Tài liệu bổ ích và thú vị về những phát minh khoa học của nhân loại.
Trang 1ROBOT Một “giống loài” mới đang xuất hiện tại các phòng thí nghiệm: Những người máy được cài đặt chương trình điều khiển tự động Chương trình này hoạt động theo các quy luật của quá trình chọn lọc tự nhiên Hiện nay, ngoài việc bắt chước cấu trúc của bộ não và hình dáng của con người để chế tạo người máy, các phòng thí nghiệm đang nghiên cứu một khái niệm mới mang tính sáng tạo triệt để, đó là làm thế nào
để chế tạo ra một “loài sinh vật” mới - loài người máy biết suy nghĩ theo hướng tiến hóa để đáp ứng tối ưu nhất với quá trình chọn lọc tự nhiên theo học thuyế của Darwin Một vài nhà khoa học đã gọi “loài” mới này là Robot sapiens, người máy khôn ngoan
Hình dạng của robot khôn ngoan
Trong tương lai, người máy khôn ngoan có thể sẽ có hình dạng giống một con người, và không loại trừ chúng sẽ giống một con cua, một con cá, hoặc thậm chí giống một chiếc xe hơi Nói chung chúng sẽ
có cấu tạo theo bất kỳ hình dạng nào miễn là đáp ứng được tối ưu các nhu cầu và chức năng của chúng, và theo yêu cầu của con
người Song trên hết là thế hệ người máy này sẽ được trang bị các bộ phận cảm nhận về thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác và các cơ quan vận động như các chi hoặc các bánh xe, nhằm thích nghi được với “môi trường sống” của chúng và thực hiện được nhiều chức năng phức tạp Người máy khôn ngoan này sẽ biết tiếp xúc với con người và cả “đồng loại” của chúng để trao đổi thông tin, giúp đỡ
Trang 2lẫn nhau, giải quyết các xung đột, thương thảo các vấn đề và thậm chí sẽ thiết lập ra cho riêng chúng một “nền văn hóa mang bản sắc người máy”, một ngôn ngữ riêng cho chúng, những sắc thái mà người chế tạo ra chúng không hề cài đặt trước và không hề can thiệp sau này!
Khẩu hiệu hành động của các nhà khoa học cho công trình này là
“tiến hóa để thích nghi” Agnès Guillot, chuyên gia của AnimatLab thuộc phòng thí nghiệm tin học Paris - VI cho biết: “Đây là một cuộc cách mạng từ trong bản chất, bởi lẽ trí thông minh nhân tạo theo thế
hệ cũ là một hệ thống được chế tạo phức tạp, nhưng lại cứng nhắc và mỏng manh Chỉ cần một trục trặc nhỏ là cả hệ thống bị “treo” ngay Hiện nay phương pháp của các nhà sáng tạo là thiên theo hướng ngược lại, có nghĩa là đi từ những hệ thống đơn giản được cài đặt vào một cơ thể nhân tạo và hệ thống đó sẽ có khả năng tự điều chỉnh theo hướng phức tạp dần, sao cho đáp ứng được các yêu cầu của thế giới bên ngoài thông qua giao tiếp trực tiếp với môi trường Đó là cái mà chúng ta gọi là trí thông minh nhân tạo tương thích”
Trí thông minh tương thích
Sau đây là một ví dụ điển hình cho trí thông minh nhân tạo tương thích Các chuyên gia của Đại học Sussex (Anh quốc) và của Viện Max Planck (Munich, Đức) đã hình dung ra một kịch bản như sau: Đặt hai robot ở hai vị trí đối mặt nhau, một bên là “con mồi” và bên kia là “kẻ săn mồi” Nhiệm vụ của “kẻ săn mồi” là phải tóm được “con
Trang 3mồi” Mỗi robot này có một cặp mắt cảm quang có thể hoạt động theo nhu cầu của mình Khi cuộc chơi bắt đầu, thoạt tiên “con mồi” bị tóm rất dễ dàng, nhưng sau vài “hiệp” và sau một vài “phép tính”, “con mồi” sẽ tìm ra những cách trốn chạy hiệu quả nhất để thoát thân Các chuyên gia giải thích: “Chúng sẽ có một quá trình “đồng phát triển”, tức là “robot con mồi” sẽ phát triển khả năng của mình theo cái nhìn của một con linh dương trong khi “robot săn mồi” sẽ phải chọn cách hành động như một con sư tử”
Dario Floreano, chuyên gia Viện nghiên cứu robot liên bang
Lausanne (Thụy Sĩ) đã thí nghiệm trên thực tế kịch bản như trên với hai robot nhỏ có đường kính 5cm “Kẻ săn mồi” có một caméra trên trán, còn “con mồi” có gắn một thiết bị cảm nhận và có thể chạy
nhanh hơn “kẻ thù” của mình gấp hai lần Nếu như “kẻ săn mồi” tóm được “con mồi” trong khoảng thời gian dưới 3 phút thì chương trình vi tính hóa của nó sẽ lưu lại chiến thuật này Còn nếu như quá khoảng thời gian trên mà thất bại thì “kẻ săn mồi” phải tự “lập trình” lại chiến thuật của mình Sau 3 ngày săn đuổi và với nhiều chiến thuật khác nhau, “con mồi” đã tự thích nghi được với một chiến thuật thoát thân hiệu quả trong một không gian giới hạn cho phép Trong khi “kẻ săn mồi”, với hình thù một con nhện, đã học được cách di chuyển lùi để chờ đợi, khi con mồi di chuyển đến đúng “tầm tay” của mình thì bị chộp lấy Vậy là hai robot trên đã tự thích nghi được với nhu cầu của bản thân bằng cách thay đổi cách thức di chuyển, vận tốc di chuyển v.v Chuyên gia Dario Floreano giải thích: “Trong tình huống này, con người có lẽ sẽ hành động tệ hơn vì người có cách lập luận theo
Trang 4kiểu người, còn máy sẽ lập luận theo kiểu riêng của máy và nó nhận biết tốt hơn người cái mà nó cần Nó sẽ có một sự liên kết riêng của
nó với “tư cách” là một robot” Chính với cách “lập luận” đó mà một robot 6 chân do AnimatLab chế tạo đã biết di chuyển sao cho phù hợp với cách di chuyển của “con mồi” 3 chân của mình để tóm kịp nó Tương tự, một Babybot của Lira-Lab (Đại học Genes, Italia) đã tự điều chỉnh khả năng thị giác của mình để thích nghi được với khung cảnh thực tiễn
Thuật toán tiến hóa giúp robot biết suy đoán
Đây là khả năng suy đoán tuyệt vời của các robot này? Đó chính là nhờ vào những “thuật toán tiến hóa” được cài đặt vào “cơ thể” của chúng Nói rõ hơn đây là những chương trình phần mềm có khả năng kiểm tra sự liên kết hoạt động của các neuron nhân tạo và sau đó chọn ra cách tốt nhất để giải quyết một nhiệm vụ được giao Giám đốc Jean-Arcady Meyer của AnimatLab khẳng định: “Ứng dụng
những phương pháp “tiến hóa” để hoàn thiện một hệ thống có nghĩa
là chế tạo ra những robot có thể tự đề ra những giải pháp mà con người không thể nghĩ ra cho nó”
Một ví dụ khác là chương trình Talking Heads của Sony Chương trình này quy tụ vài chục robot lại và cho chúng tự do “trò chuyện” với nhau Mục đích là từ đó sẽ có được một ngôn ngữ thuần túy là “của robot” và xuất hiện các từ vựng mà không một chuyên gia nào có thể xác định được Luc Steels, tác giả của chương trình này giải thích:
Trang 5“Đã có một ngôn ngữ mới được ra đời Ngôn ngữ này vượt quá tầm tay của chúng ta và chỉ có các robot sử dụng mà thôi Đó chính là sự khai sinh ra một cộng đồng mới với một nền “văn hóa” riêng” Các phòng thí nghiệm về trí thông minh nhân tạo của Bristol (Anh) và Fribourg (thụy Sĩ) đã chế tạo ra những robot “tự chủ” và qua đó họ quan sát thấy được một quá trình mà các robot này tổ chức công việc chung với nhau như trong một tổ ong hay một tổ kiến Các chuyên gia của Đại học Montpellier còn chú trọng đến khía cạnh “tự thỏa mãn” và “biết vị tha” của các robot Các chuyên gia đã thực hiện một thí nghiệm thật lạ lùng Họ cho các “robot tự chủ” của mình sống chung với các chuyên gia trong vòng 2 năm nhằm quan sát xem cách người và máy thích nghi với nhau như thế nào trong một môi trường sống chung Chuyên gia Agnès Guillot giải thích: “Quá trình thí
nghiệm này có một tầm quan trọng đặc biệt, bởi lẽ không chỉ đưa robot ra hoạt động trong một môi trường vật lý mà còn cả trong một môi trường mang tính xã hội để chúng có thể có được những khả năng tự thích nghi phức tạp hơn, như các quan điểm về cái tôi và cái của người khác, từ đó xuất hiện một trí thông minh không phải thuần túy là kỹ thuật mà đã mang tính xã hội”
Con người còn bắt tay vào việc chế tạo ra những robot biết cảm xúc nhằm tự mình hoàn thiện khả năng thích nghi và vận động của
chúng Ví dụ như chúng biết sợ hãi khi bị đe dọa
Bước đầu sẽ là một robot có các chức năng thị giác, vận động và lựa chọn hành động theo kiểu mẫu của một con chuột Tác giả đề tài này
Trang 6là chuyên gia Jean-Arcady Meyer giải thích: “Robot này được đặt tên
là Psikharpax Nó sẽ phải đối mặt với một môi trường sống lạ lẫm và phải biết tự mình xoay xở để sống còn mà không có sự giúp đỡ của con người Các bạn hãy chờ xem Psikharpax “sống” ra sao”
Khả năng của trí thông minh nhân tạo
Các chuyên gia vẫn thích cách định nghĩa đơn giản của cụm từ này
do nhà toán học Alan Turing phát biểu: “Gọi một cái máy là thông minh khi nó biết lừa phỉnh và biết tỏ ra thông minh khi nó biết lừa phỉnh dưới mắt chúng ta “Nói cách khác, nếu như khi đứng sau một bức màn ngăn cách mà bạn không thể phân biệt được đó là một người hay một cái máy đang nói thì có nghĩa là người đối thoại với bạn thông minh Đây là một cách nói đơn giản không tạo ra một cảm giác “quá triết lý” về khái niệm thông minh của máy Chính thức mà nói, “trí thông minh nhân tạo” được khai sinh ra như một ngành học vào năm 1956, theo ý tưởng của John McCarthy, Alan Newell,
Herbert Simon và một vài người khác
Chính giới quân sự đã tài trợ cho những dự án đầu tiên về “trí thông minh nhân tạo”, đó là những máy dịch tự động phục vụ cho các cơ quan phản gián Mỹ Nhưng những máy này dịch hoàn toàn sai ngữ pháp nên chúng đã bị “bỏ rơi” Kế đến là vào thập niên 70, khi con người cho ra đời hệ thống các máy thông minh có thể thay thế con người suy nghĩ và đề ra quyết định theo cách lập luận “nếu thì ” Thế hệ máy này được dùng trong việc chẩn đoán y khoa, phát hiện ra
Trang 7các sự cố kỹ thuật và là cơ sở cho việc chế tạo ra thế hệ máy vi tính đầu tiên Nhưng đến thập niên 80 thì thế hệ máy này thất bại khi lập luận “nếu thì ” của chúng ngày càng trở nên quá phức tạp, và chúng càng ngày càng “làm khổ” con người hơn! Và hiện nay, con người đang đi vào một hành tinh mới trên con đường đi tìm một “trí thông minh nhân tạo” cho thế kỷ thứ 21
Các chuyên gia đã áp dụng trên robot nguyên tắc hoạt động đúng theo thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin, theo đó, tất cả các loài, kể
cả con người, đều đã được chọn lọc qua nhiều thế hệ sao cho chỉ có những dòng nào thích nghi tốt nhất với môi trường mới có thể sống còn Các robot được chế tạo theo nguyên lý này cơ bản sẽ có một hệ thống cảm nhận, hệ thống giải mã và hệ thống vận động Tất cả các
hệ thống này sẽ có các neuron nhân tạo hoạt động nối kết với nhau
và điều khiển toàn bộ hệ thống Kiểu di truyền của robot là một
chương trình điện toán có khả năng tự kiến tạo theo “thuật toán tiến hóa” Mỗi một cá thể robot được kiểm tra trong một môi trường giả định hoặc thực tế với một nhiệm vụ nào đó phải hoàn thành và chúng phải tự xoay xở để có thể thích nghi cao nhất Khi đó chúng được cho điểm Và cá thể nào có số điểm cao nhất sẽ được chọn lựa cho thế
hệ kế tiếp Cứ như thế, các chuyên gia sẽ chọn lọc qua nhiều thế hệ
để cho ra đời một thế hệ có khả năng thích nghi tối ưu
Babybot “sinh ra” tại Lira-Lab thuộc Đại học Genes (Italia) Với cấu tạo giải phẫu học bao gồm một nửa thân người, đầu, cổ, hai mắt được chế tạo theo cấu tạo của mắt người thật, một cánh tay có khớp
Trang 8và một bộ phận cảm nhận, Babybot có khả năng phát triển các phản
xạ của một đứa trẻ sơ sinh ”Bộ não” của Babybot là một hệ thống của neuron nhân tạo có chức năng kết nối giữa bộ phận cảm nhận và điều khiển vận động Các thuật toán tiến hóa sẽ kiểm tra rồi sau đó chọn lựa những kết nối tối ưu nhất Trong quá trình thử nghiệm, đầu tiên Babybot sẽ phải nắm bắt một đồ vật: nó phải thấy mục tiêu, xác định vị trí của mục tiêu và giương cánh tay về hướng mục tiêu đó để nắm lấy Vấn đề là nếu như Babybot không thấy rõ mục tiêu thì sao? Nếu như hai mắt của nó tỏ ra “mờ” khi nó di chuyển hay quay đầu thì sao? Bằng cách nào để Babybot luôn thấy rõ mục tiêu? Các chuyên gia hy vọng rằng nó sẽ biết tự xoay xở và họ đã để nó tự lo liệu Và thật kỳ lạ là nó đã học được cách duy trì một cái nhìn cố định lên mục tiêu bằng cách giữ cho phần trung tâm của mắt cố định vào hướng mục tiêu, ngay cả khi “cơ thể” nó chuyển động Đây cũng chính là phản xạ nhìn mà đứa bé được và tự hoàn thiện trong những tháng đầu đời
Robot của Nhật biết đối đáp với người
Đó là Wabian - một chú bé robot rất dễ thương Robot này có mắt, tai
và miệng Nó biết vui, buồn và biết cả được mùi bia rượu, song nó vẫn còn phải phụ thuộc rất nhiều vào người “cha” của nó là Atsuo Takanishi Cao 1,80 mét, nặng 130 kg, Wabian được “sinh ra” tại Đại học Waseda (Nhật Bản) và là biểu tượng của một kiểu mẫu về trí thông minh nhân tạo mang tính cách Nhật Khẩu hiệu hành động của Wabian là “đối đáp với con người” Giám đốc Atsuo Takanishi của
Trang 9Takanishi Laboratory và cũng chính là “cha đẻ” của Wabian giải
thích: “Mục đích của chúng tôi là tạo ra một robot có khả năng trở thành một cộng sự đắc lực của con người Và để làm được điều này, robot này phải có hình dáng giống chúng ta”
Theo hướng đó, nhóm nghiên cứu đã làm việc cật lực để đưa vào robot các chương trình điều khiển các thái độ ứng xử theo kiểu người trong mỗi chi tiết nhỏ nhất Một chuyên gia cho biết: “Phiên bản mới nhất của robot Wabian hiện nay đã khả năng di chuyển với một vận tốc nhanh bằng vận tốc bước đi của một người thật, nó biết tiến lên, lùi lại, biết mang một vận nặng và thậm chí có thể khiêu vũ” Nhóm làm việc rất chú trọng đến việc tạo dáng cho khuôn mặt Wabian với lớp da nhân tạo, đôi mắt to có đủ lông mày, lông mi, hai má, đôi môi
và cổ Tất cả đều rất linh hoạt cặp mắt của Wabian được trang bị các
bộ phận cảm quang được lập trình để theo dõi một mục tiêu đã định, trong khi “đôi tai” sẽ bắt các âm thanh Wabian sẽ phản ứng lại với các tác động, dù nhỏ nhất, nhờ vào các bộ phận cảm nhận xúc giác cài trên “da” giúp phân tích các biến đổi về nhiệt độ và áp lực tác động từ bên ngoài Các bộ phận cảm nhận khứu giác ở “mũi” và
“lưỡi” rất nhạy cảm với thành phần cấu tạo của chất khí trong môi trường Do đó Wabian nhận biết được mùi khí amoniac, mùi thuốc lá
và mùi rượu Khi đó, nó sẽ thể hiện một dáng vẻ của một người say trên khuôn mặt nhân tạo Hơn nữa, chú bé robot này còn có thể thể hiện được những cảm xúc như “vui tươi”, “buồn chán”, “ngạc nhiên”,
“sợ hãi”, “giận dữ”, “vô tư” Nó cũng biết “đỏ mặt” khi bị “xúc cảm” mạnh
Trang 10Và Atsuo Takanishi cũng đã nhờ đến các bác sĩ nha khoa nghiên cứu thiết kế sao cho Wabian có những cử động hàm thật tự nhiên khi phát âm, không còn tạo cảm giác đó chỉ là một người máy nói Để làm được như vậy, lưỡi, môi, răng, vòm miệng, xoang mũi và thậm chí cả phổi và dây thanh của Wabian được một hệ thống vi tính điều khiển một cách chính xác
Nhưng Giáo sư Jean Gabriel Ganasscia chuyên về ngành khoa học nhận thức thuộc Đại học Paris VI thì nhận xét: “Đó chỉ là ảo tưởng
mà thôi Chúng ta đang sống trong giấc mơ về một con rối biết nói, như chú bé người gỗ Pinocchio” Chuyên gia Agnès Guillot thuộc AnimatLab cho rằng: “Robot P3 của hãng Honda biết bước xuống cầu thang và đến bắt tay bạn như thể nó là một người thật Nhưng trên thực tế, nó hoàn toàn được lập trình trước để làm điều đó Nó không thể học hỏi được gì thêm nữa Một vài robot khác rất gây ấn tượng khi chúng ta nhìn những động tác của chúng nhưng chúng không thể có một thay đổi nào khác trong cách “ứng xử”, thậm chí một vẻ mặt khác Có robot thì hoàn toàn được điều khiển từ xa Chỉ
có vậy thôi”
Người Mỹ đang có kế hoạch sáng chế ra những robot biết giao tiếp tình cảm với chúng ta Trong tương lai, chúng có thể là một người bạn, người tình hay một đứa bé Với trình độ công nghệ phát triển như hiện nay, có thể chúng ta sẽ tạo ra được một thực thể có khả năng giao tiếp tình cảm mạnh mẽ với con người chứ không lạnh lùng
Trang 11và cứng nhắc như một BioMan của người Nhật Điển hình là một Kismet dịu dàng được “sinh ra” tại Phòng thí nghiệm về trí thông minh nhân tạo thuộc Viện công nghệ Massachussetts (MIT, Hoa Kỳ)
Kismet biết chớp mắt khi bạn cười với nó, nghĩa là nó “hiểu” và biết đáp lại những động tác và cử chỉ của người đối diện Và đi xa hơn nữa, các robot sẽ có thể học được cách tái hiện tại, tức là bắt chước, những biểu đạt và những cử chỉ của chúng ta khi chúng nhìn chúng
ta Đó chính là đề tài nghiên cứu của Giorgio Metta, cũng tại MIT, trên một “nhân vật” nổi tiếng là Cog Giorgio Metta cho biết: “Robot chỉ có thể bắt chước được vật thể nào đó một khi nó hình dạng giống như vật thể đó mà nó quan sát được Do đó, để đạt được mục đích, robot phải có hình dáng của một con người như chúng ta” Ý tưởng sau cùng là người máy thông minh là một vật thể “động” do con người chế tạo cần phải được canh gác cẩn trọng và thường xuyên mới tránh được các hiểm họa khó lường Vì sao? Một lý lẽ hiển nhiên là nếu như một ngày nào đó con người chúng ta sẽ chế tạo ra được những thế hệ robot vô cùng thông minh qua hình thức “chọn lọc theo kiểu Darwin” và nếu như trí thông minh đó lại vượt quá tầm kiểm soát của chúng ta thì sao Khi đó biết đâu sẽ xuất hiện một “loài sinh vật” mới trở nên đố kỵ với loài người của chúng ta thì thật đúng là “gậy ông đập lưng ông”
Vậy thì, có nên chăng những robot loại này sẽ phải được thường xuyên theo dõi về mặt “sức khỏe” và “tâm sinh lý” và phải được áp đặt một chế độ “kiểm soát kỹ thuật” hằng năm? Có nên chăng thiết lập một “lực lượng đặc nhiệm” nhằm tiêu diệt lập tức những “kẻ” nào
Trang 12tỏ ra nguy hiểm nhất và cô lập ngay những “phần tử” có nguy cơ
“truyền bá” tư tưởng phá hoại”? Và có ý kiến là trong bất cứ tình
huống nào, chúng ta cũng phải đồng ý với nhau trên một quan điểm chung là: trước khi những “chiếc máy người” đó có thể “sống tự lập” được, chúng ta phải luôn có được khả năng “ngắt điện” được đối với những “đối tượng” nào tỏ ra “không thuần phục”
Bác sĩ Hocquard kể chuyện vào cuối thế kỷ 19, một vị quan
ta được mời dự một dạ hội tại dinh Thống sứ Pháp ở Sài
Gòn Thấy vị quan mãi ngắm quan khách khiêu vũ, một sĩ quan Pháp lại thì thầm hỏi ý kiến ông ta về các phụ nữ Pháp
Vị quan thành thật trả lời : "Các bà đẹp lắm, có điều răng các bà giống như răng chó !" (1) Ý ông muốn nói răng các
bà quá trắng Lẽ tất nhiên, viên sĩ quan Pháp rất ngạc nhiên nhưng ông ta không hiểu đuợc một người Việt hồi đó không thể hình dung một người đẹp mà không có hàm răng đen lánh đã được hằng bao thế hệ văn, thi, họa sĩ ca tụng
Nhớ hàng tre thẳng đọt măng Nhớ cô con gái hàm răng đen huyền
Trang 13
Phong tục nhuộm răng, xâm mình khởi đầu từ thuở thượng
cổ xa xăm, truyền thuyết đặt vào thời đại Hùng Vương Nếu thói xăm mình về sau được bỏ, tục nhuộm răng thành công tồn tại qua nhiều thời buổi, ngay cả lúc quân đô hộ Trung Quốc bắt dân ta bãi bỏ Nhưng tục nhuộm răng cũng như tục búi tóc không chống cự lại đuợc ảnh hưởng Tây phương
và chỉ hơn một nửa thế kỷ là dần dần các cụ chịu cắt tóc, các bà cạo răng trắng (3) Nghe nói những cô giáo là những người đầu tiên không muốn giữ răng đen nữa nhưng sáng đi sớm, chiều về muộn, luôn phải tìm cách lẫn tránh cha mẹ còn cho đàn bà con gái
có răng trắng là không đứng đắn May mà các bác lính thợ tùng chinh sang Mẫu quốc còn giữ răng đen Nghe nói lính ta nhỏ con, thường bị quân Maroc, Sénégal cao to hành hung,
áp bức Một sĩ quan Pháp, để tránh lôi thôi, phiền nhiễu, bèn phao tin đồn mà ông bịa đặt : những người có răng đen ăn thịt người ! Từ đấy lính thợ ta được yên thân…
Tôi còn nhớ hồi nhỏ, mỗi khi mẹ tôi hay chị tôi nhuộm răng
là cả nhà rộn rịp vì các bà tự nhuộm lấy, không qua tay các thầy nhuộm như ở các gia đình quan lại, ông hoàng bà chúa, cung tần mỹ nữ,… Những người ngoại quốc, ngay cả bây giờ, thường tin ăn trầu thì có răng đen Họ không dè muốn có hàm răng đen đẹp phải mất biết bao công phu, chịu đựng, chuẩn bị kỹ càng, chế biến chất thuốc, kiên nhẫn nhuộm răng rồi sau đó còn phải săn sóc, bảo dưỡng cho lớp sơn luôn được láng bóng Nhuộm răng cũng như sơn mài, trước cần phải có một mặt nền sạch sẽ Thường trong luôn hai, ba ngày, các bà phải đánh răng, xỉa răng với vỏ cau khô hay than bột trộn với muối sống hầm chín, nhai chanh lát, rồi
Trang 14súc miệng với rượu trắng pha nước chanh Các bà không biết nhưng từng trải qua kinh nghiệm, đã tìm ra trong chanh citric acid là một acid nhẹ có khả năng đánh gỉ, chùi sạch men răng Tuy nhẹ, acid cũng tác dụng ít nhiều lên môi, lưỡi, nếu răng,…gây nhức đau tưởng như hai hàm răng
lung lay, rụng được Trong giai đoạn chuẩn bị nầy cũng như các giai đoạn sau, các bà không được nhai đồ ăn dai, cứng như thịt mà phải nuốt trửng cho nên thường người ta cho ăn bún trộn mỡ heo hay ăn cháo và trái chua, uống nước nóng
Kỹ thuật nhuộm răng nhiều đợt
Nhuộm răng có nhiều phương pháp, tùy theo từng vùng Ở miền Trung, nhất là
ở Huế, nơi có nhiều vua chúa, quan lại, ăn chơi lịch
sự, liều thuốc rất nhiều, lắm khi gia truyền cần giữ bí mật (2) Nói giản tiện, thường răng đuợc nhuộm làm hai đợt Đợt đầu xem như là lớp sơn lót, nhuộm với một hỗn hợp cánh kiến, nước chanh vắt, rượu trắng, cho nấu thành hồ, phết lên
lá chuối hay lá dừa, lá cau,
có khi lên vải thô hay lụa, rồi cho áp vào răng, nhiều lần trong một đêm, cho đến lúc răng nhuốm màu cánh gián, giữa đỏ và nâu đậm như màu cánh con gián Sáng hôm sau phải cẩn thận lột lá hay vải ra, súc miệng với nước mắm hảo hạng hay nước dưa chua để loại trừ mọi căn bả Bây giờ có thể qua đợt thứ nhì, nhuộm với một hỗn hợp hắc phàn, thanh phàn, bầu bí, lựu
Trang 15bì, quế chỉ, đại hồi, đinh hương được nấu nóng, trộn với gạo nếp và rượu trắng rồi cũng cho áp lên răng nhiều lần, nhiều ngày cho đến lúc răng trở thành đen huyền Lần nầy cũng lại phải súc miệng kỹ càng như sau đợt đầu để thải bỏ chất nhuộm dư thừa Và sau nhiều ngày phải tránh nhai nhiều, nhai mạnh để khỏi làm tróc lớp sơn đang còn non, mềm
Răng nhuộm xong còn cần phải chiếc để củng cố lớp sơn
Thường người ta dùng một lớp nhựa chảy ra từ một sọ dừa đốt cháy đặt trên một cái rựa sắt, đem bôi thành một lớp lên
trên răng Ở Huế, hai liều thuốc xỉa có tiếng để chiếc là cố xỉ tán và cố xỉ cao (2) Cố xí tán gồm có thanh phàn, hắc phàn,
ngũ bội, cam thảo, bình lang, tế tân, bạch chỉ, tam lăng, nhũ hương, nghiền thành bột rồi dùng que tăm đập nát một đầu
để tô lên răng Cố xí cao gồm có những chất vừa kể, thêm
vào sinh địa, tật lê, cánh kiến, một dược, đương qui nấu
trong nước sôi, cô lại thành cao trước khi dùng Hắc phàn, thanh phàn là những sulfat sắt và đồng có nhiệm vụ ổn định chất sơn Bầu bí hay ngũ bội, (hay ngũ bội tử, là túi con sâu
Schlechtendalia sinensis Bell trên cây muối hay diêm phu mộc Rhus semialata Murray), lựu bì (tức là vỏ cây Punica granatum L đem lại tannin có tính chất làm xẩm màu lá hái
như chè, thuốc lá, cà phê , chống oxi nên bảo quản gỗ được lâu ngày và nhất là tác dụng lên da, gây tê, cầm máu, giải độc, kháng sinh) Còn những chất quế chi (cây
Cinnamomum loureirii Nees hay C zeylanicum Nees, chữa cảm mạo, tê mỏi), đinh hương (cây Syzygium aromaticum
(L.) Merr et Perry., chữa cam răng, đau bụng), cam thảo
(thân rễ cây Glycyrrhiza uralensis Fish hay G glabra L., chữa ho hen, loét dạ dày), bình lang (trái cây cau Areca
catechu L., chữa giun sán, viêm ruột lỵ), tế tân (cây Asarum sieboldii Miq., chữa đau răng, cảm lạnh), bạch chỉ (rễ cây Angelica dahurica Benth et Hook., chữa lở mồm, hôi
miệng), nhũ hương (nhựa cây Pisticia lenticus L., chữa đau sưng, tiêu nhọt), sinh địa (thân rễ cây Rehmannia glutinosa
(Gaertn.) Lobosh, chữa đau răng, chóng mặt, ho khan, bệnh
lao), tế tân (trái cây Tribulus terrestris L., chữa đau mắt, kinh nguyệt không đều), một dược (nhựa cây Commiphora
Trang 16momol Engler, thuốc điều kinh, giảm đau, tiêu thủy), đương qui (cây Angelica sinensis (Oliv.) Diels, chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược), đại hồi (trái cây Illicium verum Hook., thuốc
trung tiện, giúp tiêu hóa), ngoài tính chất dược liệu, là
những chất thơm cống hiến hương vị cho liều thuốc nhuộm Được bảo vệ cẩn thận, răng nhuộm có thể tồn tại mươi, hai mươi năm, màu đen huyền luôn lóng lánh giữa hai đôi môi, không thì những lớp sơn tróc ra, những vết vàng lạt hiện lên
răng gọi là răng cải mả, phải nhuộm lại Trái lại, từ răng đen
muốn trở lại trắng cũng không phải dễ vì những phương
pháp dùng acid mạnh hay mài răng đều không thích hợp, có thể làm hư răng
Ngày nay người trẻ tuổi khó lòng cảm xúc trước một nụ cười với hai hàm răng đen Nhưng nhuộm răng không phải chỉ là một vấn đề mỹ quan mà còn có một lý do thực dụng : từ lâu người ta đã nhận thấy răng nhuộm đen ít bị sâu răng Vì vậy
có vài luận án nha y quan tâm đến đề tài nhuộm răng Ngoài công trình của nha sĩ Vũ Ngọc Huỳnh ở Hà Nội (4), trong số những luận án tồn trữ ở Trường Đại học Nha y Paris, phần lớn các tác giả cốt yếu chú trọng đến phong cách, tập quán nhuộm răng (7) Hai nha sĩ Phùng Thị Cúc (sau nầy trở thành nhà điêu khắc có tiếng Điềm Phùng Thị) và phu quân Bửu Điềm (thầy cũ Anh văn của tôi ở Trường Trung học Khải
Định) thì dựa lên công tác của nhóm Nguyễn Dương Hồng ở
Hà Nội để đề nghị dùng nhựa sơn trong việc phòng ngừa bệnh sâu răng (5) Nhưng đi sâu vào khoa học nhiều nhất có
lẽ là luận án của nha sĩ Trần Văn Phú, dùng nhựa sơn để lấp bít những khoảng trống tí hon trong răng (6) Thì ra, ông cha
ta xử lý rất khoa học Trước hết, như đã thấy, muốn thuốc dính chặt vào men răng, cần phải gây một mặt răng sần sùi
Vì men răng không xốp, một dung dịch acid yếu như citric acid trong chanh đủ để mài mà không đào những lỗ quá sâu làm hư men răng Bên phần nhựa sơn cũng cần một trạng thái dễ trải với những hột sơn kích thước hiển vi có thể lọt vào bất cứ khoảng trống ở nào Với một đường kính 17-20 angstrom, hột sơn nhỏ hơn một con trùng như streptocoque đến 250-500 lần, dễ dàng trám hết mọi lỗ hết còn chỗ cho vi
Trang 17trùng
Bọ cái phát tiết sáp nhựa
Từ lâu người ra đã biết cây sơn Rhus vernicifera sp hay R succedana L., thuộc họ Xoài Anacardiaceae, có nhựa nhưng
không dùng được trong miệng vì chất laccol rất độc Nhựa trong thuốc nhuộm răng được lấy ra từ một côn trùng cánh
nửa hemiptere tí hon (0,60-0,70mm) sống ký sinh từng tập
đoàn từ 80-100 con (ở Việt Nam trung bình 170 con) trên thân, cành nhiều loại cây ở Đông Nam Á Con sâu nầy tùy
tác giả được gọi Tachardia lacca R Bld., Carteria lacca Sign hay Coccus laccae Kerr, trước khi mang tên thông dụng
ngày nay Laccifer lacca Kerr, thuộc họ Sâu cánh kiến
Lacciferidae Cockerell Tachardia, Carteria từ Tachard
(1709), Carter (1861) là tên những nhà khoa học đã khảo cứu và miêu tả nhựa sâu như Kerr (1781), Roxbary (1796)
Lacci nguồn gốc từ tiếng Ấn Độ lakh hay Phạn tự laksha
nghĩa là trăm ngàn vì số lượng sâu trên cây nhiều vô kể, từ
đấy phát xuất những danh từ Âu Mỹ lak, lac, laque
Sâu chọn làm giống được buộc vào cây, có thể cho vào sọt tre nhỏ hay túi lưới rồi mắc lên cành, ở chỗ phân nhánh để sâu bò sang nhiều cành Sâu hút nhựa cây mà sống, trưởng thành lớn lên thành bọ mới phân hóa đực, cái Cả hai loại (hai phần ba là cái) cùng nhau làm tổ trong vỏ cành cây, tổ loại đực hình thoi, mỏng và nhỏ, tổ loại cái hình tròn, lớn hơn Bọ đực thoát xác, mọc chân, mọc cánh, có thể di động được để đến với bọ cái Trong lúc đó bọ cái nằm yên trong
tổ, chỉ lòi bộ phận sinh dục ra ngoài để giao cấu Làm xong nhiệm vụ, bọ đực kiệt lức chết đi, hy sinh cho giống nòi Bọ cái có chửa, phồng lớn, cho phát tiết sắc tố và và sáp, nhựa
để nuôi nấng và bảo vệ bầy con sắp đẻ Mỗi bọ cái có thể mang đến một ngàn trứng (ở Việt Nam, trung bình từ ba đến bốn trăm trứng) hình bầu dục nhỏ, dài, chen lấn trong một túi dung dịch nhuộm màu đỏ son rất đẹp Ấu trùng từ trứng
Trang 18nở ra, ăn sắc tố mà lớn lên làm dung dịch đặc lại, khô dần Oái ăm thay, sâu càng trưởng thành thì tổ mẹ càng chật ra,
bọ cái dần dần bị ngạt chết, cũng hy sinh cho giống nòi như
bọ đực, sâu con không chịu đựng được nữa, luồng qua xác
mẹ để thoát ra ngoài, bắt đầu một chu kỳ khác Mỗi năm có hai chu kỳ Những bọ đực mùa đông nhờ có cánh có thể bay qua thụ tinh những bọ cái ở các cành xa Theo nguyên tắc, mỗi năm có thể lấy nhựa hai lần, song ở Việt Nam vì khí hậu
ít ôn hoà nên chỉ thực hiện được một lần Ở Mộc Châu, thả 5kg giống trên cây vải, nhựa thu hoạch được là 200 kg Còn sắc tố cấu tạo trong tổ cho sâu con có thể thu hoạch cùng lúc với nhựa, nhiều khi trước khi trứng nở nhưng như vậy thì mất đi một lứa sâu mới (*)
Bản chất của các cây trú sâu có ảnh huởng rất lớn lên nhựa sơn Chúng phải mọc ở những vùng không quá nóng, không quá lạnh, cần ẩm ướt nhưng đừng mưa quá nhiều Ấn Độ là nước sản xuất nhựa nhiều nhất trên thế giới, khoảng 50.000 tấn mỗi năm, xuất cảng qua Hoa Kỳ, Indonexia, Canada, Đức, Nhật, Pháp, Nga ,… Bên nước ấy, nhựa sơn hảo hạng
được lấy từ những cây kusum Schleichera trijuga Willd., dhak Butea frondosa Roxb., arhar Cajanus indicus Sprengl hay C cajan (L.) Mills Ở Việt Nam, cây trú sâu mọc trong
khoảng cao độ 400-700m Ta cũng có cây kusum gọi là dầu trường hay cọ phèn (lúc trước dầu dùng để gội dầu, nhân hạnh thế đào lạc trong bánh trái), cây dhak gọi là giêng giêng (vỏ cây tán với gừng để đắp lên vết rắn hay bò cạp cắn), cây arhar gọi là cây đậu thiều hay đậu săng (cây
thường được dùng để chữa đau xương mỏi chắc) Ngoài ra
sâu nhựa cũng ăn bám trên các cây chưng bầu Combretum quadrangulare Kurz (trái và vỏ cây được dùng làm thuốc trừ giun), dầu dầu Schleichera oleosa (Lour.) Oken., bồ đề Ficus religiosa L., sen cát Shorea cochinchinensis Pierre, lá ngón Pterocarya tonkinensis Dode, ba chế Desmodium cephalotes Wall., hay một số cây ăn quả như vải Litchi sinensis Radk., táo Ziziphus mauritiana Lamk., nhãn Euphoria longan
Trang 19(Lour.) Steud.,… Nhựa sơn bên ta tùy theo địa phương được gọi cánh kiến (hay cánh kiến đỏ), cành kiến, kiền kiến,… nên
có sự ngộ nhận : có người cho là cánh con kiến, có người hiểu là cành cây kiến, có người lại tưởng là thân con sâu kiền kiến hay kiến vương,…
Thành phần cấu tạo nhựa sơn
Ngày nay trên thị trường người ta phân biệt ba loại nhựa sơn : nhựa thô lấy từ thân, cành cây ra còn chứa tạp chất như vỏ cây, lá cây, sâu non, xác bọ, đậm màu, gọi là
sticklac tức là nhựa thỏi Dùng nước chiết xuất để đào thải sắc tố, đem phơi khô, giã nát rồi rửa lọc các tạp chất thì
được nhựa màu đỏ vàng, còn chứa chút ít sáp, gọi là seedlac tức là nhựa hột Lại tiếp tục rửa nước, làm ròng, lọc sạch, có khi tẩy trắng với một dung dịch alcali hypochlorit (11) thì
nhựa tinh khiết màu vàng lạt mang tên shellac tức là nhựa vẩy Làm lớp sơn lót trong giai đoạn nhuộm thứ nhất, nhựa sơn đóng vai trò chủ chốt vì trực tiếp kết dính men răng Tuy được chú ý từ những thế kỷ 18, 19, nhựa sơn chỉ bắt đầu được khảo cứu tường tận từ đầu thế kỷ 20 rồi bật tung vào những thập niên 70, 80 Chính vào những năm nầy mà nảy
nở những luận án nha y đề cập đến vấn đề dùng nhựa sơn
để nhuộm răng (4-7)
Khi khảo sát seedlac của cây palas, nhóm Mhaskar-Sukh Dev (18) dùng ethanol pha nước khử sáp rồi lấy ether làm kết tủa "nhựa cứng" tách nó ra khỏi phần "nhựa mềm" Phần
Trang 20"nhựa cứng" còn gọi "nhựa ròng", chiếm 70% tổng số nhựa cây, được đem phân tích qua các phương pháp sắc ký lớp mỏng và giấy (18de) 12 acid đã được xác định (18d) : butolic
(14b,18b,20)
, aleuritic (12ab,13,18b), jalaric (18ab), shellolic (10,12a,24), epishellolic (18ab,24a), laksholic (18b), epilaksholic (18b),
laccijalaric (18c), laccishellolic (18c), epilaccishellolic (18c),
laccilaksholic (18d) và epilaccilaksholic (18d) acid cùng 18 amin acid (22) Nếu những tên shellolic, lacksholic, laccishellolic, laccilaksholic acid dĩ nhiên từ shellac, lakh mà ra, những tên
butolic, jalaric acid lấy gốc từ những tên cây trú sâu Butea monosperma Lamk., jalari Shorea talura Roxb Hai aleuric và
butolic acid là những phân tử dài, mở, những acid khác đều
là những dẫn xuất của một vòng terpen Bên cạnh các acid nầy, nhóm Gardner (12) còn chiết xuất ra được những kerrolic acid (12d), laccolic lacton (12cd), periolic acid (12c)
Còn hai hóa chất quan trọng trong nhựa sơn là hai sắc tố màu vàng erythrolaccin (23) và màu đỏ laccaic acid (8ab,15,23b) Cấu tạo cả hai có đồng sườn anthraquinon mang ba hoặc bốn nhóm hydroxy ; laccaic acid có thêm hai nhóm acid và một nhóm keton Sắc tố nầy được khai thác trong thực
phẩm (15), mỹ nghệ (19) Vải bô nhuộm với sắc tố nhựa sơn có
khả năng khử trùng chống Escherichia coli, Bacillus subtilis,
Trang 21Klebsiella pneumoniae, Proteus vulgaris, Pseudomonas
aeruginosa (21) Gần đây cây đậu săng Cajanus cajan (L.)
Mills được khảo cứu tường tận hơn Lá cây chứa một số hóa chất như vitexin, salicylic acid, henritriacontan, laccerol,
longistylin, pinostrobin, -sitosterol, -amyrin,… (9) Mục đích các nhà khảo cứu là tìm một cây trú sâu cống hiến đủ điều kiện để có nhựa sơn tốt (17) Theo đông y, nhựa sơn có tác dụng làm thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, cầm máu, đậu chẩn, tuy vậy ít được dùng làm thuốc Sách xưa có nói đến chống thổ tả, trừ nôn mửa, tiêu chảy Shellac phát triển
nhiều hơn trong mặt kỹ nghệ Được nói nhiều nhất là
nguyên liệu để làm dĩa hát, bắt đầu với những dĩa 78 vòng
mà phần lớn chúng ta đều biết cách đây một nửa thế kỷ, ngày nay khó chóng chỏi với nhựa nhân tạo Nhựa sơn là một chất chịu acid, cách điện, chống tia cực tím, còn được dùng để làm vec ni, mực in, thuốc xức tóc, khuôn răng giả, bao chống ẩm, tô nón nỉ, đánh bóng sàn nhà, đồ gỗ, tre, vải, da,… (*)
Ngày nay, nha y dùng nhiều nhựa nhân tạo để lấp bít các lỗ hổng trong răng Những nha sĩ tôi gặp không có ai chịu
hưóng về nhựa sơn dù là một hóa chất thiên nhiên có nhiều tính chất tốt về sức kết dính, độ thấm nước (rất cần để xử lý trong miệng luôn có nước miếng), thêm vào một kích thước khá nhỏ để dành chỗ các enzym, vi khuẩn có thể làm hư răng Ngành nha y ta có nên chăng tiếp tục khảo cứu (4,5) để
dùng trong công cuộc phòng ngừa bệnh sâu răng ? Nhựa sơn tẩy trằng có thể là một thuốc nhuộm răng trắng, bảo vệ
Trang 22OXYGEN Mọi người đếu biết rằng lúc khởi thủy, không có oxygen trên trái đất Khí quyển chỉ gồm các hợp chất nitrogen, hơi nước
và khí carbonic được phóng thích ra từ các núi lửa, nhưng không có oxygen nguyên tố
Cách đây hai tỉ năm, sự ngưng tụ hơi nước và sự hình thành đại dương đã cho phép các vi sinh vật có thể tổng hợp diệp lục tố (rong, vi khuẩn), dùng khí carbonic và thải ra khí
oxygen
Oxygen nhờ đó mà xuất hiện từ từ trong khí quyển, lúc đầu chỉ có 0,2% Sau đó oxygen tạo thành tầng ozon, sẽ làm màn chắn bớt các tia tử ngoại (ultraviolet) tới mặt đất Nhờ
đó mà có được sự sống tập thể trên mặt đất Sự phát triển mạnh mẽ của thực vật tạo lớp khí quyển càng ngày càng
có nhiều oxygen
Nhờ sự sản xuất oxygen mà trái đất ta đã qua một bước ngoặc mới trong lịch sử của nó Trong một tì năm, cây dưới nước tiếp tục thải ra khí oxygen, và dần dần tụ lên bầu khí quyển
Khám phá khí oxygen:
Nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele (1742-1786) nghiên cứu các chất khí vào những năm 1768-1770, đã quan sát một chất khí không mùi, khi đốt thì cho ra ngọn lửa sáng Ông cho nó đặc điểm là "không khí của lửa"
Tháng 4 năm 1774 Pierre Bayen thí
nghiệm khi đốt oxyd thủy ngân (đá vôi thủy ngân, (chaux
Trang 23mercurielle ou mercure précipité per se), sẽ tỏa ra một chất
khí và khối lượng bị mất Ông hứng khí đó và ghi nhận rằng
nó hơi đặc hơn không khí Bayen cho rằng công bố quan sát này không ích lợi gì , ông muốn thực hiện những thí
nghiệm tỉ mỉ hơn, cẩn thận hơn mà không xem xét chất khí thoát ra đó Có phải ông cho rằng chất khí đó bình thường như mọi chất khác?
Ngày 1 tháng 8 1774, Joseph Priestley làm thí nghiệm y
hệt như Pierre Bayen tại khà ông gần Calne, Anh quốc Ông thu được cùng chất khí trên và đặt tên là khí để đốt (air déphlogistiqué) Ông còn nhận thấy rằng chất khí này khi hít
vô sẽ cảm thấy khoẻ và cây cối có thể làm tái sinh một phần chất khí mà chuột và ngọn lửa thải ra Từ các thí nghiệm trên, ông kết luận trên là không khí quanh ta gồm hai hợp chất, một chất làm hoạt động sự đốt và một cặn bã
Nói về chất khí này, ông viết: "cái làm cho tôi ngạc nhiên nhất là đèn cầy cháy bằng chất khí này có độ sáng rất
mãnh liệt " Ông cũng diễn tả một cách tỉ mỉ các thí
nghiệm của ông và cho in ra các kết quả Nhân dịp bữa ăn tối, khi Priestley được mời qua Pháp tháng 10 năm 1774 thì Lavoisier mới biết được sự khám phá ra chất khí đặc biệt
mà ông gọi là "khí để hô hấp tốt hết sức" (air éminemment respirable)
Lavoisier biết các công trình của Bayen nhưng cũng như Bayen, không để ý độ quan trọng của chất khí này Sự gặp
gỡ với Priestley là một phát hiện mới đối với Lavoisier: ông
bị thu hút bởi các "khí" mới này và quyết định nghiên cứu các chất khí và những hiện tượng của sự đốt cháy Bảy tháng sau, ông lập lại thí nghiệm của các nhà hóa học trên
và thấy rằng "chất nhiên khí" đó là một nguyên tố mới, quan trọng hơn, là nguyên tố dùng để đốt Ngoài ra ông thấy ngay sự gia tăng khối lượng của các kim loại khi bị
nung khô (calcination)
Trang 24Năm 1775, ông thực hiện thí nghiệm đáng ghi nhớ trong 12 ngày và 12 đêm trên oxyd thủy ngân đỏ Khí tỏa ra được nghiên cứu có đặc tình quan trọng: làm hoạt động sự cháy, giúp sự hô hấp động vật Lavoisier kêu tên là "khí cho sự sống" (air vital) Lavoisier khám phá rằng khí quyển là hỗn hợp của hai khí, air vital và mofette (nitrogen)
Bayen đã thấy sự sai lầm của mình khi không công bố sự khám phá của mình, nhưng đã trễ, ông đã bị lịch sử quên tên
Chính Pristley là cha đẻ của oxygen, xác định đặc tính của
Số Protons/Electrons: 8
Số Neutrons: 8
Phân loại: không kim loại
Cơ cấu tinh thể: khối lập phương
Tỷ trọng ở 293 K: 1.429 g/cm3
Màu: không màu
Oxygen tượng trưng cho :
21% thể tích khí quyển
Nửa trọng lượng lớp vỏ địa cầu
88,8 % trọng lượng nước
23,2 % không khí (75,6 % nitrogen)
Trang 2562,5 % cơ thể con người và cho tới 88 % ở một số sinh vật ở biển
Có thể sống sót lâu với không khí chứa 14 % oxygen, rối loạn quan trọng ở 7 % và nghẹt thở ở 3 %
Oxygen, nguyên tố cần thiết cho đời sống
Là nguyên tố phổ biến, dồi dào nhất của vỏ trái đất trong số
đó có đất đá và sông biển với khí quyển Nó tượng trưng cho 49,5% của khối lượng vỏ quả đất (53,3% tính theo số
nguyên tử), đứng trước quá xa so với silicium (25,7% tính theo khối lượng) Trong không khí oxygen ở dưới dạng
phân tử có hai nguyên tử oxygen (O2) Kết hợp với
hydrogen, cho ra nước H2O
Trong đất đá, nó có trong các khoáng chất có oxygen
(oxyd, hydroxyd, silicat, carbonat, sulfat, phosphat )
Nơi các sinh vật, oxygen ở dưới dạng phân tử hữu cơ có oxygen và những hợp chất vô cơ như phosphat apatitic trong xương và răng, các carbonat trong vỏ sò
Cơ cấu nguyên tử của oxygen:
Tầng điện tử hóa trị (tầng 2) gồm 6 điện tử và oxygen
được xếp hạng ở cột thứ VIA của bảng phân loại tuần hoàn
Đó là nguyên tố dầu tiên của nhóm tương đối đồng nhất gồm 4 nguyên tố khác là: lưu huỳnh (S), selenium (Se), tellurium (Te) và polonium (Po) Hai điện tử 2s tạo thành một cặp điện tử có spin nghịch chiều nhau và 4 điện tử 2p khác phải rải lên ba quỹ đạo 2px, 2py và 2pz cùng một mực lăng lượng: Hai trong số các điện tử sẽ tạo thành một cặp điện tử trên cùng một quỹ đạo, nhưng hai điện tử còn lại bị bó buộc phải ở trên hai quỹ đạo còn lại (Luật Hund), nên là những điện tử độc thân Cấu hình điện tử của oxygen làm cho nó có tính chất đặc biệt
Trang 26Theo luật tám điện tử, nguyên tử oxygen có khuynh hướng thu thêm hai điện tử để tạo ra cấu trúc của neon (Ne) là khí hiếm đứng sát bên nó (1s2, 2s2, 2p6) nghĩa là tạo ra ion O2-
Do đó oxygen là nguyên tố có tính âm điện mạnh (3,44 theo thang Pauling), tính âm điện của nó chỉ bị fluor (F) qua mặt (3,98) Đó là một nguyên tố không kim loại điển hình
Oscar
Tên chính thức của giải Oscar là Academy Awards (Giải của Viện hàn lâm Khoa học và nghệ thuật điện ảnh Hoa Kỳ AMPAS), nhưng cái tên Oscar mà người
ta quen gọi xuất phát từ đâu? Điều này cho tới nay vẫn chưa được xác định một cách chính thức, dù nhiều người Mỹ vẫn tin rằng tên Oscar xuất phát từ người quản thủ thư viện đầu tiên của AMPAS là bà Margaret Herrick Bà này đã cho rằng pho tượng trọc đầu cầm kiếm đó trông khá giống với ông cậu tên Oscar của bà Đó là năm 1931 - khi giải này đã được tổ chức ba lần rồi
Thế nhưng sau đó công đầu lại bị hai người khác giành giật Đó là nhà báo Sidney Skosky và nữ diễn viên Bette Davis Khi đoạt giải nữ diễn viên xuất sắc nhất năm 1935, Bette Davis đã nhìn phía mặt sau của pho tượng mạ vàng này và nói:
"Trông nó giống ông Harmon Oscar Nelson của tôi quá!" Còn nhà báo Skosky thì - theo tài liệu lưu trữ của Viện hàn lâm AMPAS - đã nhắc tới tên Oscar này lần đầu tiên trong một bài báo ông viết ngày 18-3-1934
Bầu chọn thế nào?
Ngoại trừ số hội viên sáng lập ra AMPAS, số hội viên còn lại
Trang 27tham gia qua lời mời Do vậy, con số hội viên không ngừng tăng lên Hiện nay, con số này đã lên đến 6.031 người, trong
đó số hội viên đủ tư cách bỏ phiếu là 87% Tổng số giải gồm
có 24, được chia thành 12 tiểu ban Các tiểu ban sẽ cứu xét bầu chọn sau khi nhóm hội viên sáng lập đưa ra danh sách những ai được đề cử Oscar
Nhưng không phải ai cũng vui vẻ nhận lời mời trở thành hội viên AMPAS Woody Allen, đạo diễn kiêm biên kịch nổi tiếng, luôn từ chối lời mời này Còn Marlon Brando, người đã từ chối nhận tượng Oscar năm 1972 (lần thứ hai đoạt giải nhờ phim Godfather, thì luôn là hội viên AMPAS)
Oscar và sự nghiệp
Có những người mà việc đoạt một giải Oscar nào đó sẽ giúp
họ thăng tiến trong sự nghiệp Năm 1953, từ một cô gái vô danh, Audrey Hepburn lần đầu đóng phim với vai nàng công chúa trong Kỳ nghỉ hè La Mã (Roman holiday) đã đoạt giải Oscar nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Từ đó, Audrey
không ngừng phát triển tài năng với nhiều bộ phim mà nay
đã trở thành kinh điển Nam diễn viên Anh Daniel Day-Lewis cũng thế Trước năm 1989, chẳng ai biết anh Nhưng chỉ cần một vai kẻ tàn phế trong phim Bàn chân trái của tôi (My left foot), Day-Lewis đã đoạt Oscar nam diễn viên xuất sắc nhất năm đó và tiếp tục tỏa sáng đến mãi ngày nay Julie
Andrews năm 1964 cũng lần đầu từ sân khấu (Broadway) bước qua điện ảnh với phim Mary Poppins đã đoạt Oscar, và
từ đó tên tuổi của cô luôn sáng chói
Thế nhưng, cũng không ít người mà tượng vàng Oscar là điểm son cuối đời sự nghiệp Ben Kingsley đoạt Oscar qua vai Gandhi trong bộ phim cùng tên năm 1982, và từ đó
"chìm" luôn Nữ diễn viên khiếm thị Marlee Matlin năm 1986
đã đoạt Oscar qua vai cô gái mù trong phim Những đứa con của Thượng đế bất toàn, rồi đến Fred Murray Abraham xuất sắc đoạt Oscar trong phim Amadeus (1984) và Art Carney với phim Harry và Tonto - tất cả gần như lui vào bóng tối
Trang 28sau khi đoạt giải Nữ diễn viên duy nhất trong lịch sử đoạt hai lần Oscar liên tiếp là Luise Reiner, năm 1936 đoạt Oscar với The great Aziegfeld, năm 1937 với phim Đất lành (Good Earth), sau đó gần như chẳng còn ai nghe thấy tên bà nữa
Oscar đem lại lợi nhuận thế nào cho một bộ phim?
Phim Bệnh nhân người Anh trước giải Oscar chỉ thu được 31 triệu đôla tiền vé, sau khi đoạt Oscar, thu tổng cộng 77
triệu Phim Danh sách Schindler năm 1994 thu 90 triệu đôla trước khi Oscar khai mạc, sau khi nó đoạt Oscar thu thêm
120 triệu, tức tổng thu 210 triệu đôla Thêm một trường hợp nữa: phim Dương cầm (Piano) nhờ đoạt ba giải Oscar mà doanh thu từ 10 triệu lên 40 triệu đôla
Đoạt giải Oscar luôn là yếu tố đem lại doanh thu lớn, tuy nhiên cũng nên chú ý xu hướng xem phim của khán giả Từ thập niên 1930 - 1960, những bộ phim đoạt giải Oscar (tức giải Phim hay nhất trong năm) luôn là phim ăn khách nhất, khán giả không ngớt đua nhau đi xem Nhưng từ thập niên
1970 đến nay, xu hướng xem phim của khán giả đã thay đổi, những phim đoạt giải Oscar có khi không phải là những phim ăn khách nhất
Thí dụ: năm 1997 phim đoạt Oscar là Bệnh nhân người Anh kém xa doanh số của phim Ngày độc lập (thu 302 triệu
đôla) Năm 1994, Danh sách Schindler là phim đoạt Oscar nhưng kỷ lục tiền bán vé lại về tay phim Công viên khủng long (thu 338 triệu đôla) Trước đó Không dung thứ là phim đoạt Oscar nhưng doanh thu cao nhất về tay phim Vệ sĩ với
292 triệu đôla
Tại Việt Nam, tình hình cũng không khác mấy: khán giả
video thường cho rằng phim đoạt Oscar khó hiểu, khó xem
Loại phim nào dễ đoạt Oscar nhất?
Năm 1997, phim Bệnh nhân người Anh lấy bối cảnh ở vùng
Trang 29Trung Đông, sa mạc Bắc Phi và sau cùng là Yý Oscar kế trước nữa là xứ Scotland của người hùng William Wallace, vai nam chính của phim Trái tim dũng cảm Nếu không như thế thì ứng viên Oscar phải thực hiện về một nhân vật lịch
sử nào đó như vua Phổ Nghi trong Hoàng đế cuối cùng, nhạc
sĩ Mozart trong phim Amadeus, thủ tướng Gandhi hay vị tướng Patton Hoặc nói về cảnh khổ đau của thân phận con người như anh chàng đần độn Forrest Gump Hoặc là
những bộ phim có nhiều cảnh quay "hùng vĩ" - về mặt này,
bộ phim Titanic rất hợp "gu" Viện hàn lâm
Những kỷ lục về Oscar
Số khán giả truyền hình kỷ lục: thường có hơn 1 tỷ người
trên thế giới theo dõi đêm trao giải Oscar
Tiền bản quyền thu hình kỷ lục: giá năm 1997 do hệ thống truyền hình ABC (trực thuộc tập đoàn Walt Disney) trả để được độc quyền trực tiếp truyền hình đêm Oscar dài bốn giờ đồng hồ là 19 triệu đôla Nhưng ngay sau đó, ABC đã thu về
36 triệu đôla nhờ phát sóng khắp nơi trên thế giới
Giá quảng cáo kỷ lục: cứ 30 giây quảng cáo giữa chương
trình trao giải Oscar phải trả cho ABC 835.000 đôla
Giải Oscar đầu tiên: khai mạc ngày 6-5-1929 tại khách
sạn Roosevelt với 15 giải thưởng công bố
Phim câm đầu tiên đoạt giải Oscar: Wings (Những đôi
Trang 30Phim không-phải-Hollywood đầu tiên đoạt giải: Hamlet
(của Anh, 1948)
Phim thuộc loại tập-tiếp-theo (sequel) đoạt Oscar: Bố
già, phần II (1974)
Phim nhãn X nhưng đoạt Oscar: Midnight cowboy (Cao
bồi nửa đêm, 1969)
Kỷ lục về số lần đoạt giải Oscar: nữ diễn viên lão thành
Katherine Hepburn với bốn lần đoạt Oscar
Diễn viên ba lần đoạt giải Oscar Ingrid Bergman và Walter Brenner, Jack Nicholson
Diễn viên hai lần đoạt giải trong hai năm liền: nữ diễn viên Luise Reiner (1936, 1937), nam diễn viên Spencer
Tracy (1937, 1938) và Tom Hanks (1994, 1995)
Diễn viên da đen đầu tiên đoạt Oscar: bà Hattie
McDaniel (Cuốn theo chiều gió)
Diễn viên da đen duy nhất cho tới nay đã đoạt Oscar
về vai chính (leading role): Sidney Poitiers, năm 1964,
nhờ phim Lilies of the field
Phim giữ kỷ lục được đề cử Oscar: Titanic, với 14 đề cử
Phim giữ kỷ lục doanh thu cao và nhanh nhất: Titanic,
1,1 tỷ đôla trong vòng ba tháng
Người giữ kỷ lục được đề cử Oscar: Woody Allen, được đề
cử 15 lần (trong đó có sáu lần với tư cách đạo diễn, tám lần
về kịch bản)
Diễn viên cao tuổi nhất đoạt Oscar: bà Jessica Tandy,
năm 1992 (80 tuổi), nhờ phim Lái xe cho cô Daisy
Trang 31Diễn viên trẻ nhất đoạt Oscar: Tatum O'Neal năm 10 tuổi
(1974, với phim Paper Moon)
Riêng giải Oscar trao tặng cho thần đồng Shirley
Temple lúc cô sáu tuổi không do diễn xuất mà về thành quả
sự nghiệp cống hiến
Ai biết trước tiên kết quả Oscar?
Đó là hai người kiểm toán của Công ty kiểm toán Mỹ Price Waterhouse
Đội ngũ tổ chức giải Oscar: gồm 115 người làm việc
quanh năm, toàn bộ thời gian để theo dõi tất cả những cuốn phim được trình chiếu trong năm
George Eastman (1854 - 1932) Nhà phát minh phim
và máy ảnh Kodak
Ngày nay tại khắp nơi trên thế giới, nếu mọi người được xem những hình ảnh thời sự trên các mặt báo, trong các tạp chí, nếu mọi sách giáo khoa chứa đựng nhiều tấm ảnh dẫn
chứng cụ thể, nếu các bác sĩ có thể xem xét người bệnh
bằng phim chụp do quang tuyến X và nếu mọi người giải trí nhờ những rạp chiếu bóng thì tất cả các phát minh này
đã được khai triển nhờ đức tính tận tụy của một thiên tài
Trang 32siêu việt trong ngành Nhiếp Ảnh, đó là ông George Eastman
Nhờ thiên tài sáng tạo của ông Eastman, cách chụp ảnh
trước kia là một công việc phức tạp và khó khăn, đã trở nên
dễ dàng và chỉ cần một động tác đơn giản là ấn vào một cái nút trên chiếc máy ảnh cầm tay, máy sẽ cơ động trong một phần trăm giây đồng hồ và người ta sẽ lấy được các hình ảnh rất trung thực
Phát minh của ông Geoge Eastman đã cải tiến ngành Nhiếp Ảnh, làm dễ dàng công việc ghi rõ hình ảnh của thế giới hiện tại để truyền lại cho thế giới tương lai Phát minh của ông George Eastman còn giúp ích vào các công cuộc khảo cứu khoa học, từ việc nghiên cứu những đối tượng cực nhỏ như các vi trùng, các nguyên tử , tới các thiên thể cực lớn chẳng hạn các tinh vân khổng lồ Ngành Nhiếp Ảnh còn được áp dụng vào Y Khoa, Kỹ Nghệ, Khoa Học, Giáo Dục, Nghệ Thuật
và cả vào ngành Giải Trí
1/ Thời niên thiếu.
George Eastman là con của ông George Washington
Eastman và bà Maria Kilbourn, chào đời ngày 12 tháng 7 năm 1854 tại làng Waterville, thuộc tiểu bang New York Cha của George làm nghề ươm cây, đã bán lại cơ sở kinh doanh khi cậu bé George lên 6 tuổi, rời gia đình tới thành phố Rochester và mở một trường thương mại Hai năm sau ông George qua đời, để lại một vợ, ba con gồm hai cô gái lớn và cậu trai út, tất cả sinh sống trong cảnh nghèo túng Trong thời gian vất vả này, bà Eastman phải nấu cơm trọ để lấy tiên nuôi các con ăn học
Vào thời bấy giờ, cậu George là một học sinh rất chăm chỉ nhưng lại không giỏi hẳn về một môn học nào Cậu là tay chơi dã cầu vào hạng khá Cậu đã sáng chế được các món đồ chơi rất tỉ mỉ bằng những cây que đan cũ Nhiều bạn học cùng lớp hỏi xin đồ chơi nhưng cậu nhất định không chịu
Trang 33tặng không Cậu bảo bạn : "Nếu bạn ưa thích thứ đó, sao không mua đi? Giá chỉ có 10 xu thôi!" Và George đã bán được "sản phẩm" của mình Cậu đã ghi lại số tiền kiếm được vào sổ tay, điều này chứng tỏ cậu có khuynh hướng về
thương mại và suốt cuộc đời của cậu, George chỉ suy tính về các công việc chi thu mà thôi
Khi George lên 14 tuổi, gia đình Eastman lâm vào hoàn cảnh quá nghèo túng Biết rõ cảnh khổ của mẹ, cậu xin thôi học, trở về giúp đỡ gia đình Cậu tự nguyện sẽ đưa gia đình ra khỏi cảnh túng bấn Cậu vận động và xin được chân tùy phái của một văn phòng bảo hiểm với số lương 3 mỹ kim một tuần lễ Cậu làm việc rất cẩn thận và chu đáo Xong việc tại
sở, cậu George phải đi bộ hàng cây số để trở về giúp nhà làm các công việc vặt trong 6 hay 7 giờ nữa Công việc tùy phái này kéo dài trong một năm trường, tới khi George xin được việc làm trong văn phòng của một hãng bảo hiểm
khác Nhờ óc sáng tạo, George được giao những công việc quan trọng hơn và lương bổng của cậu cũng tăng lên tới 5
Vào năm 24 tuổi sau một thời gian làm việc cực nhoc,
George quyết định đi nghỉ hè để dưỡng sức Do đọc các sách báo nói về miền Santo Domingo, George dự tính sẽ tới nơi này Đây là lần đầu tiên đi nghỉ mát nên George phải bàn tính kỹ lưỡng chương trình du ngoạn với các bạn đồng
nghiệp Khi nghe George nói về những nơi sẽ viếng thăm, một người bạn tỏ lộ với George lời thèm muốn như sau :
"Ước gì tôi được đi với anh ! Nhưng dù không được đi chăng nữa, nếu tôi được xem những hình ảnh do anh chụp và
Trang 34mang về thì cũng đủ vui thích rồi" Chính lời nói bất ngờ này
đã dẫn dắt George Eastman vào ngành Nhiếp Ảnh Eastman không định mang theo máy ảnh trong chuyến du ngoạn
nhưng ông cho rằng lời nói của anh bạn là một ý kiến hay Vì vậy ông đã bỏ ra 94.36 mỹ kim để mua một máy ảnh với dụng cụ đầy đủ
Vào thời bấy giờ, công việc chụp ảnh rất phức tạp Nhà
nhiếp ảnh phải dùng kính tráng một lớp thuốc và thứ kính này phải được chụp khi lớp thuốc còn ướt rồi rửa ngay sau
đó Vì thế khi bán máy ảnh, người ta cũng bán kèm những lọ thủy tinh đựng hóa chất, những khay, quặng (phễu), cân hóa chất và cả một chiếc lều vải dùng làm phòng tối Khi nhớ lại các kỷ niệm xa xưa, ông George Eastman còn nói :"Nhà nhiếp ảnh tài tử không những chỉ cần một chiếc máy ảnh, mà còn cần tới cả một bộ đồ nghề trong đó chiếc máy ảnh chỉ là một phần nhỏ Tôi cho rằng làm một anh thợ ảnh cần phải khỏe mạnh và còn phải can đảm nữa, vì mang bộ
đồ nghề nhiếp ảnh chẳng khác nào mang bộ yên cương"
Vì lý do riêng, Eastman không thể đi Santo Domingo được, ông liền dùng thời giờ nhàn rỗi vào việc tìm hiểu Nhiếp Ảnh Khi đã hiểu biết tạm đủ về kỹ thuật, ông Eastman liền qua đảo Mackimac để chụp hình chiếc cầu thiên tạo Eastman chọn một ngày nhiều nắng và mang máy ảnh ra xử dụng Nhóm du khách thấy có thợ chụp ảnh liền sắp hàng trên cầu
để được chụp Họ coi Eastman đặt máy, ngắm nghía, vặn vật kính và theo dõi nhà nhiếp ảnh chạy lăng xăng từ lều ra máy với những tấm kính ướt Hôm đó, trời nắng gắt nhưng nhóm người ưa thích được chụp ảnh vẫn kiên tâm đứng yên
để Eastman làm đủ mọi động tác phức tạp Tới khi Eastman rửa ra kính ảnh rồi, một người trong bọn hỏi mua thì ông Eastman trả lời : "những kính ảnh này không bán vì tôi chỉ là một người chụp ảnh tài tử" Tới lúc này, ông khách liền nổi nóng : "Anh điên hả? Tại sao anh bắt chúng tôi đứng hàng nửa giờ ngoài nắng trong khi anh chạy đi chạy lại lăng xăng, đáng lẽ anh phải treo tấm bảng ghi rõ anh là một người
chụp ảnh tài tử chứ ?"
Trang 35phương pháp này người ta không cần phải chụp và rửa phim ngay tại chỗ và tốc độ thu hình trước kia từ 3 tới 4 giây, bây giờ được rút gọn còn 1 phần 25 giây
Ông Eastman đã theo đúng các công thức cho sẵn trong tờ tạp chí Anh để tự chế tạo kính ảnh Lúc đầu ông chỉ dự tính chế tạo kính khô cho riêng mình dùng nhưng chẳng bao lâu, ông lại nẩy ra ý kiến chế tạo thật nhiều loại kính đó để bán
ra ngoài Ông tham khảo rất nhiều sách vở để tìm hiểu các phương pháp thí nghiệm và sản xuất Ban ngày làm việc tại ngân hàng, đến tối ông bận rộn pha trộn và nấu thuốc ảnh trong bếp Ông thường làm việc cho tới khi nào mệt lả Có nhiều đêm, ông để nguyên cả quần áo mà ngả lưng trên ghế rồi ngủ cho đến sáng Lòng lo sợ cảnh nghèo túng đã ám ảnh ông, nhất là khi gia đình ông lại gồm mẹ già và một người chị bị bại liệt nửa người Ông Eastman đã làm việc không ngừng vì hai nguyên do : lòng yêu mến mẹ già và ý chí kiếm tiền
Vào tháng 4 năm 1880, ông Eastman thuê từng lầu thứ ba của một tòa nhà trên đường State trong thành phố
Rochester, dùng làm nơi sản xuất kính ảnh sau khi đã xin bằng sáng chế để bảo đảm phương pháp chế tạo của mình Eastman thôi việc tại ngân hàng khi Henry Strong, người khách trọ trong nhà của bà mẹ và cũng là nhà sản xuất roi đánh xe ngựa, bằng lòng bỏ ra năm ngàn mỹ kim làm vốn
và hai người lập ra Công Ty Kính Khô Eastman Lúc đầu, việc bán sản phẩm nhiếp ảnh chưa gặp khó khăn và mặc dù đã
Trang 36có 6 nhân viên, Công Ty Eastman vẫn phải mướn thêm
người phụ giúp Nhưng ít lâu sau, các người chơi ảnh phàn nàn rằng kính khô do Eastman sản xuất chưa nhạy lắm và các nhà buôn đã hoàn trả công ty một số kính ảnh bị hư
hỏng vì lỗi kỹ thuật chế tạo Trước tình thế này, vài người hùn vốn rút lui Eastman và Strong quyết định qua nước Anh
là nơi tiến bộ nhất về kỹ nghệ chế tạo dụng cụ nhiếp ảnh với
hy vọng nhờ các chuyên viên tại nơi này tìm ra khuyết điểm Sau khi trở lại Rochester, Eastman đã cải tiến phương pháp
cũ và từ nay, ông đã thực hiện được các kính ảnh hoàn toàn tốt khiến cho không còn ai phải phàn nàn về sản phẩm nữa
Vào năm 1884, công việc chế tạo kính khô phát đạt, ông Eastman phải mở rộng thêm cơ xưởng Ông dọn trụ sở tới một tòa nhà bốn tầng mà ngày nay là nơi chiếc tháp Kodak còn đứng sừng sững Với mục đích làm giản dị ngành Nhiếp Ảnh, ông Eastman luôn luôn nghĩ tới cách chế tạo ra một chất liệu nào thay thế kính là thứ hay bị bể vỡ và nặng nề Ông đã dùng giấy để thay thế với hy vọng lắp được cả cuộn phim vào máy để chụp hàng loạt Đồng thời với việc nghiên cứu, ông Eastman còn khuếch trương công ty Ông hủy bỏ giao kèo cũ và thành lập Công Ty Kính và Phim Ảnh Eastman (the Eastman Dry Plate and Film Company) với 12 người cộng tác Eastman đã quảng cáo vào năm 1885 sản phẩm của mình như sau : "Ít lâu nữa, sẽ có một loại phim chụp ảnh mới dùng vào việc thu hình ngoài trời cũng như trong nhà, loại phim này vừa rẻ tiền, vừa tiện lợi để thay thế
những tấm kính ảnh khô"
Với sự trợ giúp của William Walker, Eastman đã tìm ra một loại giấy âm bản Tuy sản phẩm này thành công trên thị trường nhưng phát minh của Eastman vẫn còn khuyết điểm
Vì giấy không đúng là chất làm nền hoàn hảo, nên khi in ra hình ảnh, người ta vẫn thấy rõ các sợi giấy Eastman lại bắt tay vào việc tìm kiếm một chất mới để thay thế cho giấy Ông đã dùng chất collodion nhưng chất này không bắt thuốc ảnh Vì thế ông phủ một chất keo có thể tan được lên trên mặt giấy rồi tới lượt lớp keo thuốc ảnh không tan trong
Trang 37nước Sau khi chụp xong, lớp keo thuốc ảnh được bóc ra khỏi giấy và dán vào một tờ keo trong khác rồi người ta mới bôi thêm một lớp collodion ra ngoài Vào năm 1886, vì công việc tổ chức công ty quá bận rộn, ông Eastman phải thuê thêm các nhà hóa học phụ giúp việc nghiên cứu
Bất cứ lúc nào, đầu óc của ông Eastman cũng bận rộn về cách chế tạo các máy móc mới để giảm bớt nhân công và làm hạ giá sản phẩm Sau khi thay thế kính ảnh bằng phim, ông nhận thấy số người dùng phim ảnh chưa có nhiều Ông muốn theo đuổi một công cuộc kinh doanh lớn lao và muốn vậy, ông phải tìm cách hấp dẫn đa số quần chúng Ông
quyết định cung cấp đầy đủ vật liệu nhiếp ảnh với giá thật rẻ
để mọi người đều có thể chụp ảnh được Ông đã quảng cáo rầm rộ sản phẩm của mình và tìm cách khai thác thị trường thương mại
Để đại chúng hóa ngành Nhiếp Ảnh, ông Eastman tung ra thương trường chiếc máy ảnh Kodak đầu tiên vào tháng 6 năm 1888 Đây là chiếc máy ảnh kiểu hộp, nhỏ và nhẹ, có dây đeo, bên trong có lắp một cuộn phim giấy dài, đủ chụp
100 kiểu ảnh Khách chơi ảnh chỉ việc bỏ ra 25 mỹ kim để mua máy có lắp sẵn "Phim Hoa Kỳ" rồi khi chụp xong, gửi máy ảnh về thành phố Rochester và tại nơi này, hãng
Eastman sẽ tháo phim ra, rửa và in hình, tất cả chỉ tốn thêm
10 mỹ kim
Trong việc quảng cáo, Eastman đã nói : "Bạn chỉ cần bấm nút rồi chúng tôi sẽ lo tất cả các công việc còn lại" Đây là một cải cách mới, làm thay đổi hoàn toàn chính sách thương mại và ông Eastman đã áp dụng các phương pháp tân kỳ vào việc sản xuất đại quy mô để làm giảm giá hàng Do cách quảng cáo đặc biệt, máy chụp ảnh Kodak của Eastman đã nổi tiếng trên khắp thế giới và ngành Nhiếp Ảnh bình dân được khai sinh
Không những thành công về phương diện thương mại, ông George Eastman còn đạt được một kết quả rực rỡ về phương
Trang 38diện kỹ thuật, đó là sự tìm ra loại phim dẻo và trong suốt Loại phim này là kết quả của sự pha trộn rất nhiều chất khác nhau với nitrocellulose cho tới khi dung dịch đủ đặc để thành một lớp phim mỏng, trong suốt và không có hạt, đủ sức dẻo dai, làm nền đế để bôi các lớp thuốc ảnh lên trên Vào tháng
8 năm 1889, loại phim Kodak trong suốt đầu tiên được bán
ra thị trường và đã được các nhà nhiếp ảnh đón tiếp nồng nhiệt Cũng nhờ loại phim này, nhà bác học Thomas Edison
đã xử dụng để làm cuộn phim chiếu bóng đầu tiên, khai sinh
ra kỹ nghệ điện ảnh
Với chủ đích làm giản dị ngành Nhiếp Ảnh, ông Eastman lúc nào cũng nghiên cứu, tìm tòi Ông đưa ra các cải tiến liên tiếp khác nhau Vào năm 1891, Hãng Kodak sản xuất loại phim cuộn khiến cho các người chơi ảnh có thể lắp phim vào máy ngay tại ngoài trời và từ đây, người ta không cần phải gửi máy ảnh trở lại thành phố Rochester để lắp phim nữa
Từ khi loại phim cuộn ra đời, một tình trạng khác hẳn đã xẩy
ra Trước kia người chơi ảnh phải là một thợ ảnh, họ phải biết tráng phim và rọi hình, hai công việc này bắt buộc họ phải học thêm kỹ thuật phòng tối Ngày nay với loại phim mới, người chơi ảnh chỉ cần chụp sao cho đẹp, theo đúng theo các điều kiện ánh sáng, còn việc tráng phim và rọi hình
đã có hàng ngàn hiệu ảnh lớn nhỏ đảm nhiệm thay họ
Vào năm 1895, một loại máy ảnh có thể xếp lại và bỏ túi, được tung ra thị trường rồi 5 năm sau, máy ảnh Brownie dùng cho trẻ em đã được bán ra với giá một mỹ kim Việc chế tạo phim, giấy và máy ảnh đã trở nên một loại kỹ nghệ
và Công Ty Eastman Kodak trở thành một hãng sản xuất sản phẩm nhiếp ảnh lớn nhất thế giới
3/ Đóng góp vào cộng đồng.
Từ xưa, ông George Eastman vẫn chỉ mong tìm ra các
phương pháp làm giản dị môn Nhiếp Ảnh để đại chúng có
Trang 39thể hưởng lợi thì ngày nay, điều đó thành sự thật Những đóng góp của ông Eastman vào ngành Nhiếp Ảnh thật là lớn lao Charles Greeley Abbot đã phải nói rằng : "Đó là một cuộc cách mạng trong ngành chụp ảnh, được thực hiện nhờ lòng tận tụy của một viên thư ký ngân hàng chơi ảnh một cách tài tử"
Do thiên tài sáng tạo, viên thư ký ngân hàng đã trở nên một tay cự phú Nhưng dù thành công rực rỡ, ông George
Eastman vẫn giữ lòng khiêm tốn, ít khi ông xuất hiện nơi công cộng hay có hình ảnh đăng trên báo chí Vì luôn luôn hồi tưởng những ngày còn hàn vi, phải sống chật vật để sinh tồn, ông nghĩ ra các dự án thiết lập các quỹ hưu bổng, bảo hiểm và trợ cấp cho các công nhân của công ty Ông
Eastman đã đi trước các chủ nhân đương thời về những đức tính dân chủ và nhân đạo trong việc xây dựng kỹ nghệ bằng cách nâng đỡ giới công nhân theo cách chia lời cho họ tỉ lệ với số lương, vì ông biết rằng người công nhân có được
tưởng thưởng xứng đáng thì sản phẩm mới tốt đẹp hơn Ông Eastman cho rằng sự thịnh vượng của một tổ chức không những chỉ nhờ vào các phát minh và các bằng sáng chế mà còn cần tới thiện chí và lòng trung thành của giới công nhân Khi tuổi đã cao, ông Eastman đành phải mướn các chuyên viên thay thế mình trong nhiều công việc nghiên cứu, nhờ vậy ông có dư thời giờ nhàn rỗi để đi săn bắn, câu cá, du lịch hay thưởng thức âm nhạc
Vào thời còn trẻ, ông Eastman không được học hỏi về Âm Nhạc trong khi ông rất ưa chuộng các vẻ đẹp và những âm thanh êm tai Ông thường kể lại vào thời xa xưa, ông đã mua một cây sáo và tập thổi bài hát Annie Laurie trong hai năm trường Dù rằng không có thiên khiếu về âm nhạc
nhưng do lòng yêu thích nghệ thuật âm thanh, trong thập niên 1920 ông Eastman đã thảo ra nhiều kế hoạch thành lập tại thành phố Rochester một trường âm nhạc , một rạp hát
và một ban nhạc hòa tấu, và dân chúng Rochester đã ủng
hộ sáng kiến của ông Ông George Eastman còn giúp đỡ các bệnh viện và trường y khoa tại Rochester, nhưng ngành
Trang 40chữa răng được ông chú ý tới nhất Ông đã ủng hộ tài chính
để thành lập tại thành phố của ông một bệnh viện nha khoa trị giá 2 triệu rưỡi mỹ kim Có người hỏi tại sao ông ưu đãi các nhà thương chữa răng thì ông Eastman trả lời : "Tiền bỏ
ra cho ngành này mang lại nhiều kết quả hơn bất cứ ngành nào khác Về y học, chúng ta nhận thấy trẻ em sẽ tốt đẹp hơn, sức khỏe dồi dào hơn và năng lực tinh thần mạnh mẽ hơn nếu răng, mũi, cuống họng và miệng của chúng được chăm sóc chu đáo trong thời còn nhỏ" Từ lý do vững vàng này, ông Eastman đã tặng nhiều tiền cho các bệnh viện nha khoa của các thành phố London, Paris, Rome, Bruxelles và Stockholm, và hàng trăm ngàn trẻ em châu Âu đã ghi ơn ông George Eastman trong cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai
Ngoài việc giúp đỡ các công cuộc chống bệnh tật, ông
Eastman còn chú ý tới nền giáo dục Khi Viện Cơ Khí
Rochester (the Mechanics Institute of Rochester) được thành lập vào năm 1887 và đang phải phấn đấu, ông Eastman đã tặng tiền cho Viện rồi ông còn tự đề nghị là một trong 10 người đỡ đầu cho Viện Ngày nay Viện này được đổi tên
thành Viện Kỹ Thuật Rochester (the Rochester Institute of Technology)
Do việc thuê mướn một số kỹ sư tốt nghiệp từ Viện Kỹ Thuật Massachusetts, ông Eastman thấy được khả năng của các chuyên viên này và ông càng khâm phục Viện Kỹ Thuật đó Rồi do lòng quý trọng, ông Eastman đã tặng cho Viện Kỹ Thuật đó một số tiền lớn tới 20 triệu mỹ kim với ẩn danh là
"ông Smith" Người ta đã bàn tán rất nhiều về ông Smith và trong bài hát phổ thông của Viện, các sinh viên năm dự bị ngày nay còn ca tụng vị ân nhân bí mật của họ như sau :
"Hoan hô, hoan hô, nhân danh sinh viên trường Kỹ Thuật và trường Boston, hoan hô, hoan hô ông Smith, vị ân nhân ẩn danh"
Vào năm 1924, ông Eastman đã tặng hơn 75 triệu mỹ kim cho Viện Kỹ Thuật Massachusetts (M.I.T.), trường Đại Học