TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI BÁO CÁO MÔN HỌC Đề tài Tìm hiểu các phương pháp đo và chụp chiếu tim và phổi Giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Thanh Hường Trường Môn học Điện – Điện tử , tài liệu A plus aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
BÁO CÁO MÔN HỌC
Đề tài: Tìm hiểu các phương pháp đo và
chụp chiếu tim và phổi
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thanh Hường
Trang 2Với công nghệ khoa học phát triển, chúng ta không ngừng nghiên cứu và phát triển để nâng cao sức khỏe con người Trong số đó, việc con người nghiên cứu và phát minh ra các phương pháp đo và chụp chiếu tim, phổi mới được coi làmột trong những bước tiến lớn cho nền y tế cũng như góp phần rất lớn cho việc nâng cao sức khỏe cho con người.
Ở đề tài này, chúng em đã tổng hơjp và liệu kê các phương pháp mà con người đã
và đang sử dụng để đo, chụp chiếu tim, phổi Do kiến thức về y học còn hạn chế, việc tiếp cận với tài liệu y học còn khó nên rất mong cô thông cảm nếu chúng em
có gì sai sót trong khi thực hiện đề tài
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TIM VÀ PHỔI
1 Giới thiệu về tim.
Tim là bộ phận quan trọng trong hệ tuần hoàn của động vật, với chức năngbơm đều đặn để đẩy máu theo các động mạch và đem dưỡng khí và các chất dinhdưỡng đến toàn bộ cơ thể, đồng thời loại bỏ các chất thải trong quá trình trao đổichất
Trong cơ thể người, động vật có vú và các loài chim, tim được chia thànhbốn phần: tâm nhĩ trái và tâm nhĩ phải ở nửa trên; tâm thất trái và tâm thất phải ởnửa dưới Thường tâm nhĩ phải và tâm thất phải được gộp vào gọi là nửa bênphải và phần kia được gọi là nửa bên trái của tim Tim cá có hai ngăn, một tâmnhĩ và một tâm thất, trong khi tim các loài bò sát có ba ngăn Máu chảy qua timtheo một chiều do van tim ngăn máu chảy ngược Tim được bao bọc trong mộttúi bảo vệ, gọi là màng ngoài tim có chứa một lượng nhỏ chất bôi trơn Tim đượccấu tạo thành ba lớp: thượng tâm vị, cơ tim và màng trong của tim
Hình 1: Cấu tạo của tim
Tim bơm máu thông qua cả hai hệ thống tuần hoàn Máu có nồng độ oxythấp từ hệ tuần hoàn đi vào tâm nhĩ phải từ tĩnh mạch chủ trên và dưới và đi đếntâm thất phải Từ đây máu được bơm vào hệ tuần hoàn phổi, tại đó máu nhậnđược oxy và thải ra carbon dioxit Máu được tăng cường oxy trở về tâm nhĩ trái,
đi qua tâm thất trái và được đẩy ra thông qua các động mạch chủ vào hệ tuầnhoàn máu, nơi oxy được sử dụng và chuyển hóa thành carbon dioxit Ngoài ramáu mang dưỡng chất từ gan và hệ tiêu hóa đến các cơ quan khác nhau của cơthể, đồng thời vận chuyển chất thải đến gan và thận.[cần dẫn nguồn] Thôngthường với mỗi nhịp tim đập, tâm thất phải bơm cùng một lượng máu vào phổinhư các tâm thất trái đẩy máu vào cơ thể Tĩnh mạch vận chuyển máu đến tim,trong khi động mạch đẩy máu ra khỏi tim Tĩnh mạch thường có áp lực thấp hơn
so với động mạch Tim co bóp với tốc độ khoảng 72 nhịp mỗi phút khi ở trạng
5
Trang 6thái nghỉ Tập thể dục làm tăng nhịp tim tạm thời, nhưng làm giảm nhịp tim nghỉngơi về lâu dài - điều này là tốt cho sức khỏe tim mạch.
2 Giới thiệu về phổi.
Phổi là một bộ phận trong cơ thể với vai trò chính yếu là trao đổi các khí đem oxy từ không khí vào tĩnh mạch phổi, và dioxide cacbon từ động mạch phổi
-ra ngoài Ngoài -ra phổi cũng có một số khả năng thứ yếu khác, giúp chuyển hóamột vài chất sinh hóa, lọc một số độc tố trong máu Phổi cũng là một nơi lưu trữmáu
Hình 2: Hình họa phổi
Trong con người, phổi gồm có hai buồng phổi nằm bên trong lồng ngực,được bao bọc bởi các xương sườn chung quanh, phía dưới có cơ hoành ngăn giữaphổi và các cơ quan trong bụng như gan, dạ dày, lá lách Giữa hai buồng phổi làkhí quản (1) - là ống dẫn khí chính Khí quản phân ra hai nhánh phế quản chính(2) (3) Quả tim nằm giữa hai phổi (trung thất), hơi trệch về bên trái
Buồng phổi bên trái có 2 thùy (trái-trên (5a), trái-dưới (5b)), bên phải có 3thùy (phải-trên (4a), phải-giữa (4b) và phải-dưới (4c)) Mỗi buồng phổi có mộtphế quản chính, một động mạch (8) và hai tĩnh mạch - những ống dẫn này chianhư nhánh cây chi chít từ lớn ở giữa ngực (trung thất) đến cực nhỏ phía ngoàicùng của buồng phổi - kèm theo là các dây thần kinh và mạch bạch huyết
Những ống dẫn khí lớn hơn như khí quản và phế quản lớn được nhiềuvành sụn giữ cho cứng và có ít cơ trơn Bên trong các ống có lát màng tế bàotiêm mao và một lớp màng nhầy mỏng trên các tế bào này Chất nhầy giữ bụi, hạtphấn và các chất bẩn khác Qua chuyển động của tiêm mao, chất bẩn bám theo
6
Trang 7màng nhầy được đẩy lên và đưa vào thực quản nuốt xuống dạ dày theo nướcmiếng.
7
Trang 8CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO VÀ CHỤP CHIẾU TIM
Có nhiều phương pháp hiện có để đánh giá chức năng tim Một số trong sốnày không xâm lấn (ví dụ, nghe tim thai để đánh giá chức năng van, điện tâm đồ
để đánh giá các đặc điểm điện và các kỹ thuật hình ảnh khác nhau để đánh giáhoạt động bơm cơ học) và những kỹ thuật khác yêu cầu một số thiết bị xâm lấn.Chương này cung cấp tổng quan ngắn gọn về một số công cụ lâm sàng thườngđược sử dụng này
2.1 Kỹ thuật hình ảnh.
Các công cụ mới và kỹ thuật đo lường với các mức độ nhạy và độ phângiải khác nhau đã được sử dụng rộng rãi để xác định các thông số vật lý của tim.Các công cụ như PET,CT,MRI,… này đã được triển khai in vivo với độ phân giảiđến centimet (Hình 3)
Hình 3: Độ phân giải và độ sâu trường ảnh (thâm nhập) của một số phương thức hình ảnh hiện tại được minh họa và so sánh Lưu ý rằng độ phân giải giảm khi độ sâu tăng lên, các phương thức hiển thị như CT và MRI thích hợp để chụp ảnh toàn bộ các cơ quan và hệ thống in vivo trong khi các phương thức có độ phân giải cao hơn phù hợp nhất cho hình ảnh ex vivo và in vitro của các cấu trúc nhỏ hơn ở cấp độ tế bào và dưới
tế bào Thường thì hai hoặc nhiều phương thức được sử dụng song song để có được sự
hiểu biết đầy đủ về một hệ thống hoặc bệnh lý.
Trang 91 Siêu âm tim.
Hình 4: Máy siêu âm tim
Siêu âm tim là kỹ thuật chụp tim được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay Kỹ
thuật không xâm lấn này dựa trên thực tế là các sóng âm thanh phản xạ trở lạinguồn phát khi gặp phải những thay đổi đột ngột về mật độ của môi trường màchúng truyền qua Một đầu dò, được đặt tại các vị trí xác định trên ngực, tạo racác xung sóng siêu âm và phát hiện các sóng phản xạ dội lại từ các giao diện môtim
Hình 5: Sử dụng đầu dò của máy siêu âm.
Các sóng siêu âm bị lệch được đầu dò thu thập và số hóa thành hình ảnhthời gian thực để tiết lộ thông tin cấu trúc Các mô dày đặc hơn sẽ làm lệchhướng sóng siêu âm nhiều hơn và sẽ được thể hiện trên hình ảnh với một điểmảnh sáng hơn Siêu âm tim có thể được sử dụng để xây dựng hình ảnh phẳng của
Trang 10tim, thể tích 3D và khi được sử dụng kết hợp với Doppler, đo các mô hình dòngchảy trong tim) Các phép đo này sử dụng dải tần số siêu âm từ 2 đến 18 MHz,với thiết bị 10 MHz tiêu chuẩn tạo ra độ phân giải dọc 150 µm với tốc độ khunghình từ 15 đến 40 khung hình / giây, do đó cho phép phát hiện chuyển động Tần
số cao hơn dẫn đến tăng độ phân giải không gian; tuy nhiên, độ sâu của sự thâmnhập giảm khi tần số cao hơn Siêu âm Doppler là một loại hình ảnh siêu âm tiết
lộ thông tin về dòng chảy của máu trong các buồng tim Trong quá trình chụp ảnhsiêu âm Doppler, sóng siêu âm tấn công các tế bào máu đang chuyển động vàđược phản xạ trở lại đầu dò Tần số của sóng quay trở lại được điều chỉnh bởihướng và vận tốc của dòng máu theo Hiệu ứng Doppler
Hình 6: Hình ảnh thu được qua máy siêu âm
Siêu âm tim là một công cụ quan trọng trong việc đánh giá bất thườngchuyển động thành ở những bệnh nhân nghi ngờ bệnh tim Nó là một công cụgiúp chẩn đoán sớm nhồi máu cơ tim cho thấy bất thường chuyển động thànhvùng của tim Ngoài ra, điều quan trọng là điều trị và theo dõi ở bệnh nhân suytim , bằng cách đánh giá phân suất tống máu Siêu âm tim có thể giúp phát hiệncác bệnh cơ tim , chẳng hạn như bệnh cơ tim phì đại , bệnh cơ tim giãn, và nhiềubệnh khác
Đối tượng cần siêu âm tim:
Thông thường, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện kỹ thuật siêu âm tim đối vớinhững bệnh nhân có xuất hiện các triệu chứng về tim hoặc mạch máu như: loạnnhịp tim, tăng huyết áp, khó thở, đau thắt ngực, khó thở… Bên cạnh đó, nhữngbệnh nhân khi phát hiện ra những dấu hiệu bất thường về tim mạch thông qua cácxét nghiệm khác như: chụp x-quang phổi thấy bóng tim to, nghe thấy tiếng timbất thường bằng ống nghe… cũng sẽ được chỉ định thực hiện siêu âm tim đểkiểm tra tình trạng tim mạch một cách kỹ lưỡng hơn
Ngoài ra, nếu bạn đang gặp phải các biểu hiện nghi ngờ liên quan đến timcũng nên nhanh chóng đến các cơ sở y tế để được thực hiện siêu âm tim kịp thời.Bao gồm:
• Chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, đau thắt vùng ngực
Trang 11• Cảm thấy khó thở, nhịp tim không ổn định, đập loạn nhịp lúc nhanh lúcchậm Đặc biệt khi làm việc nặng tim đập nhanh, hụt hơi, thở khó khăn,nôn ói.
• Xuất hiện các triệu chứng của bệnh thiếu máu cơ tim như: đau cánh tay,đau vùng vai trái, đau lưng, đau cổ hay hàm
Ưu – nhược điểm của siêu âm tim
Ưu điểm:
- Siêu âm tim được xem là một khảo sát y học thường quy quan trọng.Những hình ảnh được từ quá trình siêu âm là cơ sở vững chắc, giúpcác bác sĩ đưa ra chẩn đoán bệnh lý chính xác và hiệu quả
- Kỹ thuật siêu âm tim ngày càng hiện đại Nếu như siêu âm 3D (siêu
âm 3 chiều) có khả năng tái tạo lại dữ liệu thu nhận được từ sóng âmthành hình ảnh 3 chiều rõ nét, chi tiết thì siêu âm 4D (siêu âm 4 chiều)
có thêm khả năng ghi nhận thêm sự chuyển động Đây là cơ sở quantrọng giúp ích rất nhiều cho các bác sĩ lâm sàng trong việc điều trị
- Siêu âm tim là phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn,không gây đau, không có biến chứng Cụ thể, siêu âm tim sử dụngsóng siêu âm thay vì tia phóng xạ ion hóa như chụp X-quang, nên antoàn và không gây tổn hại đến sức khỏe người bệnh ngay cả khi thựchiện nhiều lần
Hạn chế:
Bên cạnh những ưu điểm kể trên, kỹ thuật siêu âm tim cũng tồn tại một sốhạn chế như:
- Sau khi thực hiện siêu âm tim qua thực quản, cổ họng của bạn có thể
sẽ bị đau Tuy nhiên, hiếm trường hợp ống siêu âm gây xước cổ họng
từ bên trong
- Trong quá trình thực hiện siêu âm cần gây mê, người bệnh có thể sẽgặp phải một số vấn đề về hô hấp do thuốc an thần hoặc lượng oxy hítthở
- Do gắng sức, hoặc sử dụng thuốc trong siêu âm tim gắng sức có thểgây loạn nhịp tim tạm thời Một số người xuất hiện các vấn đề về tănghoặc giảm huyết áp
- Đối với trường hợp có gắn các điện cực theo dõi điện tim, người bệnh
sẽ có cảm giác hơi khó chịu khi bác sĩ tháo bỏ lớp băng dính gắn cácđiện cực trên ngực ra
2 Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Chụp cộng hưởng từ (MRI) là một kỹ thuật Chẩn đoán hình ảnh hiện đại
trong y học sử dụng từ trường và sóng radio để đánh giá tổn thương của các cấutim như: màng tim, cơ tim, các buồng tim, các van tim, hệ thống động Mạchvành tim Hình ảnh từ MRI có độ tương phản cao, chi tiết giải phẫu tốt cho phép
Trang 12phát hiện được các tổn thương về mặt hình thái, chức năng của tim (tưới máu cơtim, đặc tính mô, động mạch vành).
Hình 7: Máy chụp cộng hưởng từ
Hình ảnh cộng hưởng từ hình ảnh trái tim bằng cách phát hiện các nguyên
tử hydro bằng cách sử dụng nam châm siêu dẫn , đặc biệt là những nam châmgắn với nước và phân tử chất béo Những nguyên tử hydro này có một đặc tínhđược gọi là spin hạt nhân Mặc dù hướng của vòng quay này thường là ngẫunhiên, vòng quay có thể được căn chỉnh bằng cách sử dụng một từ trường mạnh.Các tín hiệu điện từ yếu ớt được phát ra bởi các nguyên tử hydro này khi sự liênkết của chúng tạm thời bị xáo trộn, có thể được phát hiện và sử dụng để tạo rahình ảnh của tim
MRI được sử dụng để tạo ra hình ảnh giải phẫu 3D có độ phân giải cao để
đo độ dày thành tim (và mạch) ở cả mô khỏe mạnh và mô bệnh Có thể thu đượccác hình ảnh đơn lẻ theo thứ tự 20–200 ms Để có được tất cả các hình ảnh mongmuốn trong một nghiên cứu thường cần ~ 30 phút Phương pháp không xâm lấnnày có thể được sử dụng để đo độ dày hoặc teo của vách do bệnh tật cũng nhưnhững thay đổi cấu trúc sau khi điều trị Phép đo thời gian giãn dọc tuyệt đối của
mô nước-proton ( 1 H) (T 1 , thời gian giãn tính bằng giây) cho phép xác địnhnhồi máu cơ tim cấp tính Bản đồ tham số được tạo ra bởi sự phù hợp voxel-by-voxel của T1 (hoặc R1 (≡1 / T 1 )) cung cấp một công cụ để đo mức độ và vị trícủa ổ nhồi máu Thuốc thử cản quang ngoại sinh, không chiếu xạ cung cấp mộtcông cụ cho các bác sĩ nghiên cứu cấu trúc và tính toàn vẹn của mạch máu dựatrên mô hình dược động học về tính thấm MRI tăng cường độ tương phản có thểphát hiện nhiều chi tiết hình thái hơn so với MRI tiêu chuẩn, với giới hạn pháthiện dự kiến lần lượt là khoảng 0,3 cm 2 (2 × 2 pixel) và 0,5 cm 2 (3 × 4 pixel).Thuốc thử cản quang dựa trên gadolinium được dùng theo đường tĩnh mạch đượcbiết là thoát mạch thoáng qua từ máu vào kẽ Mô hình dược động học của tốc độthoát mạch đo định lượng tính thấm thành mạch ( 15 - 18) Hơn nữa, sự hấp thuthuốc thử cản quang vào mô là dấu hiệu của các quá trình có hại như sẹo, nhồimáu hoặc hoại tử Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc đo lường sự tăng
Trang 13cường tín hiệu MRI trong tim sau nhồi máu cơ tim cho phép dự đoán khả năngtồn tại của mô và khả năng phục hồi tổng thể
Hình 8: Hình ảnh MRI tim
MRI có thể đo kích thước, hình dạng, chức năng và đặc điểm mô của timtrong một phiên duy nhất Nó có khả năng tái tạo cao hơn siêu âm tim với ít biếnthiên giữa các quan sát viên hơn, cho phép tạo ra phạm vi tham chiếu chính xáchơn để phân biệt tốt hơn tình trạng sức khỏe với bệnh tật Các lợi ích bổ sung từMRI tim bao gồm khả năng phát hiện sẹo trong tim bằng cách tăng cườnggadolinium muộn và xác định các bất thường khác của chính cơ tim như thâmnhiễm sắt hoặc protein amyloid
Nhược điểm của MRI bao gồm các giao thức dài dòng và khả năng mắcchứng sợ sợ hãi Hơn nữa, không thể thực hiện quét MRI ở một số người cấyghép kim loại như một số loại máy tạo nhịp tim , máy khử rung tim , mặc dùnhiều máy tạo nhịp tim hiện đại an toàn để sử dụng trong máy quét MRI Các cấutrúc kim loại khác như van nhân tạo và stent mạch vành nói chung không có vấn
đề gì
Sự phát triển gần đây trong học sâu và các kỹ thuật mạng nơ-ron tích tụ đãcho phép phân tích và định lượng một số khía cạnh của MRI tim một cách tựđộng Việc sử dụng MRI tim được dự đoán sẽ tăng lên nhờ có nhiều máy quéthơn và kiến thức rộng rãi hơn về ứng dụng lâm sàng của nó
Hiện nay, chụp cộng hưởng từ tim mạch được chỉ định trong các trườnghợp:
• Bệnh tim bẩm sinh để đánh giá bất thường về luồng thông, giải phẫu
• Bệnh lý cơ tim như: Viêm cơ tim, cơ tim giãn nở hoặc cơ tim phì đại, lắngđọng sắt trong cơ tim, cơ tim kết bè
• Bệnh lý mạch vành: Đánh giá chức năng và khả năng vận động của thấttrái, đặc biệt đánh giá tính sống còn của cơ tim trong nhồi máu cấp và mãntính mà các phương pháp khảo sát khác còn hạn chế;
• Khảo sát các vùng nhồi máu và xơ hóa của cơ tim
• Bệnh lý màng ngoài tim, mạch máu;
• Bệnh lý ở van tim;
Trang 14• U tim nguyên phát hoặc thứ phát: MRI cung cấp các hình ảnh về tính chấtkhối u, nhờ đó mà bác sĩ chẩn đoán, xác định và đánh giá được mức độxâm lấn của khối u;
• Bệnh chuyển hóa cơ tim - Spectroscopy
3 Chụp cắt lớp vi tính (CT)
Chụp CT tim được thực hiện để có kiến thức về giải phẫu tim hoặc mạchvành Theo truyền thống, chụp CT tim được sử dụng để phát hiện, chẩn đoánhoặc theo dõi bệnh động mạch vành Gần đây, CT đã đóng một vai trò quan trọngtrong lĩnh vực phát triển nhanh chóng của can thiệp cấu trúc tim bằng máy xuyên, cụ thể hơn là trong việc sửa chữa và thay thế van tim bằng máy xuyên Hìnhảnh CT tạo ra hình ảnh giải phẫu 3D bằng cách sử dụng hình ảnh X-quang vàtính toán nâng cao Độ phân giải tạm thời của CT là từ 100–300 ms; tổng thờigian quét khác nhau tùy thuộc vào việc sử dụng chất cản quang và số lần quétđược thực hiện Độ phân giải không gian của CT là 1–5 mm
Các hình thức chụp CT tim chính là:
Chụp CT mạch vành (CCTA): Chụp CT mạch vành (CTA hoặc CCTA) là việc
sử dụng chụp cắt lớp vi tính (CT) động mạch để đánh giá các động mạch vànhcủa tim Bệnh nhân được tiêm chất điều khiển vô tuyến vào tĩnh mạch và sau đótim được quét bằng máy quét CT tốc độ cao, cho phép các bác sĩ đánh giá mức
độ tắc nghẽn trong động mạch vành , thường là để chẩn đoán bệnh động mạchvành
Hình 9: Hình ảnh chụp CT mạch vành nguồn kép tăng cường độ tương phản
CTA ưu việt hơn CT canxi mạch vành trong việc xác định nguy cơ biến cốtim mạch có hại (MACE)
Chụp CT canxi mạch vành : là phương pháp chụp cắt lớp vi tính (CT) tim để
đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh động mạch vành Cụ thể, nó tìm kiếmcặn canxi trong động mạch vành có thể thu hẹp động mạch và tăng nguy cơ đautim Mức độ nghiêm trọng này có thể được biểu thị dưới dạng điểm Agatstonhoặc điểm canxi động mạch vành (CAC) Điểm CAC là một dấu hiệu độc lập vềnguy cơ biến cố tim, tử vong do tim và tử vong do mọi nguyên nhân
Trang 15Hình 10: Điểm canxi cụ thể của tổn thương
Ngoài ra, nó cung cấp thêm thông tin tiên lượng cho các dấu hiệu nguy cơtim mạch khác Các chướng ngại vật có thể xuất hiện ngay cả khi điểm Agatstonbằng 0, đặc biệt là ở những bệnh nhân nhỏ tuổi Chụp cắt lớp CT canxi mạchvành điển hình được thực hiện mà không cần sử dụng sóng radio , nhưng nó cũng
có thể được thực hiện từ các hình ảnh tăng cường chất cản quang, chẳng hạn nhưtrong chụp CT mạch vành
Đối tượng chỉ định chụp CT tim:
• Người có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch, động mạch vành như:
- Mắc các bệnh lý mãn tính: tăng huyết áp, đái tháo đường
- Hút thuốc lá nhiều, rối loạn lipid máu (mỡ máu cao)
- Có các triệu chứng đau ngực (ngày càng nhiều)
- Có yếu tố di truyền
• Bị suy tim không xác định được nguyên nhân
• Đã từng phẫu thuật bắc cầu động mạch vành
• Đã từng đặt stent thông lòng mạch
4 Chụp cắt lớp phát xạ Positron (PET).
PET tim (hay chụp cắt lớp phát xạ positron tim ) là một hình thức chẩnđoán hình ảnh trong đó đánh giá sự hiện diện của bệnh tim bằng cách sử dụngmáy quét PET
Trang 16Hình 11: Máy quét PET
PET là một kỹ thuật hình ảnh y tế hạt nhân Chất đánh dấu hạt nhân phóng
xạ phát positron (thường được tiêm tĩnh mạch hoặc qua đường hô hấp) gián tiếpphát ra tia gamma mà sau đó được phát hiện theo cặp để tạo ra hình ảnh 3D.Động năng của positron và độ phân giải không gian của mỗi máy dò giới hạn độphân giải không gian của hình ảnh PET ở người là 1–2 mm Bởi vì chất đánh dấuđược gắn vào một phân tử hoạt động sinh học, hình ảnh PET đại diện cho mộtquá trình sinh học (thường là trao đổi chất) trong cơ thể Để tạo ra hình ảnh giảiphẫu, PET phải được sử dụng kết hợp với MRI hoặc CT vì chất đánh dấu là phân
tử tín hiệu Hầu hết các máy quét hiện đại thu được hình ảnh CT và PET trongcùng một phiên PET để chụp ảnh chức năng (chuyển hóa) và CT để chụp ảnhgiải phẫu và hình thái học Dữ liệu PET sau đó được phủ lên dữ liệu CT để xácđịnh ý nghĩa chức năng thông qua tốc độ trao đổi chất ở vị trí quan tâm
Trong khi 18 F-fluorodeoxyglucose là chất phóng xạ phổ biến nhất trong các xétnghiệm PET, nhiều loại chất đánh dấu đã được phát triển để phát hiện các mảng
xơ vữa động mạch không ổn định và để đo sự tưới máu và chuyển hóa cơ tim.Mặc dù hiện tại không được bán trên thị trường, nhưng việc phát triển máy quétPET-MRI là một lĩnh vực nghiên cứu tích cực và đầy hứa hẹn
Chụp tim PET có thể đánh giá chính xác cả lưu lượng máu và sự trao đổichất Ở những bệnh nhân bị tắc nghẽn, chụp PET tim có thể ảnh hưởng đến sựlựa chọn giữa phẫu thuật bắc cầu và nong mạch Quan trọng hơn, nó có thể được
sử dụng để dự đoán liệu chức năng tim bị suy nhược có thể cải thiện sau khi táithông mạch hay không
Đối tượng chỉ định chụp PET tim:
• Bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp , cholesterol cao ,hút thuốc lá, đái tháo đường , béo phì , nghề nghiệp căng thẳng cao, tiền
sử gia đình bị nhồi máu cơ tim
• Bệnh nhân không thể tập thể dục
• Bệnh nhân nghi bị đau tim
• Bệnh nhân mới được chẩn đoán suy tim
Trang 17• Bệnh nhân có điện tâm đồ bất thường hoặc máy chạy bộ.
Thông thường, chụp PET được kết hợp với chụp CT hoặc MRI để pháthuy tối đa các lợi thế về kỹ thuật
5 Chụp hoặc quét tưới máu cơ tim(còn được gọi là MPI hoặc MPS).
Chụp hoặc quét tưới máu cơ tim là một quy trình y học hạt nhân minh họachức năng của cơ tim
Nó đánh giá nhiều tình trạng bệnh tim, chẳng hạn như bệnh động mạch vành(CAD), bệnh cơ tim phì đại và các bất thường về chuyển động của thành tim Nócũng có thể phát hiện các vùng nhồi máu cơ tim bằng cách hiển thị các vùnggiảm tưới máu khi nghỉ ngơi Chức năng của cơ tim cũng được đánh giá bằngcách tính phân suất tống máu thất trái (LVEF) của tim Quá trình quét này đượcthực hiện cùng với một bài kiểm tra sức căng của tim Thông tin chẩn đoán đượctạo ra bằng cách kích thích thiếu máu cục bộ vùng có kiểm soát ở tim với tướimáu thay đổi
Kỹ thuật phẳng, chẳng hạn như xạ hình thông thường , hiếm khi được sửdụng Thay vào đó, chụp cắt lớp vi tính phát xạ đơn photon (SPECT) phổ biếnhơn Với các hệ thống SPECT đa đầu, hình ảnh thường có thể được hoàn thànhtrong vòng chưa đầy 10 phút Với SPECT, có thể xác định được các bất thườngphía dưới và phía sau và các vùng nhỏ của nhồi máu, cũng như các mạch máu bịtắc và khối cơ tim bị nhồi máu và có thể sống được Các đồng vị thông thườngcho các nghiên cứu như vậy là Thallium-201 hoặc Technetium-99m
Hình 12: Quét tưới máu cơ tim
Chụp cắt lớp vi tính phát xạ đơn photon ( SPECT, hoặc ít phổ biến hơn
là SPET) là một kỹ thuật chụp ảnh chụp cắt lớp vi tính y học hạt nhân sử dụng tiagamma Nó rất giống với hình ảnh phẳng trong y học hạt nhân thông thường sửdụng máy ảnh gamma (tức là xạ hình),nhưng có thể cung cấp thông tin 3D thực
sự Thông tin này thường được trình bày dưới dạng các lát cắt ngang qua bệnhnhân, nhưng có thể được định dạng lại hoặc thao tác một cách tự do theo yêu cầu