“Văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi một cái thế giới gi.....
Trang 1“Văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có
để tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn” (Thạch Lam)
Từ những tác phẩm văn xuôi lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 được học trong chương trình Ngữ văn lớp 11, anh (chị) làm sáng tỏ q uan niệm trên
Hướng dẫn làm bài:
1 Giải thích ý kiến:
– “Văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên”: Văn chương cũng không thể tách rời cuộc sống, không đưa đến cho người đọc thái độ quay lưng, lảng tránh đời sống Nó không phải là liều thuốc ngủ
→ Thạch Lam phủ nhận thứ văn chương đơn thuần chỉ là trò giải trí để giết thời gian Các tác phẩm đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, nghĩa là quay lưng Với thực tại cuộc sống, trốn tránh nghĩa vụ công dân… Ví dụ như những truyện đậm màu sắc kiếm hiệp rẻ tiền, những truyện tình nhảm nhí, vô bổ, những truyện mê tín dị đoan… hoặc những bài thơ cổ vũ cho lối sống ích kỉ, truỵ lạc…
– “Văn chương là một thứ khí giới đắc lực và thanh cao”: Văn chương là công cụ nghề nghiệp hoàn hảo của nhà văn, là vũ khí có khả năng giúp nhà văn hoàn thành
sứ mệnh của mình một cách có hiệu quả Nó không bị sử dụng vào mục đích xấu, hơn nữa, luôn tác động qua con đường tình cảm
→ Nhấn mạnh văn chương có nhiệm vụ mở đường Nhà văn phải có tinh thần trách nhiệm và lương tâm trước xã hội Ngòi bút trong tay nhà văn phải là thứ khi giới thanh cao và đắc lực… để hướng con người tới Chân, Thiện, Mĩ…
– “Tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác”, “làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”: Văn chương vạch trần, phê phán những
tệ lậu, những cái xấu xa của xã hội và đòi hỏi diệt trừ, thay thê nó, đồng thời bồi đắp tinh thần, xây dựng đời sống tâm hồn, thanh lọc tình cảm con người
→ Đưa ra quan niệm đúng đắn là văn chương đích thực sẽ làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn Ý kiến của Thạch Lam về các chức năng văn học là rất đúng đắn, đặc biệt là tính nhận thức và tính giáo dục Nhà văn xác định: Sống trong xã hội đầy rẫy áp bức bất công thì ngòi bút của các tác giả phải phanh
Trang 2phui, tố cáo cái xấu, cái ác để góp phần thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, giúp mọi người nhận thức ra rằng cái thế giới ấy cần phải xoá bỏ để xây dựng một thế giới mới công bằng và tốt đẹp hơn
2 Bàn luận ý kiến:
– Quan niệm đúng đắn về khuynh hướng văn học lãng mạn nói chung và văn học lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 nói riêng không phải là khuynh hướng văn học thoát li khỏi hiện thực cuộc sống Trái lại văn chương giai đoạn này có thể tố cáo
và thay đổi thế giới xấu xa, tàn ác; văn chương khiến cho lòng người trong sạch và phong phú hơn
– Thể hiện một thái độ lựa chọn dứt khoát, tiến bộ, tích cực:
+ Ngầm đối thoại với xu hướng văn học thoát li
+ Thể hiện một quan niệm gần gũi với quan niệm của các nhà văn hiện thực phê phán về văn học
+ Rất hiểu vai trò trách nhiệm của nhà văn cũng như sự mê hoặc, quyến rũ của văn chương
– Rất tự hào về vũ khí của mình
+ Ý thức được sức mạnh và sự cao cả của văn học
+ Một nhận xét đúng đắn, khái quát, sát thực tế
+ Thấy được cách tác động đặc thù của văn học vào cuộc sống,
– Nhận thức đúng về hiện trạng đời sống lúc bấy giờ
+ Xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ của văn học
+ Hiểu rõ tương quan giữa hai nhiệm vụ
→ Đầy niềm tin ở khả năng của văn học, khả năng tự cải tạo tâm hồn mình từ con người, nói chung là niềm tin vào một tương lai sáng sủa hơn Một quan niệm đúng đắn về vai trò, tác dụng của văn chương trong đời sống xã hội
3 Chứng minh:
Trang 3* Với tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân:
+ Khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, cái tốt, cái cao cả đối lập với xấu xa, thấp hèn
+ Thái độ bất hòa với xã hội hiện thực
+ Khơi dậy tình yêu với những nét đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộc.Những ý đồ nghệ thuật trên được truyền tải qua việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật xây dựng nhân vật tài hoa, dựng cảnh tài tình, gợi
không khí cổ xưa …
* Đặc biệt với tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam:
+ Nỗi xót thương trước cuộc sống nghèo khổ, tàn lụi của những người dân phố huyện – đặc biệt là những đứa trẻ,chính là tiếng nói gián tiếp tố cáo xã hội vô nhân đạo
+ Sự đồng cảm với những ước mơ của tuổi thơ, tâm hồn gắn bó với nơi mình đang sống của các nhân vật trong tuyện cũng luôn khơi gợi trong tâm hồn mỗi con người những suy ngẫm…
* Bằng cốt truyện nhẹ nhàng, giọng văn tâm tình, sâu lắng, kết hợp bút pháp hiện thức và trữ tình, khai thác tinh tế tâm lí nhân vật … đã làm nổi bật những nội dung trên
Đề 4: Phân tích nhân vật người Vợ nhặt trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Kim Lân
I Mở bài
Kim Lân là một nhà văn có nhiều trang viết gắn liền với cuộc sống của những người nông dân Bắc bộ Việt Nam Ông có nhiều tác phẩm viết về con người và mảnh đất này như: “Làng”, “Vợ nhặt”, “Con chó xấu xí” Tác phẩm “Vợ nhặt” được trích từ tập truyện “Con chó xấu xí” là tác phẩm xuất sắc của Kim Lân Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp năm 1945 vừa là bài ca
ca ngợi về vẻ đẹp tình người và khát vọng sống, niềm tin vào tương lai của người lao động nghèo Dường như nạn đói định mệnh ấy đã làm cho con người ta quên đi
cả danh dự, họ bất chấp để được sống, thậm chí chuyện hạnh phúc cả đời cũng tặc lưỡi cho qua Nhân vật Thị là một điển hình trong số những nạn nhân xấu số của nạn đói đó
I Thân bài
1 Giới thiệu chung
- Tác phẩm “Vợ nhặt” được viết ngay sau Cách mạng với tên gọi “Xóm ngụ cư” Nhưng do thất lạc bản thảo nên sau khi hòa bình lập lại, tác giả đã viết lại thành
“Vợ nhặt” Điều thú vị trong sáng tác văn chương là trong cái “mất” của một tiểu thuyết mới viết đuộc 3 chương trong kháng chiến chống Pháp ấy lại là một cái
Trang 4“được” của một truyện ngắn nổi tiếng đã xếp Kim Lân vào hàng những nhà văn tên tuổi của của Việt Nam thế kỉ XX Một phần làm nên tên tuổi của KL chính là tài năng trong việc xây dựng nhân vật Tác phẩm có nhiều nhân vật nhưng nhân vật người “vợ nhặt” là nhân vật mang lại nhiều thương cảm nhất cho người đọc
2 Phân tích nhân vật
a Tên gọi, lai lịch
Đi suốt chiều dài của tác phẩm chúng ta không hề biết đến tên gọi của người đàn
bà Từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật này chỉ được gọi là “cô ả”, “thị”, “người đàn bà”, “nàng dâu mới”, “nhà tôi” Không phải là nhà văn nghèo ngôn ngữ đến mức không thể đặt cho Thị một cái tên mà có lẽ đây là một dụng ý của tác giả: Số phận của thị cũng giống như số phận của biết bao người phụ nữ khác trong cái nạn
đói ấy Một số phận nhỏ bé, bọt bèo,vô danh giống như một cái gì rơi vãi trên
đường đời Thị có khác nào một cánh bèo nổi trôi trong nạn đói Đó là một người đàn bà không rõ lai lịch, chẳng biết từ đâu xuất hiện, không có nguồn gốc sinh thành, không quê hương bản xứ, mọi thứ về Thị chỉ là một con số không tròn trĩnh Người đàn bà không quê hương, không bản quán, không có cả cái tên để gọi Cái đói đã dứt thị ra khỏi tổ ấm gia đình, xa quê hương bản quán, xua đi lag thang trên
những nẻo đường đói khát để rồi được Tràng nhặt về làm vợ (Thị bị cơn bão nạn đói thổi cho phiêu dạt đến miền đất này, cuộc sống lê la tháng ngày không biết đến ngày mai nếu như không có cái lần anh Tràng “hò một câu chơi cho đỡ nhọc” ấy.)
b Chân dung, ngoại hình
- Thị xuất hiện với ngoại hình không xinh đẹp, hấp dẫn Chân dung của Thị được Kim Lân điểm qua bằng vài chi tiết với “những nét không dễ nhìn” Đó là “một cô
gái ở quê ra tỉnh đi kiếm việc làm” “gầy vêu vao, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”,
“khuôn mặt lưỡi cày xám xịt” nổi bật với “hai con mắt trũng hoáy” hai con mắt
sáng lên khi gặp một lời mời ăn bánh đúc Bộ dạng ấy còn xuất hiện ngay trong
ngày đầu thị ra mắt mẹ chồng: “Thị cúi xuống tay vân vê tà áo đã rách bợt”Phải
chăng, sức tàn phá của nạn đói đã khiến Thị càng nhếch nhác, tội nghiệp lại càng tội nghiệp hơn nữa, nó đã làm cho người phụ nữ ấy trở nên thê thảm hơn bao giờ hết
c Tính cách
- Lúc mới gặp Tràng thị là người đàn bà đanh đá chua ngoa, táo bạo đến mức trơ trẽn Một lần Tràng đẩy xe bò thóc lên dốc tỉnh và hò một câu chơi cho đỡ nhọc
Muốn ăn cơm trắng mấy giò Lại đây mà đẩy xe bò với anh , nì
Giữa cái thời buổi người chết đói như ngả rạ ấy lấy đâu ra “cơm trắng mới giò” mà
ăn vậy mà người đàn bà nói năng rất cong cớn: “Này nhà tôi ơi nói thật hay nói khoác đấy” rồi ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng Lại còn liếc mắt cười tít với
Tràng như muốn lấy lòng
- Lần thứ hai gặp Tràng ở cổng chợ tỉnh , thái độ của người đàn bà vẫn chua ngoa đanh đá như thế Lúc ấy Tràng đang ngồi uống nước ở cổng chợ tỉnh thì thấy người
đàn bà ở đâu sầm sập chạy đến, sưng sỉa mắng vào mặt Tràng “Điêu, người thế mà điêu” Đó là thứ ngôn ngữ của một mụ đàn bà chua ngoa, đanh đá.Tràng mời
người đàn bà ăn giầu theo phép lịch sự tối thiểu, nhưng thị từ chối thẳng thừng:
Trang 5“Ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.” Thị gợi ý “sát sàn sạt” để được ăn Thấy có miếng ăn
hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên lấp lánh Được cho ăn, Thị sẵn sàng
“ngồi sà xuống, cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền, chẳng chuyện trò gì”.Thị hành động hoàn toàn theo bản năng để được ăn.
=> Chỉ bằng vài chi tiết Kim Lân đã cho ta thấy thân phận nghèo hèn của người đàn bà trong thời buổi đói kém triền miên Rõ ràng cái đói không chỉ tàn hại dung nhan của Thị mà còn tàn hại cả tính cách, nhân phẩm
+Vì đói mà Thị trở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “chua ngoa, đanh đá”
+ Vì đói mà thị “cong cớn”, “sưng sỉa” khi giao tiếp, nói chuyện
+ Vì đói mà sẵn sàng bất chấp cả thể diện, quên đi cả ý tứ, lòng tự trọng của người con gái Với Thị lúc đó miếng ăn để duy trì cuộc sống còn cao hơn nhân cách Rõ ràng sự xuất hiện của nhân vật ở những trang đầu tiên của truyện ngắn khó mà chiếm được cảm tình của người đọc dù ít nhiều ấn tượng
- Tuy nhiên là một nhà văn nhân đạo, Kim Lân đã phát hiện ra rằng ẩn sau cái vẻ
ngoài bất cần ấy Thị vẫn là một người con gái đầy “nữ tính và giàu khát vọng”
+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng của người đàn bà Kim Lân đã nhận thấy một lòng ham sống mãnh liệt Thì ra Thị bất chấp tất cả để được ăn, vì được ăn là được sống, được tồn tại Đó là ý thức bám lấy sự sống của bất cứ ai khi bị đẩy đến
bờ vực của sự chết đói
+ Trước nguy cơ chết đói, người đàn bà đồng ý theo không Tràng về làm vợ Khi anh cu Tràng vốn hay đùa, nói đùa “có muốn theo tớ về nhà thì ra khuân đồ lên xe rồi cùng về Thị không trả lời mà lặng lẽ theo Tràng về Thị đã gián tiếp đồng ý,
một sự đồng ý không hề có sự băn khoăn hay phân vân gì cả,.Có thể nói quyết định theo không Tràng là một quyết định liều lĩnh, bất ngờ Ngay đến Tràng cũng không
thể tin được “Tràng cũng tưởng nói đùa, ai ngờ Thị về thật” Chuyện dựng vợ gả
chồng vốn là việc trọng đại trong đời , với Thị lúc này lại trở nên dễ dàng và rẻ rúng hơn bao giờ hết Cái giá của người phụ nữ ít nhất cũng là
“Ba trăm một mụ đàn bà Mua về mà trải chiếu hoa cho ngồi”.
Ở đây, Thị đã “đại hạ giá” xuống còn bốn bát bánh đúc Chỉ có 4 bát bánh đúc mà chấp nhận theo không một người đàn ông chưa hề biết tên tuổi, gia cảnh quê quán Chỉ có 4 bát bánh đúc mà chấp nhận trao thân gửi phận cho một người con trai mới
chỉ ngỏ lời “ Làm đếch gì có vợ, nói đùa chứ có muốn theo tớ về nhà thì ra khuân
đồ lên xe rồi cùng về” Người đàn bà không giấu được tình cảnh đói khát và ước
mong chạy trốn cái đói của mình.Thị nào có biết Tràng là ai, tốt xấu như thế nào, quê quán, gốc tích ra sao? Ấy vậy mà vẫn chấp nhận về làm dâu Về làm dâu mà lễ lạt chi phí cho mọi thứ thủ tục cưới hỏi chỉ có 4 bát bánh đúc, chưa kể thái độ chủ động gặp Tràng vào bận thứ 2
+ Phải chăng hành động theo Tràng của Thị xuất phát từ lòng khao khát được sống Thị theo Tràng về là vì để được sống chứ không phải là loại đàn bà con gái lẳng lơ Kim Lân đã cho ta thấy một điều rằng khi đã cận kề cái chết, người đàn bà vẫn không hề buông xuôi sự sống Trái lại, Thị vẫn tìm mọi cách để bám lấy sự sống
Tinh thần lạc quan, khát vọng sống của Thị chính là một phẩm chất rất đáng
quý Nói như Kim Lân: "Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến
Trang 6những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai” Điều này đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ và lòng ham sống,
khát vọng sống vươn lên hướng đến ánh sáng ngày mai Tất cả những điều này đã mang đến cho người đọc cái nhìn đúng đắn về người vợ nhặt – nạn nhân của nạn đói năm 1945
+ Với quyết định theo không táo bạo, bất ngờ và liều lĩnh , người đàn bà hình như chưa hề chuẩn bị tâm thế từ một người con gái trở thành nàng dâu Từ chỗ chủ động, cong cớn sưng sỉa, đanh đá, đáo để thị bỗng nhiên thay đổi thành một người khác hẳn Kim Lân đã chú ý miêu tả những diến biến tâm lí khá phức tạp của của người vợ nhặt trên đường về cũng như khi mới về đến nhà
+ Trên đường về nhà chồng, trước những lời bông đùa, chòng ghẹo của người dân ngụ cư, nếu như anh cu Tràng sung sướng, tự mãn, cái mặt vênh lên tự đắc với
mình thì người đàn bà lại cảm thấy xấu hổ Thị lủi thủi bước theo Tràng, tay cắp cái thúng con, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt Ban trưa
lúc ngoài chợ thị tỏ ra cong cớn, sấn sổ biết bao nhiêu thì bây giờ thị lại có vẻ rón rén e thẹn bấy nhiêu Trước cái nhìn “săm soi” của mọi người Thị càng ngượng
nghịu, thiếu tự tin “chân nọ bước díu cả vào chân kia”.Có lẽ linh cảm của một
người phụ nữ đã mách bảo cho thị, thị ý thức được thân phận nghèo hèn của mình, thị xấu hổ vì tình cảnh theo không của mình Cho nên thị không thể cong cớn hay sưng sỉa Thấy mọi người bàn tán, thị có vẻ khó chịu, dôi lông mày nhíu lại, đưa tay xóc xóc lại tà áo Thị chỉ biết càu nhàu trong miệng, và lầm lũi đến mức đi nhầm đường Có lẽ thị mong sớm đến nhà chồng để tránh khỏi cái nhìn nhòm ngó của mọi người
-Khi chỉ còn lại hai người trên một quãng vắng, thị có những thay đổi thật đáng yêu Đây có lẽ là khoảnh khắc bừng sáng , trẻ trung nhất trong những ngày tăm tối
vì đói khát Nó thật đáng quý biết bao Nó chính là hạnh phúc giản dị, bình thường
mà cả Tràng và Thị đều cảm nhận được Dù chưa hề là tình yêu song giữa 2 con người đã có tình nghĩa Thị chia sẻ với Tràng khi biết anh mua hai hào dầu
“Hoang nó vừa vừa thôi chứ” Một sự tự nguyện nói lên điều thành thật khó nói
Nó cho thấy thị có trách nhiệm với đời sống gia đình Rồi thị thăm hỏi gia cảnh của Tràng, một điều có vẻ lạ lùng trong hoàn cảnh đầy oái oăm của nhân vật Nó cho thấy sự đồng cảm và đồng thuận Hình ảnh một người phụ nữ biết lo toan và chia
sẻ càng lúc càng hiện ra rõ hơn Ta không còn thấy ở đây hình ảnh táo tợn của người đàn bà đang cố tình chạy trốn cái đói
+ Về đến nhà Tràng, Thị đảo mắt nhìn chung quanh Khi nhìn thấy “ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, cái ngực gầy lép của thị nhô lên “nén một tiếng thở dài” Đây là tiếng thở dài ngao ngán, thất
vọng Một nỗi hụt hẫng của người con dâu khi trông thấy gia cảnh thực của nhà chồng cũng nghèo khó, không dư giả gì, thậm chí rất có thể cũng chẳng hơn gì cảnh ngộ của thị Có lẽ Thị cũng không ngờ cái phao mà Thị vừa bám vào lại là một chiếc phao rách Tuy nhiên tiếng thở dài cố nén cũng biểu thị sự chấp nhận
Trang 7Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày mai, vừa có cả những
lo toan và trách nhiệm của Thị về gia cảnh nhà chồng Phải chăng Thị đã ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình Tấm lòng của Thị thật đáng quý biết bao
Đến lúc này người đọc chợt nhận ra, bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, Thị
lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan và cũng giàu lòng tự trọng
- Vào trong nhà, Thị e thẹn, dè dặt Có lẽ thị lo sợ vì biết trong nhà còn có một người mẹ chồng, liệu thị có được chấp nhận chấp nhận làm con dâu trong lúc đói khát này không, cho nên thị chỉ có thể “ngồi mớm” vào mép giường, tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần Cái thế ngồi chông chênh ấy đã nói với ta về nỗi lo âu trong lòng người đàn bà
=> Kim Lân đã rất tinh tế khi miêu tả nét tâm lý, tính cách của Thị Nhà văn như lọt vào trong nỗi thẳm sâu tâm tư tình cảm ấy của người phụ nữ năm đói Ông như nhìn thấy cả nỗi tủi nhục của kiếp người, thấy cả trong bước chân liêu xiêu, bước díu vào nhau kia là cả tủi hờn, xấu hổ Cả tiếng thở dài não nuột kia cũng đáng để ông xót xa và mến yêu Thì ra, cái đói đã đẩy đưa Thị phải theo Tràng Cơn bão tố cuộc đời đã xô đẩy thân phận cùng cực ấy ngã vào đôi vai người đàn ông thô kệch Cũng chính Kim Lân đã thổi vào tâm hồn Thị niềm lạc quan ấy để Thị vững lòng cho một cuộc sống ngày mai
- Khi bà cụ Tứ về Thị ý tứ, cung kính, lễ phép chào bà bằng u và chào đến hai lần Nhưng thị vẫn rụt rè đứng nguyên chỗ cũ Tay vân vê tà áo đã rách bợt Thái độ rụt rè im lặng khi chờ đợi ý kiến của chấp thuận của bà cụ Tứ thể hiện sự lễ phép ,
ý tứ, giữ gìn đạo lý của người con dâu đối với mẹ chồng.Cũng như Tràng, phải chăng thi trông chờ vào sự mừng lòng của của bà mẹ Có như thế thị mới có thể hòa nhập vào gia đình mới của mình Chính thái độ ấy của người đàn bà đã khiến
bà cụ Tứ trái với sự dò xét thông thường của những bà mẹ chồng đã nhanh chóng chấp nhận thị
Sáng hôm sau, Thị đãtrở thành một con người hoàn toàn khác Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, sắp xếp lại nhà cửa.Có bàn tay của chị ngôi nhà của bà cụ
Tứ giờ đây như được hồi sinh Đống quần áo vẫn vắt khươm mươi niên đã được đem ra sân hong, cái ang nước khô cong được kín nước đầy ăm ắp, đống rác mùn tung bành ngay lối đi được hót sạch… Đến đây, người đọc dễ nhận thấy: bao nhiêu
vẻ “chỏng lỏn”, “sưng sỉa” của Thị trước kia không còn nữa Dường như Thị đã lột xác trở nên nữ tính hơn Ngay đến Tràng là một người vô tâm mà cũng nhận ra sự
thay đổi tuyệt vời ở thị “Tràng nom Thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn
bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh” Lúc này Tràng cảm thấy vợ mình đã thật sự thay đổi Chính sức
mạnh của tình yêu đã cảm hóa và làm thay đổi con người Thị
Trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới , dù chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn”, lại phải ăn cháo cám nhưng Thị vẫn vui vẻ,
bằng lòng Thị đã làm cho không khí gia đình ấm cúng, thân thương hơn bao giờ hết Thị chính là ngọn gió mát lành thổi vào cuộc sống của gia đình Tràng, thổi vào
cả tâm hồn người đàn ông phu xe cục mịch, thổi cả vào khuôn mặt “bủng beo u
Trang 8ám” của bà cụ Tứ để hôm nay trông bà “rạng rỡ hẳn lên” Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng Nghe tiếng trống thúc thuế, Thị
nói với mẹ chồng: "Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy" Sự hiểu biết này của Thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía
trước mà anh sẽ lựa chọn Qua đó, ta cảm thấy nhân vật vợ Tràng, "nàng dâu mới" cũng là Người truyền tin cách mạng
Có thể nói, người vợ nhặt được miêu tả ít, song đó lại là nhân vật không thể thiếu trong tác phẩm Thiếu Thị, Tràng vẫn chỉ là Tràng của ngày xưa; bà cụ Tứ vẫn lặng thầm trong đau khổ, cùng cực Chính Thị đã thổi một luồng sinh khí, một luồng gió mới vào cuộc sống tối tăm, nghèo khổ của Tràng, làm ngời sáng lên niềm tin vào cuộc sống Viết về sự đổi thay trong tâm tính của Thị, Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo Tình cảm nhân đạo của nhà văn thể hiện ở đây Chính vì thế, cả hai ý kiến nêu trên ta thấy đều đúng, xác đáng Thị nghèo khổ, cùng đường, liều lĩnh nhưng đáng thương hơn là đáng giận bởi đằng sau cái cùng đường liều lĩnh ấy là phẩm chất ham sống, giàu lòng tự trọng và khát vọng vượt lên thảm cảnh nạn đói để được sống cho một ánh sáng ngày mai
* Nhận xét đánh giá về nhân vật:
- Tóm lại, người vợ nhặt là một sáng tạo của Kim Lân Xây dựng nhân vật người
vợ nhặt , Kim Lân đã đặt nhân vật vào một hoàn cảnh đặc biệt, bị cái đói dồn đuổi đến đường cùng phải hạ mình làm vợ nhặt vợ theo, để qua đó thấy được sự thay đổi trong tính cách, tâm trạng của nhân vật thị Với cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn kết hợp với ngôn ngữ kể, tả mộc mạc, giản dị., nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật, kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật thị trong sự đối lập giữa hình thức bên ngoài và phẩm chất bên trong, giữa trước và sau khi về làm vợ Tràng
* Nhận xét đánh giá về giá trị nhân đạo của tác phẩm
- Qua nhân vật Thị ta thấy giá trị nhân đạo nhân đạo sâu sắc của ngòi bút Kim Lân + Nhà văn Kim Lân không chỉ đồng cảm sâu sắc với số phận cùng khổ của người nông dân nghèo Việt Nam trước cách mạng tháng Tám mà còn lến án tố cáo thực dân Pháp và Phát xít Nhật đã bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay gây nên nạn đói khủng khiếp này
+ Nhà văn cũng phát hiện, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của họ Đó là vẻ đẹp của lòng tự trọng, khát vọng sống mãnh liệt, luôn hướng về tương lai và không bao giờ mất đi niềm tin vào sự sống
+ Qua nhân vật Thị Kim Lân đã thể hiện niềm tin mãnh liệt vào bản chất lương thiện của con người
+ Cũng qua hình tượng nhân vật Thị, nhà văn khẳng định: dù trong tình huống bi thảm tới đâu, dù kề bên cái chết, con người vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng
về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống cho
ra người
+ Không dừng lại ở đó, Kim Lân đã chỉ ra cho những người nông dân giải pháp để vượt qua hoàn cảnh khốn cùng Đó chính là đấu tranh chống lại chế độ xã hội, đòi
Trang 9quyền con người, tự mình đi tìm tương lai cho chính mình! Đây cũng chính là chiều sâu tư tưởng nhân đạo của tác phẩm
III.Kết bài
Cuối cùng em xin mượn lời của nhà văn Nguyễn Khải để thay lời kết cho bài viết này Có lẽ, đây cũng chính là những gì mà bản thân Kim Lân thật sự muốn trải
lòng: “Trên đời không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có đủ sức mạnh để bước qua những ranh giới đó.”
* Giải thích:
– Nh n nh c a nhà v n – nhà tri t h c Denis Diderot ậ đị ủ ă ế ọ đề ậ đế c p n m t trong nh ng y u t quan ộ ữ ế ố
tr ng trong sáng t o ngh thu t: ng ọ ạ ệ ậ ườ i ngh s ph i có con m t tinh ệ ĩ ả ắ đờ i, th u áo ấ đ để phát hi n ra ệ
b n ch t cu c s ng trong tính a di n, a chi u T ó, ả ấ ộ ố đ ệ đ ề ừ đ để th y r ng trong nh ng s v t bình ấ ằ ữ ự ậ
th ườ ng s ti m tàng nh ng giá tr th m m sáng giá, trong nh ng con ng ẽ ề ữ ị ẩ ĩ ữ ườ i bình d s n ch a ị ẽ ẩ ứ
nh ng ph m ch t áng quí và ng ữ ẩ ấ đ ượ c l i, bên trong nh ng s v t, nh ng con ng ạ ữ ự ậ ữ ườ i, nh ng ữ đổ i
t ượ ng cao đẹ p, v ĩ đạ i là nh ng tính cách chân ph ữ ươ ng, bình d , g n g i, h p l nhân sinh… ị ầ ũ ợ ẽ
– ây c ng chính là nh ng giá tr Đ ũ ữ ị độ đ c áo, m i m , sâu s c mà tác ph m v n h c mang ớ ẻ ắ ẩ ă ọ đế n cho con ng ườ i trong quá trình ti p nh n ế ậ
Bàn luận – Chứng minh:
– V n h c tái hi n ă ọ ệ đờ ố i s ng nh ng là quá trình tái hi n có ch n l c và luôn òi h i nhà v n ph i có ư ệ ọ ọ đ ỏ ă ả
nh ng phát hi n m i m , ữ ệ ớ ẻ độ đ c áo, khác l ạ đố ớ i v i các s v t, hi n t ự ậ ệ ượ ng, con ng ườ i trong t nhiên ự
và đờ ố i s ng xã h i; ộ đồ ng th i ph i có cái nhìn nhân b n, toàn di n ờ ả ả ệ đế n t ng ngõ ngách bên trong ừ
c a ủ đố ượ i t ng Phát hi n ra “cái phi th ệ ườ ng” trong “c i bình th ả ườ ng” và ng ượ ạ c l i chính là làm cho tác ph m tr nên sâu s c, toàn di n, thú v h n ẩ ở ắ ệ ị ơ đồ ng th i th hi n d u n ờ ể ệ ấ ấ độ đ c áo và m i m ớ ẻ Dẫn chứng:
– Nhà v n Ngô T t T t T trong ti u thuy t ă ấ ấ ố ể ế Tắt đèn ã phát hi n ra ngu n s c m nh ti m tàng và đ ệ ồ ứ ạ ề
vô cùng mãnh li t n sâu bên trong ch D u, m t ng ệ ẩ ị ậ ộ ườ ợ i v th ươ ng ch ng, m t ng ồ ộ ườ i m yêu con ẹ
n tân jcungf, ã s n sàng v t qua n i s hãi, qu t c ng ch ng l i c ng quy n ác bá b o v
ch ng con Có th nói, ó là phát hi n ồ ể đ ệ đẹ đẽ p nh t, d ng c m nh t c a các nhà v n Vi t nam th k ấ ũ ả ấ ủ ă ệ ế ỉ
20 Nó kì v nh m t b c t ĩ ư ộ ứ ượ ng ài t c vào l ch s , là m u m c đ ạ ị ử ẫ ự để các nhà v n th h sau t hào ă ế ệ ự
và làm theo.
– Trong truy n ng n ệ ắ Lão Hạc, nhà v n Nam Cao ã nhìn th y m t tình yêu th ă đ ấ ộ ươ ng con đế n phi
th ườ ng c a Lão h c, m t lão nông nghèo kh ủ ạ ộ ổ Ở đ ó còn có đứ c hi sinh vô h n c a con ng ạ ủ ườ đ i ã không còn ngh gì ĩ đế n b n thân mình Lão H c dù bi t r t rõ con trai lão không có c h i ả ạ ế ấ ơ ộ để ở ề tr v
v i lão nh ng lão v n gi v ng ni m tin thánh thi n y và làm m i i u t t ớ ư ẫ ữ ữ ề ệ ấ ọ đ ề ố đẹ p có th dành cho ể ngày tr v c a con ở ề ủ
– Nguy n Minh Châu trong ễ Chiếc thuyền ngoài xa ã phát hi n ra m t v đ ệ ộ ẻ đẹ p phi th ườ ng n gi u ẩ ấ trong ng ườ đ i àn bà hàng chài x u xí và c nh c V ấ ơ ụ ẻ đẹ ấ p y, m t khi ộ đượ c phát hi n, nó làm cho ệ
h a s Phùng, chánh án ọ ĩ Đẩ u ph i kinh ng c, s ng s và thêm tin t ả ạ ữ ờ ưở ng vào s c m nh c a lòng t t, ứ ạ ủ ố
c hi sinh c a con ng i.
– N u v n h c ch nh n th c ế ă ọ ỉ ậ ứ đờ ố i s ng m t kì v phi th ở ặ ĩ ườ ng, tác ph m s sa vào l i tô h ng cu c ẩ ẽ ố ồ ộ
s ng ho c nhà v n ch nhìn cu c s ng khía c nh xù xì, t m th ố ặ ă ỉ ộ ố ở ạ ầ ườ ng, th p hèn s làm cho tác ấ ẽ
ph m b méo mó, xa ròi b n ch t, quy lu t cu c s ng ẩ ị ả ấ ậ ộ ố
Trang 10– Nhìn ph ở ươ ng di n khác, ó chính là kh n ng ph n ánh cu c s ng m t cách sâu s c chân th c ệ đ ả ă ả ộ ố ộ ắ ự
b i cu c s ng a chi u, ph c t p, n u nhà v n ch nhìn b ng ôi m t ở ộ ố đ ề ứ ạ ế ă ỉ ằ đ ắ đơ n gi n h i h t m t chi u thì ả ờ ợ ộ ề
s tr nên nông c n, thi u khái quát, thi u chi u sâu ẽ ở ạ ế ế ề
– Trong tác ph m ôi m t, nhà v n Nam Cao qua nhân v t Hoàng ã phát bi u m nh m quan ẩ Đ ắ ă ậ đ ể ạ ẽ
i m y Nhà v n Hoàng luôn gi m t ôi m t phi n dienj, thi n c n, nhìn i l ch l c và thi u thi n
c m B i th , anh ch nhìn th y nh ng cái h i h t, t m th ả ở ế ỉ ấ ữ ờ ợ ầ ườ ng đế đ n áng ghét c a nh ng ng ủ ữ ườ i nông dân hi n lành, ch t phác mà thôi V ề ấ ẻ đẹ ẩ p n sau bên trong tâm h n c a h ã không ồ ủ ọ đ đượ c nhìn nh n, không ậ đượ c trân tr ng ọ
Đánh giá, mở rộng vấn đề bàn luận:
– Dù có cái nhìn toàn di n, ệ độ đ c áo đế đ n âu v i nh ng cái phi th ớ ữ ườ ng – cái bình th ườ ng trong cu c ộ
s ng thì giá tr c a tác ph m v n ph i th hi n qua tính chân th c c a s ph n ánh; qua nh ng tình ố ị ủ ẩ ẫ ả ể ệ ự ủ ự ả ữ
c m nhân ả đạ o, nh ng giá tr cao ữ ị đẹ p mà nhà v n h ă ướ ng t i ớ
– Để ả c m nh n tr n v n v ậ ọ ẹ ẻ đẹ p c a cái phi th ủ ườ ng – cái bình th ườ ng trong v n h c ă ọ đồ ng th i có ờ
nh ng suy ng m, chiêm nghi m sâu s c, ng ữ ẫ ệ ắ ườ đọ i c ph i có chi u sâu trong suy ngh và tình c m, ả ề ĩ ả
có tâm h n h ồ ướ ng thi n, luôn khát v ng h ệ ọ ướ ng đế n nh ng giá tr chân – thi n – m trong cu c ữ ị ệ ĩ ộ đờ i. Trong văn chương có những niềm hạnh phúc trong nỗi đau tột cùng mà chỉ người nghệ sĩ mới hiểu được Sáng tạo ra cái mới chính là kết quả của sự công phu và tài năng, nó tạo sức mạnh cho người nghệ sĩ chiến thắng quy luật băng hoại của thời gian Văn chương cũng như các loại hình nghệ thuật khác đều đòi hỏi rất cao sự sáng tạo Cùng cắm rễ từ cuộc sống, lẽ nào các tác phẩm đều giống nhau, mang đến cho người đọc một tình cảm chung chung Không, mỗi tác giả đều sẽ có một điểm nhìn riêng, một cái nhìn mang đậm tính sáng tạo của người viết Đúng như
Đi-đô-rốt nói: “Nghệ thuật là ở chỗ tìm ra cái phi thường trong cái bình thường và cái bình thường trong cái phi thường” Độc Tiểu Thanh kí là một minh chứng tiêu
biểu cho nhận định trên
Câu nói trên thật xác đáng “cái phi thường” chính là những điều vượt trội, là những điều có thể còn được ẩn giấu, không phải ai cũng có đủ sự nhạy bén, tinh tế
để nhận ra Còn “cái bình thường” là điều cơ bản, là cốt lõi tạo dựng nên những giá trị trong cuộc sống nói chung và văn chương nói riêng Câu nói trên của nhà văn Pháp một lần nữa khẳng định yêu cầu mang tính bắt buộc của mỗi nhà văn, nhà thơ: Đã là người cầm bút, đòi hỏi anh phải có đôi mắt tinh tường để thấu hiểu hết được những sự việc, hiện tượng rất đỗi bình thường của cuộc sống nhưng người nghệ sĩ hơn những người bình thường ở chỗ biết tìm ra những hiện tượng đặc sắc
có thể nói lên rõ rệt bản chất của hiện thực Bên cạnh đó cũng không được bỏ quên những giá trị căn bản là cốt lõi của cuộc sống
Cái bình thường và cái bình thường trong cái phi thường chính là khả năng phát hiện, phản ánh đời sống – Hiện thực đời sống vốn vô cùng phong phú, đa dạng Do vậy cái mới, cái độc đáo trong phong cách của người sáng tác phải thể hiện ơ sự tìm tòi cái mới về nghệ thuật cũng như nội dung Nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Hiện thực cuộc sống là kho đề tài vô tận để người nghệ sĩ khám phá, phát hiện, nhưng đối với mỗi cây bút, nó lại được chiếu rọi dưới một