Chủ trương của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữađấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao giữa những năm 19681973 của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và suy nghĩ của bảnthân về việc giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam trong bối cảnhquan hệ quốc tế phức tạp hiện nay
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH -***** -
BÀI THI MÔN: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Hình thức thi: Tiểu luận
Thời gian thi: 3 ngày
Đề 02: Chủ trương của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao giữa những năm
1968-1973 của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và suy nghĩ của bản thân về việc giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp hiện nay
Họ và tên: Phạm Dư Cẩm Nhung Mã sinh viên: 2173403010239 Khóa/Lớp:(Tín chỉ) 59/20.05+06LT2 (Niên chế): 59/20.06
Ngày thi: 17/04/2022 Ca thi: 9h15
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
Phần 1: Chủ trương của đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao những năm 1968-1973 của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ 2
1.1 Bối cảnh lịch sử Đảng ta đề ra đường lối kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao 2
1.1.1 Tình hình thế giới 2
1.1.2 Tình hình trong nước 2
1.2 Mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao 3
1.3 Chủ trương của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao những năm 1968-1973 của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ 4
1.4 Bài học kinh nghiệm 6
Phần 2: Liên hệ thực tiễn về việc giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao ở Việt Nam trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp hiện nay 6
2.1 Bối cảnh quốc tế và Việt Nam hiện nay 6
2.2 Giải quyết mối quan hệ giữa quân sự và ngoại giao trong tình hình hiện nay 7
2.3 Nhận thức của bản thân về vấn đề này 9
KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU Một đất nước hòa bình, phát triển là một đất nước đã phải đánh đổi, hi sinh và mất mát bao nhiêu tính mạng, của cải từ chiến tranh Nhân dân ta đã trải qua biết bao chặng đường khổ cực, gian nan, hàng triệu người đã ngã xuống để dành được hòa bình, độc lập, xã hội văn minh như ngày hôm nay Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, ông cha ta luôn biết kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao, vừa đánh vừa đàm để kết thúc chiến tranh, điều đó trở thành một nghệ thuật quân sự của dân tộc Hai mặt trận đấu tranh này tưởng chừng như riêng lẻ nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau và đều
có mục tiêu chung là giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã sáng suốt đề ra chủ trương, đường lối chiến thuật hợp tình hợp lý trong mỗi giai đoạn khác nhau của đất nước để hợp nhất mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao Đặc biệt trong giai đoạn kháng chiến cứu nước năm
1968-1973, đất nước ta đã phải chiến đấu với kẻ thù hùng mạnh, tàn bạo là đế quốc
Mỹ nhưng cuối cùng Đảng và nhân dân ta đã dành được thắng lợi hoàn toàn
Từ sự thành công và kết quả lịch sử đạt được này càng khiến cho ta suy ngẫm
về tầm quan trọng và sự gắn bó mật thiết giữa đấu tranh quân sự và ngoại giao trong những năm kháng chiến và ngay cả ở bối cảnh hiện nay khi mà ngoại giao đang có sự diễn biến phức tạp, Đảng và dân ta phải cân bằng mối quan hệ ngoại giao giữa anh em, bạn bè, và thù Xây dựng đất nước trong thời bình càng đòi hỏi sâu sắc hơn nữa mối quan hệ ngoại giao và quốc phòng an ninh giữa với các nước trên thị trường quốc tế Xuất phát từ tính bức thiết và những lý do trên nên em đã chọn đề tài: “Chủ trương của Đảng trong việc giải quyết mối quan
hệ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao những năm 1968-1973 của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và suy nghĩ của bản thân về việc giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp hiện nay”
Trang 4NỘI DUNG Phần 1: Chủ trương của đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao những năm 1968-1973 của cuộc
kháng chiến chống đế quốc Mỹ 1.1 Bối cảnh lịch sử Đảng ta đề ra đường lối kết hợp đấu tranh quân sự
và ngoại giao
1.1.1 Tình hình thế giới
Giai đoạn nước ta tiến hành chống Mỹ cứu nước nói chung và giai đoạn miền Bắc đấu tranh chống chiến tranh phá hoại nói riêng (1964 - 1973) là giai đoạn cách mạng thế giới đang ở thế tiến công Các phong trào cách mạng trên thế giới diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu Điều đó tạo ra nhiều thuận lợi cho Cách mạng Việt Nam Nhưng bên cạnh đó bất đồng giữa Liên Xô
và Trung Quốc ngày càng trở nên gay gắt và không có lợi cho Cách mạng Việt Nam
1.1.2 Tình hình trong nước
Trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ có nhiều thuận lợi cho Đảng và nhân dân
ta kháng chiến, từng bước đẩy lùi đế quốc Mỹ Thứ nhất, đến cuối năm 1967, cuộc “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ đạt đến đỉnh cao, số quân viễn chinh đổ bộ vào miền Nam lên đến 48 vạn, mọi thủ đoạn và biện pháp chiến tranh đều được
sử dụng Thế nhưng, đế quốc Mỹ vẫn không thực hiện được các mục tiêu chính trị và quân sự đã đề ra Mặt khác, thất bại ở Việt Nam làm cho tình hình nước
Mỹ ngày càng bất ổn, phong trào phản đối chiến tranh, đòi rút quân Mỹ về nước ngày càng lan rộng trong các tầng lớp nhân dân
Thứ hai, sau bốn năm thực hiện chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, hậu phương lớn miền Bắc đã đạt được những thành tích đáng tự hào trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chi viện tiền tuyến lớn miền Nam Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đó thì cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ vẫn còn gặp một số khó khăn Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo các hoạt động quân sự năm 1968 đã có biểu hiện chủ quan trong việc đánh giá tình hình,
Trang 5đề ra yêu cầu chưa sát với thực tế Đặc biệt sau đợt tấn công trong Tết Mậu Thân, ta đã không kiểm điểm, rút kinh nghiệm kịp thời, không đánh giá đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch cũng như âm mưu đối phó của chúng mà lại chủ trương tiếp tục mở các đợt tiến công vào đô thị khi không còn điều kiện
và yếu tố bất ngờ “là sai lầm về chỉ đạo chiến lược” [3, tr.312] Điều đó đã tạo lợi thế cho địch phản kích quyết liệt, đẩy chủ lực ta ra xa khỏi các thành thị, các vùng ven, vùng đồng bằng, tiến hành bình định trên quy mô lớn, đồng thời triển khai hàng loạt biện pháp nhằm triệt phá cơ sở cách mạng miền Nam Cách mạng miền Nam lâm vào thời kỳ khó khăn nghiêm trọng do bị tổn thất lớn về lực lượng và thế trận [6, tr.219]
1.2 Mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao
Trong một cuộc chiến tranh thường bao gồm sự đấu tranh trên rất nhiều mặt trận giữa hai lực lượng tham chiến như quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao Đấu tranh trên mặt trận quân sự là sự chiến đấu giữa hai bên bằng việc sử dụng vũ lực, vũ khí với việc tham chiến của quân đội Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là sự gặp gỡ, giải quyết những vấn đề vướng mắc, cần giải quyết thông qua trao đổi, toạ đàm, hội nghị giữa hai đoàn ngoại giao của của hai bên nhằm đạt được những thoả thuận chung Giữa hai lĩnh vực đấu tranh này có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau và góp phần quan trọng vào công cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Vì chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những gì mà chúng ta đã giành được trên chiến trường [2, tr.174] Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người nói: “Bây giờ nội trong nước ta cứ đánh cho thắng, thì ngoại giao dễ làm ăn” [5, tr.61] Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao có tác dụng cụ thể hoá những chiến thắng quân sự và qua đấu tranh ngoại giao mà tranh thủ chiếm lấy sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế tạo lợi thế cho đấu tranh quân sự Kết quả của đấu tranh ngoại giao là phản ánh kết quả của đấu tranh quân sự, tuy nhiên kết quả đó có được phát huy để giành lấy những điều khoản có lợi trên bàn đàm phán hay không còn phụ thuộc vào nghệ thuật ngoại giao
Trang 61.3 Chủ trương của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao những năm 1968-1973 của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ
Trước những thành công vang dội trên chiến trường của quân ta, Đảng ta chủ trương: “Cùng với các mũi tiến công quân sự và chính trị, cần mở thêm mặt trận tiến công ngoại giao, nhằm lên án, vạch trần thủ đoạn hòa bình kiểu lừa bịp của đế quốc Mỹ; đề cao tính chính nghĩa, thế tất thắng và lập trường hợp tình, hợp lý của ta” Từ thực tiễn cuộc kháng chiến tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc kết hợp chính trị quân sự và ngoại giao với nhau Trong giai đoạn các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế có những khó khăn, Trung ương Đảng đã rất sáng suốt, kiên định đường lối độc lập, tự chủ, kiên trì trao đổi, tranh thủ sự ủng hộ của các nước bạn bè Tính chính nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã đặt nền tảng quan trọng giúp tranh thủ được tình cảm của nhân dân tiến bộ trên thế giới Nhờ phối hợp chặt chẽ giữa cuộc chiến đấu trên chiến trường với cuộc đấu tranh trên trường quốc tế đặc biệt là trong lòng nước Mỹ quân dân ta đã từng bước giành được thắng lợi to lớn, buộc quân Mỹ phải xuống thang chiến tranh ở miền Nam, từng bước rút quân chiến đấu về nước và chấm dứt ném bom đánh phá miền Bắc không điều kiện
Mặc dù vậy, Mỹ vẫn triển khai thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” thay cho chiến lược “chiến tranh cục bộ”, mở rộng chiến tranh xâm lược sang Cam-pu-chia và Lào Chính vì thế, yêu cầu tăng cường đấu tranh cả ba quân
sự, chính trị, ngoại giao trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi và trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Năm 1971-1972, quân và dân miền Nam cùng quân dân hai nước Campuchia và Lào đã giành được thắng lợi rất to lớn trên chiến trường Đông Dương Đặc biệt, bằng chiến thắng đường số 9-Nam Lào, quân và dân miền Nam đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ-nguỵ trong chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” Bên cạnh đó quân đội
ta đã đối phó có hiệu quả cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mỹ đặc biệt
là đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương trên miền Bắc vào cuối tháng 12
Trang 7năm 1972 Về chính trị, ngoại giao, ta đã đấu tranh và vạch trần âm mưu của
Mỹ, lôi kéo một số nước trong phe xã hội chủ nghĩa Đồng thời, ta đẩy mạnh tuyên truyền về cuộc kháng chiến chính nghĩa, hướng dư luận quốc tế vào lên
án Mỹ âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh, sử dụng máy bay ném bom chiến lược và ném bom rải thảm xuống giữa thủ đô Hà Nội một cách tàn bạo, có tính hủy diệt Ta cũng lợi dụng năm 1972 là năm bầu cử tổng thống Mỹ để tranh thủ
dư luận, gây sức ép buộc chính quyền Mỹ phải sớm ký kết hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương
Cơ chế và cục diện “vừa đánh vừa đàm” được mở ra từ sau khi Hội nghị Pa-ri diễn ra đã phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, đã từng bước đánh thắng kẻ thù và buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận thương lượng và ký kết theo những điều kiện của ta Hiệp định Pa-ri là kết quả của một chặng đường lịch sử kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, trong đó đấu tranh ngoại giao đóng vai trò quan trọng, thiết yếu Trong giai đoạn sau khi ký Hiệp định Pa-ri, để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, Đảng ta vẫn khẳng định chỉ có thể bằng con đường sử dụng bạo lực cách mạng theo hai khả năng: hoặc là giành thắng lợi bằng một cao trào cách mạng của quần chúng hoặc là lại tiến hành chiến tranh cách mạng để tiến lên giành toàn thắng Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, họp từ 19-6 đến 6-7-1973 (đợt 1), cho rằng, tình hình cách mạng
“có thể diễn ra dưới hình thức chuyển từ phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định lên thành một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong vùng địch còn kiểm soát Đây là khả năng giành thắng lợi không phải thông qua con đường chiến tranh cách mạng mà chủ yếu bằng phong trào đấu tranh cách mạng, bằng hành động bạo lực của quần chúng, nhưng cũng phải trên cơ sở ta giữ vững và củng cố được thế quân sự của ta ngày càng mạnh, biết dùng sức mạnh quân sự của ta kết hợp chính trị với quân sự và ngoại giao để dằn địch lại, không
để cho chúng mở rộng xung đột quân sự để gây lại chiến tranh” Báo cáo nhấn mạnh: “Trong quá trình tiến lên của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới thì phương châm đấu tranh của ta phải là đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao; kết hợp ba mũi chính trị, quân sự và binh
Trang 8vận, nắm vững phương châm ba vùng, để giành dân và giành quyền làm chủ” [1]
1.4 Bài học kinh nghiệm
Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã trôi qua hàng chục năm, song những bài học thành công của nó luôn có giá trị thời sự sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, trong đó có việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao
Thứ nhất, thắng lợi to lớn đó cho thấy giá trị lâu dài của việc kết hợp nhuần nhuyễn thế trận quân sự, quốc phòng của đất nước với mặt trận ngoại giao Mặt trận ngoại giao đã góp phần giữ vững thành quả trên chiến trường bằng những cam kết công khai của đối phương, làm rạng danh chiến thắng và nhận được sự ủng hộ to lớn về vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế đồng thời trực tiếp góp phần vào thắng lợi và chi viện cho chiến trường
Thứ hai, cuộc tiến công chiến lược Tết Mậu Thân và đàm phán Pa-ri thể hiện tầm quan trọng của việc theo dõi, nhận định, đánh giá một cách nhạy bén tình hình thế giới, khu vực cũng như tương quan lực lượng của ta Qua đó tìm ra quy luật, kịp thời điều chỉnh chủ trương phù hợp với thực tiễn, luôn hành động đúng quy luật thì sẽ tránh được những khuyết điểm và giành được thắng lợi trọn vẹn
Phần 2: Liên hệ thực tiễn về việc giải quyết mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao ở Việt Nam trong bối cảnh quan hệ quốc
tế phức tạp hiện nay 2.1 Bối cảnh quốc tế và Việt Nam hiện nay
Ngày nay, đất nước chúng ta đang trong thời kỳ hòa bình, có môi trường chính trị ổn định nhưng vẫn còn đó những nguy cơ bất ổn Biển Đông là một trong những vùng biển chiến lược quan trọng nhất trên thế giới với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, trữ lượng dầu mỏ, khí đốt dồi dào, tập trung nhiều tuyến giao thông hàng hải quốc tế quan trọng Chính vì lẽ đó mà nhiều nước lăm le, muốn xâm chiếm biển Đông đặc biệt là hàng xóm láng giềng của chúng ta:
Trang 9Trung Quốc Hiện nay tình hình chiến sự ở Ukraine đã thu hút sự chú ý của nhiều nước trên thế giới, điều đó có thể dẫn đến sự lơ là về vấn đề biển Đông Trước tình hình đó Trung Quốc có thể sẽ tìm cách để gia tăng vị trí và ảnh hưởng của họ ở biển Đông Tính từ đầu năm đến nay, Trung Quốc đã tiến hành hoặc lên kế hoạch ít nhất 19 cuộc tập trận ở Biển Đông và trong năm ngoái, Trung Quốc được cho là đã tiến hành ít nhất 51 cuộc tập trận ở Biển Đông trong đó có ít nhất 20 cuộc tập trận ở vịnh Bắc bộ và ít nhất 1 cuộc tập trận trái phép ở quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam [8]
Tình hình quốc tế cũng ngày càng phức tạp điển hình Dịch bệnh Covid 19 kéo dài đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều lĩnh vực của các quốc gia Bên cạnh đó, chiến sự tại Ukraine dẫn tới xung đột giữa Mỹ, các nước châu Âu
và Nga ngày càng leo thang căng thẳng Các nhà chính trị cho rằng khả năng của cả hai nhà lãnh đạo Mỹ và Liên Xô rất quan trọng để tránh sự đối đầu quân
sự xảy ra và tránh chiến tranh toàn cầu nổ ra Bởi nếu xảy ra chiến tranh sẽ có những hậu quả hết sức nặng nề với tất cả các quốc gia, nhất là những quốc gia
ở vị trí chiến lược như Việt Nam
2.2 Giải quyết mối quan hệ giữa quân sự và ngoại giao trong tình hình hiện nay
Trong 5 - 10 năm tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, nhanh chóng, với nhiều biến động lớn, khó có thể dự đoán Điều đó tác động mạnh
mẽ về nhiều mặt đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước ta Các thách thức có thể cam go hơn, song Việt Nam cũng đứng trước nhiều cơ hội mới Trong bối cảnh đó, sự lãnh đạo của Đảng cùng với thế và lực của đất nước sau 35 năm đổi mới là nhân tố quyết định để thực hiện thành công các mục tiêu đối ngoại Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định nguyên tắc nền tảng và tư tưởng chỉ đạo của đối ngoại thời kỳ Đổi mới là: “Hoàn thiện và nhận thức sâu sắc hơn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc
Trang 10trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; chú trọng nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế trong tình hình mới” [4, tr.42] Hiện nay ngoại giao cùng các binh chủng đối ngoại đã “đi đầu trong kiến tạo hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và thu hút nguồn lực cho phát triển đất nước” [7] và nâng cao vị thế quốc gia Thông qua mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ngoại giao về quốc phòng nước ta đã ngày càng củng cố độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như giữ vững môi trường hòa bình, ổn địnhphục vụ phát triển đất nước
Trong bối cảnh hiện nay, hợp tác quốc phòng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực đồng thời cũng là một yếu tố quan trọng để thực hiện các mục tiêu quốc phòng của Việt Nam Chính vì vậy, quân đội nhân dân Việt Nam chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả các mối quan hệ quốc phòng song phương đồng thời tích cực tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc phòng đa phương Việt Nam đẩy mạnh quan hệ đối ngoại quốc phòng dưới mọi hình thức như trao đổi đoàn quân sự các cấp, tham vấn - đối thoại quốc phòng, tham gia các diễn đàn khu vực và quốc tế nhằm tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột Các lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước là trao đổi các đoàn quân sự, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm; hợp tác huấn luyện, đào tạo, giải quyết các vấn đề nhân đạo
Hội nhập quốc tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước thông qua phát huy các lợi thế, tạo tiền đề vật chất cho tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh Đồng thời, mở cửa, hội nhập quốc tế tạo sự hiểu biết, sự gắn kết và ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế, đầu tư, thương mại, hạn chế nguy cơ chiến tranh Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập quốc tế đặt ra khả năng và yêu cầu khách quan liên kết các quốc gia trong các thể chế khu vực và toàn cầu Chủ động hội nhập quốc tế theo yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường, sự tham gia có trách nhiệm vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, bên cạnh mở rộng quan hệ kinh
tế và ngoại giao song phương, còn góp phần củng cố thế và lực của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc