“Chinh phụ ngâm” do Đặng Trần Côn sáng tác nguyên văn bằng chữ Hán cùng với bản dịch chữ Nôm thành công nhất được cho là của Đoàn Thị Điểm Tác phẩm được ra đời trong hoàn cảnh đầu đời Lê Hiển Tông có.
Trang 1“Chinh phụ ngâm” do Đặng Trần Côn sáng tác nguyên văn bằng chữ Hán cùng với bản dịch chữ Nôm thành công nhất được cho là của Đoàn Thị Điểm Tác phẩm được
ra đời trong hoàn cảnh đầu đời Lê Hiển Tông có nhiều khởi nghĩa nông dân nổ ra nên nhiều trai tráng đã phải từ giã người thân ra trận Đặng Trần Côn đã cảm động trước nỗi đau mất mát của con người đặc biệt là những người vợ lính trong chiến tranh đã viết
“Chinh phụ ngâm” Nối cô đơn, sầu muộn của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi
xa, nỗi nhớ nhung khao khát của người chinh phụ được thể hiện tõ trong tám câu thơ đầu của đoạn trích:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
… Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
Trước cảnh chiến tranh liên miên ở thế kỉ XVIII, Đặng Trần Côn đã sáng tác
“Chinh phụ ngâm” Người chinh phụ vốn dòng quyền quý tiễn chồng ra trận với mong muốn chồng trở về cùng với công danh nhưng sau buồi tiễn đưa nàng trở về với nỗi cô đơn lẻ loi Nàng nhận thấy tuổi xuân của mình đang đi qua còn hạnh phúc thì xa vời vợi Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn cùng cực Đoạn trích miêu tả tâm trạng cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ trong cảnh chờ chồng
Mở đầu đoạn trích, tác giả đã diễn tả nỗi bồn chồn, ngóng trông của người chinh phụ qua hai câu thơ:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Người chinh phụ hiện lên trong một không gian “hiên vắng” của “rèm thưa” đó là không gian chật hẹp, vắng vẻ và hiu quạnh Nhịp thơ chậm rãi, khoan thai người chinh phụ đi
đi lại lại ngoài hiên vắng với những bước chân được miêu tả “thầm gieo từng bước” lặng
lẽ, chậm rãi, nặng nề, chất chứa bao tâm sự buồn chán, cô đơn “rèm thưa rủ thác” chỉ hành động buông xuống cuốn rèm lên nhiều lần, hành động lặp đi lặp lại không chủ đích trong vô thức bởi tâm sự trĩu lòng mà không thể giãi bày Hai câu thơ là hình ảnh người chinh phụ với nghệ thuật đối các từ “từng”, “đòi” diễn tả hình ảnh lặp đi lặp lại một cách
tẻ nhạt, vô nghĩa gợi sự quẩn quanh, bế tắc mà sau đó là nỗi cô đơn thương nhớ đến mòn mỏi, bồn chồn, khắc khoải, không yên
Tâm trạng của người chinh phụ chẳng những được thể hiện qua những hành động
mà còn được thể hiện qua không gian ngoại cảnh:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Trang 2Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Thước là loài chim thường báo tin lành, báo tin người đi xa trở về, cũng là mong tin chồng Nhưng đáp lại sự mong mỏi của người chinh phụ là sự im lặng của chim thước Giọng điệu câu thơ vừa mong chờ, vừa hờn trách lại vừa thất vọng Sử dụng câu hỏi tu
từ “đèn có biết chăng?” làm lời than thêm sự da diết, khắc khoải và xót xa Người chinh phụ cô đơn, không biết san sẻ cùng ai, tìm đến ngọn đèn nhưng “đèn có biết dường bằng chẳng biết” Đèn chỉ là vật vô tri vô giác làm sao có thể chia sẻ với nàng nên cuối cùng chỉ còn mình nàng với nỗi cô đơn Sử dụng biện pháp điệp ngữ bắc cầu “đèn biết chăng – đèn có biết” gợi không gian mênh mông diễn tả tâm trạng buồn triền lê thê, kéo dài trong thời gian và không gian, dường như không bao giờ dứt Giọng độc thoại nội tâm dằn vặt, thương tâm ngậm ngùi cùng hành động tự hỏi, tự trả lời Lòng “bi thiết”, sự bi thương, thảm thiết, đau đớn không nói được thành lời cùng “buồn rầu” nỗi đau như cứa vào tim, tái tê, ủ rũ Người chinh phụ cô đơn, khát khao sự đồng cảm nhưng rơi vào sự
bế tắc, tuyệt vọng khôn cùng
Nỗi cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ cũng được thể hiện qua dáng vẻ:
“Buồn rầu chẳng nói nên lời, Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Từ ngọn đèn đến “hoa đèn”, biểu tượng của thời gian trôi đi, đó còn là biểu tượng cho nỗi cô đơn thao thức Những từ ngữ “buồn rầu”, “nói chẳng nên lời”, “bóng người” đã khắc họa dáng vẻ của người chinh phụ Đó là dáng vẻ âm thầm, lặng lẽ như một cái bóng với một tâm trạng ngổn ngang, rầu rĩ không thích nói năng Câu thơ cuối của của đoạn là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo với hai hình ảnh “Hoa đèn” là tàn đèn cháy đỏ,
“bóng người” là hình ảnh mờ nhạt, lặng lẽ của con người Hoa đèn và bóng người như hòa vào làm một, lẻ loi, trơ trọi, đáng thương vô cùng Rõ ràng cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người như đã bị “vật hóa” tự như tàn đèn cháy đỏ
và trở thành hiện thân kiếp hoa đèn tàn lụi Người chinh phụ bộc lộ trực tiếp nỗi buồn,
sự bi thương, thảm thiết mà nàng phải chấp nhận, không còn có sự lựa chọn nào khác
Bút pháp nghệ thuật ước lệ kết hợp thể thơ song thất lục bát cùng nhịp thơ chậm rãi đã thể hiện những mạch cảm xúc mang cung bậc khác nhau của người chinh phụ Đoạn trích sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm cảnh bằng ngoại cảnh cùng nhiều tính từ chỉ cảm xúc Nghệ thuật miêu tả nội tâm vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, đoạn thơ đã cho thấy nỗi cô đơn, lẻ loi, nhớ nhung trong tuyệt vọng của người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến
Trang 3Tám câu thơ với hình ảnh người phụ nữ mang tâm trạng héo mòn, cô đơn đến cùng cực trong những ngày tháng chờ đợi người chinh phu đã chạm đến trái tim người đọc Chính nỗi cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ đã có giá trị to lớn trong việc cất lên tiếng nói lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đồng thời thể hiện nỗi xót thương cho
số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính và đề cao khát vọng hạnh phúc chính đáng của con người