1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

BÀI mẫu TRIẾT học MENTORA+

3 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 367,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MENTORA+ TRIẾT HỌC Fanpage MentorA+ Chúc các em đạt kết quả cao Đề bài Tại sao nói nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển bao hàm nội dung của phép biện chứng duy vật ? Bi.hihiihiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiiii

Trang 1

Đề bài: Tại sao nói nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển bao hàm

nội dung của phép biện chứng duy vật ?

Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn

Một là, hai nguyên lý là sự kế thừa, phát triển và làm rõ hơn nội dung của phép biện chứng duy vật

*Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

Mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng của thế giới

Ví dụ: giữa cung và cầu trên thị trường luôn tác động lẫn nhau

Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ

Ví dụ: mối liên hệ giữa các mặt đối lập

Tính chất của mối liên hệ : tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng phong phú

*Nguyên lý về sự phát triển:

Sự phát triển là quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên, từ trình

độ thấp đến trình độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Ví dụ: vượn tiến hóa thành người

Tính chất của phát triển : tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng phong phú

Kết luận:

Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn:

Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, chúng ta phải tôn trọng quan điểm toàn diện: Phải xem xét sự vật, hiện tượng một cách khách quan, toàn diện, đa chiều, trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng

Từ nguyên lý về sự phát triển, chúng ta phải tôn trọng quan điểm phát triển: phải xem xét sự vật, hiện tượng đó trong trạng thái vận động, phát triển của chính nó

Kết hợp nguyên lý về sự phát triển với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, chúng ta phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ thể: khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật, phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển

Hai là, ba quy luật là sự kế thừa, phát triển và làm rõ hơn nội dung của nguyên lý về sự phát triển

*Quy luật mâu thuẫn:

Quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển, là “hạt nhân” của phép biện chứng

Mặt đối lập là những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau

Ví dụ: Mặt sản xuất và mặt tiêu dùng của hoạt động kinh tế, mặt đồng hóa và dị hóa của cơ thể,

Mâu thuẫn biện chứng là sự thống nhất , đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của một

sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Trang 2

Nội dung quy luật:

Mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại các mặt đối lập, các mặt đối lập ấy có xu hướng không ngừng đấu tranh, thống nhất

Ví dụ: trong cơ thể con người luôn có hai mặt đối lập là quá trình đồng hóa và dị hóa, chúng luôn không ngừng thống nhất và đấu tranh Mặt khác, quá trình đồng hóa và dị hóa tồn tại khách quan, độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của con người

Sự thống nhất sẽ giữ nguyên sinh vật, hiện tượng ở trạng thái đứng yên tương đối, cân bằng tạm thời Còn đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình mang tính tuyệt đối, gắn liền với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

Kết luận:

Phải phát hiện và phân loại các mâu thuẫn chi phối sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng để nhận thức đúng bản chất của sự vật, hiện tượng, đồng thời tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn

* Quy luật lượng-chất:

Quy luật lượng-chất chỉ ra phương thức, cách thức phát triển của sự vật, hiện tượng

Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy luật khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác

Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các phương diện số lượng, quy mô, tốc độ, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển cũng như các thuộc tính

Nội dung quy luật:

Đầu tiên, sự thay đổi về lượng sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất Quá trình thay đổi về lượng dẫn tới thay đổi về chất trải qua độ, điểm nút và bước nhảy Khi lượng thay đổi đạt đến điểm nút với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới

Sau đó, sự thay đổi về chất tác động ngược trở lại lượng Khi chất mới ra đời sẽ có sự tác động ngược trở lại lượng của sự vật, chất mới tác động tới lượng của sự vật, quy định lượng mới phù hợp với nó trên nhiều phương diện như làm thay đổi kết cấu, quy mô,

Kết luận:

Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải biết từng bước tích lũy về lượng để làm biến đổi về chất Cần tránh tư tưởng chủ quan, duy ý chí, tả khuynh, hữu khuynh

*Quy luật phủ định của phủ định:

Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng

Phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định, là sự phủ định tạo ra cơ sở, điều kiện, tiền đề cho quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

Nội dung quy luật:

Phủ định của phủ định là sự phủ định đã trải qua một số lần phủ định biện chứng, dẫn tới sự ra đời của một sự vật, hiện tượng mới, dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên một trình độ mới cao hơn, hoàn thành một chu kỳ phát triển của sự vật

Ví dụ: xã hội tư bản ra đời thay thế xã hội phong kiến, có thể nói xã hội tư bản đã phủ định xã hội phong kiến; tuy nhiên trước đó, xã hội phong kiến ra đời thay thế xã hội chiếm hữu nô lệ, có thể nói xã hội phong kiến đã phủ định xã hội chiếm hữu nô lệ, từ đó có thể nói xã hội tư bản chính là phủ định của phủ định

Trang 3

Tính chất: tính khách quan, tính kế thừa, tính chu kỳ

Phủ định của phủ định là con đường xoáy ốc của sự phát triển Sự vận động, phát triển theo khuynh hướng phủ định của phủ định tạo thành con đường xoáy ốc không ngừng đi lên và mở rộng

Kết luận:

Phải coi quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng không theo đường thẳng, mà diễn ra quanh

co, phức tạp, trải qua các chu kỳ khác nhau Phải biết khắc phục, loại bỏ những cái tiêu cực, lỗi thời, đồng thời biết kế thừa những cái tích cực, tiến bộ của cái cũ, tránh thái độ phủ định sạch trơn hay thừa

kế toàn bộ cái cũ

Ba là, sáu cặp phạm trù là sự kế thừa, phát triển và làm rõ hơn nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Cái riêng và cái chung: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện

sự tồn tại của mình Ví dụ: Mỗi con người là một thực thể riêng biệt, phân tích kỹ bên trong mỗi con người đều có những điểm chung như có khối óc có thể điều khiển được hành vi của mình và trái tim cảm nhận được thế giới xung quanh

Nguyên nhân và kết quả: Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước

kết quả, nguyên nhân như thế nào sẽ sinh ra kết quả như thế ấy Ví dụ: Gieo nhân nào thì gặt quả nấy

Tất nhiên và ngẫu nhiên: Tất nhiên vạch ra đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên,

tất nhiên quy định ngẫu nhiên, đồng thời, ngẫu nhiên bổ sung cho tất nhiên Ví dụ: Để đạt được kết quả tốt trong học tập thì chăm chỉ, siêng năng học tập là điều tất nhiên, nhưng nhưng đến ngày thi thì

bị vấn đề về sức khỏe làm kết quả thi thấp là điều ngẫu nhiên

Nội dung và hình thức: Không có nội dung nào mà lại không có hình thức, cũng không có một

hình thức nào lại không chứa nội dung Ví dụ: Nội dung một quyển sách như thế nào thì mới quyết định phải làm trang bìa như thế nào, nếu như nội dung vui nhộn nhưng trang bìa có cách bố trí tiêu đề

và màu bìa là gam màu buồn thì không thể tạo sự hứng khởi cho người đọc quyết định đọc quyển sách

đó

Bản chất và hiện tượng: Bản chất bao giờ cũng biểu hiện ra thành những hiện tượng nhất định,

còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhất định Bản chất quyết định hiện tượng, bản chất như thế nào thì hiện tượng sẽ như thế ấy Ví dụ: Bản chất của nước là chất lỏng được thể hiện bằng hiện tượng

Khả năng và hiện thực: Khả năng và hiện thực tồn tại thống nhất, không tách rời nhau và luôn

chuyển hóa lẫn nhau; khả năng trong những điều kiện nhất định sẽ biến thành hiện thực Ví dụ: Trước mắt, là giấy, bút và thước kẻ là hiện thực thì khả năng có thể tạo ra hộp đựng quà

Kết luận: Cần phải rút ra được phương pháp luận đúng đắn từ sáu cặp phạm trù để nhận thức

và vận dụng đúng đắn hơn các mối liên hệ tồn tại ở sự vật, hiện tượng

Vì vậy, có thể kết luận, hai nguyên lý bao hàm nội dung của phép biện chứng duy vật thông qua sự kế thừa, tiếp nối và làm rõ hơn nguyên lý về mối liên hệ phổ biến (với 6 cặp phạm trù) và nguyên lý về sự phát triển (với 3 quy luật)

Ngày đăng: 01/10/2022, 20:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w