơ 3 chữ Tơi muốn ơm rất đặc biệt gợi hình ảnh cái tôi ham hố đang ôm trọn tất cả sự sống mơn mởn (Trang 65)
- Các hình ảnh mây, gió, nước, bướm,… - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
c hình ảnh mây, gió, nước, bướm,… (Trang 71)
- Cảm hứng sáng tác được khơi gợi từ hình ảnh sơng Hồng mênh mơng sóng nước, bốn bề bao la, vắng lặng - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
m hứng sáng tác được khơi gợi từ hình ảnh sơng Hồng mênh mơng sóng nước, bốn bề bao la, vắng lặng (Trang 75)
- Hình ảnh quan sát trên dịng sơng rất chân thực nhưng giàu sức gợi    + sóng gợn nhẹ nhàng lan tỏa đến vô cùng, gợi nỗi buồn miên man - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
nh ảnh quan sát trên dịng sơng rất chân thực nhưng giàu sức gợi + sóng gợn nhẹ nhàng lan tỏa đến vô cùng, gợi nỗi buồn miên man (Trang 75)
- Nghệ thuật sử dụng từ ngữ chọn lọc đắt giá, giàu giá trị gợi hình biểu cảm: liu điu, lơ thơ, sâu chót vót,... - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
gh ệ thuật sử dụng từ ngữ chọn lọc đắt giá, giàu giá trị gợi hình biểu cảm: liu điu, lơ thơ, sâu chót vót, (Trang 76)
- Hình ảnh Lá trúc che ngang mặt chữ điền trong câu thơ cuối thật thú vị, ẩn chứa nhiều cách hiểu khác nhau: - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
nh ảnh Lá trúc che ngang mặt chữ điền trong câu thơ cuối thật thú vị, ẩn chứa nhiều cách hiểu khác nhau: (Trang 91)
- Nỗi cô đơn bơ vơ trong hình ảnh: Dịng nước buồn thiu hoa bắp lay - V1 GIÁO án dạy THÊM văn 11  kì 2
i cô đơn bơ vơ trong hình ảnh: Dịng nước buồn thiu hoa bắp lay (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

w