“Chinh phụ ngâm” do Đặng Trần Côn sáng tác nguyên văn bằng chữ Hán cùng với bản dịch chữ Nôm thành công nhất được cho là của Đoàn Thị Điểm Tác phẩm được ra đời trong hoàn cảnh đầu đời Lê Hiển Tông có.
Trang 1“Chinh phụ ngâm” do Đặng Trần Côn sáng tác nguyên văn bằng chữ Hán cùng với bản dịch chữ Nôm thành công nhất được cho là của Đoàn Thị Điểm Tác phẩm được
ra đời trong hoàn cảnh đầu đời Lê Hiển Tông có nhiều khởi nghĩa nông dân nổ ra nên nhiều trai tráng đã phải từ giã người thân ra trận Đặng Trần Côn đã cảm động trước nỗi đau mất mát của con người đặc biệt là những người vợ lính trong chiến tranh đã viết
“Chinh phụ ngâm” Nỗi nhớ thương, đau đáu của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến được thể hiện qua tám câu thơ cuối của đoạn trích:
‘Lòng này gửi gió đông có tiện?
… Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”
Nhớ hình bóng của người chồng, người chinh phụ thổn thức hướng cái nhìn nội tâm về miền biên ải xa xôi Tám câu này đã thể hiện rõ nỗi nhớ nhung cùng với sự thương nhớ ấy là tâm trạng lo lắng cho số phận của người chồng nơi biên ải Trạng thái
lo lắng của người chinh phụ được tác giả thể hiện như một mạch ngầm dù người chinh phụ không nói ra nhưng ta vẫn cảm nhận được, thể hiện sự tinh tế trong miêu tả nội tâm của tác giả
Tấm lòng thủy chung cùng miềm mong mỏi, ước muốn của người chinh phụ được thể hiện qua hai câu thơ:
“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi tới non Yên.”
Những hình ảnh mang tính ước lệ “Lòng này” là nỗi niềm thương nhớ, trân trọng khôn nguôi, “gió đông” là ngọn gió mùa xuân ấm áp chỉ sự sum họp, đoàn viên cùng hình ảnh
“non Yên” chỉ nơi chiến trường biên ải xa xôi, hiểm trở Tất cả gợi lên một không gian rộng lớn, khoảng cách muôn trùng xa xôi Câu hỏi tu từ “Lòng này gửi gió đông có tiện?” người chinh phụ muốn bộc bạch nỗi lòng, khao khát được chia sẻ, mong mỏi tấm lòng thương nhớ mà nàng chân quý như “Nghìn vàng” sẽ theo ngọn gió mùa xuân đến người chinh phu đang chinh chiến ở biên ải xa xôi Hình ảnh con người nhỏ bé, tâm tư sâu nặng cùng tấm lòng thương nhớ ấy đã thể hiện tình yêu son sắt thủy chung của người chinh phụ giành cho chồng
Nỗi nhớ đằng đẵng ấy làm nàng mòn mỏi cuối cùng được nâng lên thành nỗi đau, một nỗi đau vô hình được tác giả tạo hình hài qua bốn câu thơ:
“Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trang 2Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”
Nỗi nhớ được gửi gắm qua những hình ảnh không gian “non Yên” gợi liên tưởng tới khung cảnh chiến trường hoang vu, lạnh lẽo Hình ảnh “trời” cùng từ láy “thăm thẳm” được điệp lại hai lần gợi độ xa, độ sâu, độ dài rộng của không gian khiến không gian mang tầm vũ trụ, mênh mông đến vô cùng Từ láy “thăm thẳm” diễn tả chiều sâu của nỗi nhớ, khiến nỗi nhớ vốn vô hình, vô lượng hiện hữu, ám ảnh Nghệ thuật so sánh, phóng đại “đường lên bằng trời” lấy cái vô cùng vô tận để diễn tả cái vô cùng vô tận, cực tả nỗi nhớ da diết, không có điểm dừng Điệp từ “nhớ” cùng hai chữ ‘đau đáu” lại diễn tả một sắc thái khác của nỗi nhớ, nhớ đến nhức nhối, âm ỉ, sự lo lắng trăn trở không yên lòng, nỗi nhớ thường trực, triền miên không dứt và trong nỗi nhớ dường như có cả niềm đau Điệp ngữ vòng tròn “non Yên” – “trời” nhấn mạnh khoảng cách xa xôi, trắc trở không
có gì để khỏa lấp nỗi nhớ vời vợi, đau đáu trong lòng người chinh phụ Hai câu thơ thất ngôn tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng Nỗi buồn, nỗi nhớ đã chuyển thành nỗi đau khôn tả của người vợ nơi quê nhà
Ở hai câu thơ cuối, nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh:
“Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
Hai chữ “thiết tha” được hiểu là cắt, là mài, là đau đớn Câu thơ cho thấy nỗi nhớ của người chinh phụ không chỉ là nhớ nhung bình thường nữa mà còn ẩn chứa cả nỗi đau Nghệ thuật tiểu đối, hình ảnh ước lệ cùng với biện pháp tả cảnh ngụ tình, cảnh và người
có sự tương xứng, đồng cảm với nhau hay chính cái buồn đau là lòng người lấy sang cảnh vật Sự đồng điệu của ngoại cảnh với lòng người tha thiết, não nề, đau đớn khôn nguôi Người chinh phụ trở về với thực tế trong khung cảnh âm u “Cành cây sương đượm” là những sự vật nhỏ bé ướt đẫm sương buốt giá trong màn đêm lạnh lẽo cùng
‘tiếng trùng mưa phun”, tiếng côn trùng kêu rả rích, ảo não như tiếng mưa phun Đằng sau hình ảnh không gian ấy ta cảm nhận được tâm trạng cô đơn, thương nhớ đến da diết cùng niềm khao khát cháy bỏng về sự đoàn tụ, về hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc trọn vẹn của gia đình Đây là một trong những biểu hiện của giá trị nhân đạo sâu sắc trong
“Chinh phụ ngâm” Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phu tràn ngập trong tâm tưởng Khắc sâu bi kịch bế tắc, vô vọng, không thể giải tỏa tâm trạng của người chinh phụ
Nỗi nhớ chồng của người chinh phụ được khắc họa rất cụ thể: sâu thẳm, kéo dài
vô tận, xót xa đến đau đớn Niềm mong ước gửi tấm lòng thương nhớ của người chinh
Trang 3phụ đến cho chồng Với thể thơ song thất lục bát, cách dùng từ, hình ảnh ước lệ, điệp từ điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở nàng khao khát được sống trong hạnh phúc tình yêu lứa đôi
Tám câu thơ cuối của đoạn trích như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi Thể hiện rõ tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của tác giả với những khao khát hạnh phúc chính đang của người thiếu phụ, cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đổi chiến tranh phi nghĩa Cũng như đồng cảm, xót thương cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính