1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Improving Agricultural Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1)

99 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1) Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1) Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1) Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1) Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1) Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1) Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1) Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1)Improving-Agricultural-Interventions-Under-the-New-National-Target-Programs-in-Vietnam (1) National-Target-Programs-in-Vietnam (1) National-Target-Programs-in-Vietnam (1) National-Target-Programs-in-Vietnam (1) National-Target-Programs-in-Vietnam (1) National-Target-Programs-in-Vietnam (1)

Trang 1

CẢI THIỆN CÁC CAN THIỆP NÔNG NGHIỆP TRONG CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA MỚI Ở VIỆT NAM

Trang 2

Washington DC 20433

Telephone: 202-473-1000

Internet: www.worldbank.org

Một số quyền được bảo lưu

Báo cáo này là sản phẩm của các cán bộ thuộc Ngân hang Thế Giới Các kết quả tìm hiểu, các giải thích và kết luận đưa ra trong báo cáo này không phản ánh quan điểm chính thức của Ban Giám đốc điều hành Ngân hàng Thế giới hoặc các chính phủ mà họ đại diện Ngân hàng Thế giới không đảm bảo tính chính xác của các dữ liệu trong báo cáo này Đường biên giới, màu sắc, tên gọi và các thông tin khác biểu hiện trên các bản đồ trong báo cáo này không hàm ý bất kỳ đánh giá nào của Ngân hàng Thế giới về vị thế pháp lý của bất kỳ vùng lãnh thổ nào

và cũng không thể hiện bất kỳ sự ủng hộ hay chấp nhận nào của Ngân hàng Thế giới về các đường biên giới đó

Bản quyền và Sự cho phép

Các tài liệu trong báo cáo này có bản quyền Vì Ngân hàng Thế giới khuyến khích phổ biến kiến thức nên một phần hoặc toàn bộ ấn phẩm này có thể được sao chép lại cho các mục đích phi thương mại miễn là có sự ghi nhận đầy đủ đối với ấn phẩm này

Ghi nhận – vui lòng trích dẫn tựa đề của báo cáo như sau “Ngân hàng Thế giới 2020 Việt Nam: Cải thiện các can thiệp nông nghiệp trong chương trình mục tiêu quốc gia mới của Việt Nam © Ngân hàng Thế giới” Tất cả các câu hỏi liên quan đến bản quyền và giấy phép phải được gửi về Văn phòng Vụ xuất bản, Ngân hàng Thế giới, 1818 H Street NW, Washington, DC 20433, USA; fax: 202-522-2652; e-mail: pubrights@worldbank.org

Trang 3

TRONG CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA MỚI Ở VIỆT NAM

Tháng 6, 2020

Trang 4

Lời cảm ơn .2

Tóm tắt .3

1 Lời giới thiệu 12

2 Hiệu quả Nông nghiệp Việt Nam: Tổng hợp Phân tích Khu vực .21

3 Thu hẹp khoảng cách năng suất trong nông nghiệp – Phân tích các chuỗi giá trị tiềm năng vì người nghèo 39

4 Kết luận và Khuyến nghị .73

Trích dẫn .87

Phụ lục .89

Trang 5

3R3G Công nghệ Ba Giảm, Ba Tăng

CDRA Đánh giá rủi ro thiên tai và khí hậu

HACCP Phân tích mối nguy và các điểm kiểm soát trọng yếu

ICIMOD Trung tâm quốc tế về phát triển vùng núi tích hợp

IPSARD Viện chiến lược và chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn

Trang 6

dân tộc thiểu số

Trang 7

Lời cảm ơn

Công trình phân tích cũng như báo cáo khuyến nghị nhằm cải thiện sự tham gia của lĩnh vực nông nghiệp trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia mới của Việt nam được thực hiện bởi tiến sỹ Hardwick Tchale (Chuyên gia kinh tế nông nghiệp cao cấp, NHTG tại Việt Nam), tiến sỹ Obert Pimhidzai (Chuyên gia kinh tế cao cấp, NHTG tại Việt Nam), và tiến sỹ Carolina V Figueroa-Geron (Chuyên gia trưởng về Phát triển Nông thôn, NHTG tại Philippine)

Báo cáo này nhận được ý kiến đóng góp từ những đồng nghiệp sau: Jan Joost Nijhoff (Chuyên gia kinh tế nông nghiệp cao cấp, NHTG tại Indonesia), Martin Henry Lenihan (Chuyên gia phát triển xã hội cao cấp, NHTG tại Việt Nam), and Elliot Mghenyi (Chuyên gia kinh tế nông nghiệp cao cấp, NHTG tại Nigeria) Ngoài ra, nhóm tác giả còn nhận được tư vấn từ các đồng nghiệp Paavo Eliste (Chuyên gia trưởng về kinh tế nông nghiệp, NHTG tại Trung Quốc), Cao Thăng Bình (Chuyên gia nông nghiệp cao cấp, NHTG tại Việt Nam), Nguyễn Quý Nghị (Chuyên gia phát triển xã hội cao cấp, NHTG tại Việt Nam), và Ahmed A R Eiweida (Trưởng ban phát triển bền vững, Chuyên gia đô thị trưởng, NHTG tại Việt Nam)

Nhóm tác giả làm việc chặt chẽ với nhiều tư vấn và nhóm tư vấn trong suốt quá trình thực hiện phân tích

và báo cáo này Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp quý báu từ Abhinav Kumar Gupta (Tư vấn về chuỗi giá trị và kinh tế nông nghiệp), Douglas Forno (Tư vấn về thể chế), Claude Saint-Pierre (Tư vấn về phát triển xã hội); nhóm chuyên gia từ Viện chiến lược chính sách về phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn (IPSARD) gồm Trần Công Thắng (Viện trưởng), Trương Thị Thu Trang, Nguyễn Lê Hoa, Nguyễn Thị Thủy, Nguyễn Thúy Nga, Phạm Kiều Hạnh, Phạm Minh Trí; và nhóm chuyên gia từ Trung tâm phát triển kinh tế nông thôn (CRED) gồm Viên Kim Cương, Hoàng Thu Hương, Trần Như Trang, Nguyễn Lâm Giang và Thái Huyền Nga.Những nghiên cứu nền tảng cho báo cáo được thực hiện với sự hỗ trợ tài chính từ Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Úc thông qua Chương trình hợp tác chiến lược giai đoạn 2 giữa NHTG và Chính phủ Úc tại Việt Nam (ABP2) Báo cáo được thực hiện dưới sự chỉ đạo và dẫn dắt của bà Dina Umali-Deininger (Giám Đốc phụ trách Nông nghiệp của NHTG tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương), bà Susan Shen (Giám Đốc phụ trách Phát triển Xã hội của NHTG khu vực Châu Á Thái Bình Dương), và bà Rinku Murgai (Giám Đốc phụ trách Bình đẳng và Nghèo đói của NHTG tại khu vực Nam Á)

Trang 8

Tóm Tắt

Mục tiêu và Đối tượng chính của báo cáo

Mục tiêu chính của công trình phân tích này là mang lại những khuyến nghị nhằm cải thiện sự tham gia của một số hoạt động nông nghiệp trong các Chương trình Mục tiêu Quốc gia (NTP) Phân tích và các khuyến nghị trên cơ sở đó muốn cung cấp thông tin cho việc thiết kế và thực hiện hai trong số các chương trình NTP mới Đầu tiên là chương trình NTP mới tập chung vào nhóm dân tộc thiểu số, đang được thiết kế bởi Ủy ban Dân tộc phối hợp với các bộ ngành liên quan như Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD) Chương trình NTP này sẽ tập chung vào vấn đề phát triển kinh tế xã hội cho vùng miền núi và dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2021 - 2030 Thứ hai, một vài khuyến nghị ở đây đặc biệt là những khuyến nghị liên quan đến phát triển chuỗi giá trị, lập kế hoạch và quản lý, cũng liên quan đến chương trình NTP mới cho Phát triển Nông thôn mới (NRD) đang được thiết kế và việc thực hiện sẽ tiếp tục được điều hành bởi Văn phòng Điều phối Quốc gia trực thuộc MARD phối hợp với các địa phương.1 Báo cáo cuối cùng sẽ được trình lên CEMA và MARD để cung cấp thiết kế kỹ thuật chi tiết và kế hoạch thực hiện của một loạt các tiểu chương trình dưới cả chương trình NTP mới về dân tộc thiểu số và NRD

Báo cáo này tập chung vào vấn đề cải thiện thu nhập trong nông nghiệp như một lối thoát nghèo cho những vùng còn khó khăn ở Việt Nam Những nghiên cứu trước đây của NHTG (World Bank, 2019a, b) đã tập chung vào cải thiện việc tiếp cận các cơ hội ngoài trang trại ở những vùng còn khó khăn do mở rộng thu nhập ngoài trang trại cũng là một giải pháp quan trọng trong nỗ lực giảm nghèo Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại sự cách biệt lớn trong thu nhập nông nghiệp giữa các vùng cũng như giữa những người nghèo và không nghèo trong cùng một vùng Điều này cho thấy sự chuyển đổi nông nghiệp vẫn chưa thực sự hoàn tất và vẫn còn những cơ hội chưa được mở ra để cải thiện hơn nữa nguồn thu nhập từ nông nghiệp cho người nghèo Báo cáo này vì thế tập chung vào việc thu hẹp khoảng cách trong nông nghiệp cũng như mở ra một lối thoát nghèo khác Mặc dù Việt Nam đã trở thành một nhà tham gia quốc tế lớn trong thị trường lương thực toàn cầu, nhưng vẫn còn một bộ phận dân cư ở vùng nông thôn chưa được hưởng lợi nhiều từ thành quả của đất nước trong lĩnh vực tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là thảnh công từ lĩnh vực nông nghiệp Tuy nhiên, cách tiếp cận cũ nhằm tối đa hóa năng suất nông nghiệp không hoàn toàn phù hợp với phân khúc này do những đặc điểm riêng và thách thức về hạn chế năng suất Điều này có nghĩa là chiến lược phát triển nông nghiệp nay nên chuyển sang hướng hội nhập những nhà sản xuất và khu vực còn nghèo, đối mặt với những thách thức lớn về năng suất, tập chung vào chuỗi giá trị chuyên biệt mà họ có lợi thế so sánh Mặc dù các chương trình NTPs gần đây là một bước đi đúng hướng trong các hoạt động nông nghiệp tham gia, nhưng vẫn cần có những thay đổi về việc đầu

tư vào kỹ năng và năng lực tổ chức của chính những người nông dân, ưu tiên lồng ghép vào chuỗi giá trị sản phầm thích hợp, cân bằng kinh tế với các mối quan tâm về môi trường và xã hội, thúc đẩy giám sát đánh giá minh bạch và cân bằng nhu cầu quản lý từ trên xuống với cách tiếp cận linh hoạt có sự tham gia của người dân Mặc dù báo cáo này được bắt đầu khi đại dịch COVID-19 chưa thực sự bùng phát ở Việt Nam và trên toàn cầu—mới chỉ nhen nhóm của Trung Quốc—đại dịch cũng đã có những ảnh hưởng đáng kể với nền kinh tế quốc gia cũng như hoạt động của ngành nông nghiệp Đại dịch đã làm gián đoạn nhiều hoạt động kinh tế, bao

1 NHTG thông qua hoạt động của Chương trình dựa trên kết quả NTP (PforR) đã hỗ trợ thực hiện ba chương trình NTP kể từ năm 2017: NTP cho NRD, Giảm nghèo Bền vững (SPR), và P135 (là tiền thân của NTP mới về Phát triển kinh tế xã hội cho các vùng dân tộc thiểu số và miền núi (SEDEMA) Hỗ trợ PforR sẽ kết thúc vào cuối năm 2021

Trang 9

gồm hiệu suất của chuỗi cung ứng thực phẩm thông qua sự gián đoạn của dòng chảy hàng hóa, những hạn chế về di chuyển và các biện pháp dãn cách xã hội ảnh hưởng đến việc huy động nguồn nhân lực và sự sẵn

có của đầu vào nông nghiệp do gián đoạn nguồn cung hợp đồng Tất cả những vấn đề này có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất trong vụ sản xuất tiếp theo, theo cả quan điểm thị trường cung và cầu Việc thực hiện các khuyến nghị được nêu trong báo cáo này có thể giúp củng cố các chiến lược hồi phục kinh tế hậu COVID-19 Với lợi thế so sánh to lớn và khả năng tăng sản lượng, Việt Nam, với tư cách là nước xuất khẩu thực phẩm ròng, có thể tận dụng sự gián đoạn toàn cầu của chuỗi cung ứng thực phẩm và sự gia tăng nhu cầu thực phẩm để tăng cường sản xuất và xuất khẩu Ở những vùng miền núi phía Bắc, có thể cần hỗ trợ nhiều hơn để nông dân phục hồi nhanh chóng sau tác động của COVID-19 Một số khuyến nghị của báo cáo này có thể giúp cung cấp thông tin cho các chiến lược hỗ trợ hậu COVID-19

Phương pháp luận: Các phát hiện và khuyến nghị của báo cáo dựa trên ba nghiên cứu có liên quan với nhau: (a) phân

tích năng suất lao động nông nghiệp và các yếu tố liên quan với mức năng suất bằng các phương pháp tham số; (b) phân tích các chuỗi giá trị vì người nghèo, tập trung vào các chuỗi giá trị hàng hóa phù hợp đã và đang được sản xuất

ở Việt Nam, bao gồm cả trong cộng đồng người dân tộc thiểu số; và (c) phân tích bài học kinh nghiệm từ các chương trình phát triển nông nghiệp hội nhập của các quốc gia khác để rút ra các chiến lược phụ hợp nhằm cải thiện sự tham gia của nông nghiệp trong các chương trình NTP mới, đặc biệt là NTP cho dân tộc thiểu số và NRD Phân tích được thực hiện ở hai cấp độ: (a) cấp khu vực để đánh giá sự khác biệt hiện có trong năng suất và các yếu tố giải thích sự khác biệt đó, với mục đích tìm hiểu các yếu tố trong bối cách quốc gia có thể có tiềm năng cải thiện trong các lĩnh vực khác, và (b) phân tích sâu hơn một chút về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất ở các vùng tụt hậu nhất, là vùng miền núi phía Bắc, là trọng tậm của NTP mới (là SEDEMA)

Những phát hiện chính và Kết luận

Việt Nam đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế đáng kể trong vài thập kỷ qua, đạt được những lợi ích

lớn về năng suất và sản lượng và đóng góp vào các mục tiêu quốc gia liên quan đến giảm nghèo và chuyển đổi kinh tế, bao gồm cả tăng thu nhập bình quân đầu người Năm 2018, thu nhập bình quân đầu người ước tinh

đã tăng 7,1%, cao hơn một chút so với 6,8% của năm 2017 Trong số các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam đứng thứ hai sau Campuchia với thu nhập bình quân đầu người tăng 7,5% Việt Nam đã tăng gần gấp đôi thu nhập bình quân đầu người trong khoảng một thập kỷ

Việt Nam đã thành công trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp Kể từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã có

những bước đi vững chắc để trở thành một nhân tố trọng yếu trong thị trường lương thực toàn cầu Quốc gia này đã nổi lên trở thành một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới về các mặt hàng nông-thực phẩm, nằm trong số năm nhà cung cấp dẫn đầu toàn cầu về cá, lúa gạo, cà phê, chè, hạt điều, tiêu đen, cao su và sắn.2

Năm 2019, Việt Nam là nhà cung cấp chính trong hơn tám chuỗi giá trị lương thực chủ chốt toàn cầu, bình quân mỗi mặt hàng đạt doanh thu trên 3 tỷ USD, góp phần vào tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt mức

40 tỷ USD trong năm 2018 và 2019 Kể từ năm 2010, xuất khẩu nông sản của Việt Nam có cán cân thương mại Dương, đạt trên 7 tỷ USD trong năm 2018

Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi cơ cấu đáng kể, nhưng nông nghiệp vẫn là một trong những nguồn sinh kế chính và hiệu quả hoạt động của nó quyết định mức năng suất lao động, đặc biệt là đối với những người nghèo nhất ở khu vực nông thôn

2 Từ năm 2010, số lượng hàng hóa mà Việt Nam chiếm tỷ trọng trong top năm nhà cung cấp chính trên toàn cầu đã tăng lên gấp đôi

Trang 10

Mặc dù Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi cơ cấu nhanh chóng, đặc biệt là kinh tế nông thôn, nhưng nông nghiệp vẫn là nguồn sinh kế chính của hầu hết các hộ gia đình, đặc biệt là những hộ ở vùng nông thôn

Lao động nông thôn đang chuyển dịch nhanh khỏi khu vực nông nghiệp Nông nghiệp trung bình mất 4% lao động hàng năm cho các lĩnh vực khác kể từ năm 2014 Tỷ trọng việc làm của ngành nông nghiệp giảm xuống 40% vào năm 2018 từ khoảng 50% vào năm 2010 Nhưng hầu hết lao động chuyển sang làm việc phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn, làm thay đổi đáng kể kinh tế nông thôn cũng như nguồn thu nhập hộ gia đình nông thôn Gần như số lao động nông thôn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay tương ứng với tỷ lệ lao động nông thôn làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp Tỷ trọng nông nghiệp trong thu nhập nông thôn giảm xuống còn khoảng một phần ba thu nhập hộ gia đình vào năm 2018 Tuy nhiên nông nghiệp vẫn là nguồn sinh kế chính mặc dù các hộ gia đình hầu hết đã đa dạng hóa sinh kế của mình hơn là từ bỏ hoàn toàn nông nghiệp Có khoảng 80% hộ gia đình nông thôn vẫn làm nông nghiệp nhưng chỉ có 26% làm nông nghiệp thuần túy Hầu hết các hộ gia đình có sự kết hợp giữa thu nhập nông nghiệp và thu nhập từ tiền lương ngoài nông nghiệp, đôi khi kết hợp với thu nhập từ kinh doanh hộ gia đình

biệt là ở các nhóm người dân tộc thiểu số

Dựa trên phân tích từ Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) và các nghiên cứu khác, có một vài thách thức chính thể hiện sự khác biệt chủ yếu về năng suất nông nghiệp giữa các vùng miền Vùng Đồng

Bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có tổng giá trị gia tăng nông nghiệp cao hơn 59-77% so với vùng Trung du và Miền núi phía Bắc Đồng bằng Sông Cửu Long có giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân cao nhất trong các vùng Các yếu tố chính liên quan đến sự khác biệt trong năng suất nông nghiệp chủ yếu là từ các giống cây trồng và những trở ngại liên quan đến quyền sử dụng đất Ngoài ra, còn có một loạt các yếu tố khác liên quan đến khả năng tiếp cận các yếu tố sản xuất, dịch vụ hỗ trợ thể chế và tiếp cận thị trường được thảo luận chi tiết trong phần 2 của báo cáo này

Năng suất thấp hơn ở các nhóm dân tộc thiểu số Giá trị gia tăng nông nghiệp nói chung ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc thấp hơn mức bình quân chung của cả nước và bằng khoảng một nửa so với các vùng có năng suất cao nhất như Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ Khoảng 53% dân số dân tộc thiểu số của Việt Nam sống ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Trong khu vực này, các dân tộc thiểu số chiếm 56% dân

số và 98% người nghèo Các khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 56% dân số cả nước nhưng có chưa đến 1/10 dân số là người dân tộc thiểu số

Tiếp cận việc làm phi nông nghiệp là động lực chính của giảm nghèo, tuy nhiên một số hộ gia đình vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp do các yếu tố cơ cấu Thu nhập từ phi nông nghiệp tăng lên đã chiếm gần ¾ và một

nửa tỷ lệ giảm nghèo ở khu vực nông thôn và trong nhóm người dân tộc thiểu số trong giai đoạn từ 2010-2018 (NHTG, 2020) Thu nhập phi nông nghiệp thấp phần lớn là nguyên nhân dẫn đến chênh lệch thu nhập ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc và giữa các dân tộc thiểu số Ví dụ, người dân tộc thiểu số ở vùng thôn thôn tạo ra thu nhập từ lương được trả trong lĩnh vực phi nông nghiệp thấp hơn 61% so với người Kinh và người Hoa vì ít người DTTS có thu nhập phi nông nghiệp và thu nhập bình quân của ngường người làm nghề nếu có cũng thấp hơn so với mức trung bình của cả nước Gần như tất cả (97%) các hộ gia đình DTTS ở vùng nông thôn làm nông nghiệp và 42% trong số họ kiếm sống hoàn toàn bằng nông nghiệp – gấp đôi tỷ lệ của các hộ gia đình người Kinh và người Hoa chỉ phụ thuộc vào nông nghiệp. Có sự khác biệt tương tự giữa người nghèo và người không nghèo vì tỷ lệ người nghèo nông thôn chỉ phụ thuộc vào nông nghiệp (54%) cao hơn gấp đôi so với tỷ lệ trung bình của cả nước Một phân khúc trên thị trường lao động, với những người lớn tuổi và trình

độ học vấn thấp vẫn làm nông nghiệp, cho thấy rằng một phần đáng kể người dân sẽ vẫn làm nông nghiệp khi

Trang 11

họ phải đối mặt với các cơ hội thu nhập phi nông nghiệp hạn chế

Thu hẹp khoảng cách thu nhập trong nông nghiệp sẽ giúp giảm nghèo ở các vùng nông thôn Sự khác biệt

về các loại hình hoạt động nông nghiệp là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về thu nhập từ nông nghiệp giữa nông dân nghèo và không nghèo trong các vùng miền Ví dụ, nông dân nghèo ở miền núi tạo ra ít thu nhập hơn

từ cây lâu năm và cây công nghiệp vốn có lợi hơn ở đó Do đó, vẫn còn cơ hội chưa được khai thác cho những người nông dân nghèo trong vùng để tăng thu nhập từ nông nghiệp Điều này làm cho việc tăng thu nhập từ nông nghiệp trở thành một con đường thoát nghèo quan trọng cho các hộ gia đình ở khu vực này, bên cạnh việc mở rộng các cơ hội tạo thu nhập phi nông nghiệp

Tăng năng suất nông nghiệp ở một số khu vực tụt hậu là một chiến lược phù hợp để cải thiện năng suất nông nghiệp và sinh kế nói chung Có nhiều lý do tại sao tăng năng suất lao động và tiếp cận chuỗi giá trị là đề

xuất hợp lý cho một vài khu vực còn kém phát triển này Thứ nhất, với phần lớn dân số DTTS, người DTTS chỉ

có thể thoát nghèo một cách bền vừng nếu hoạt động nông nghiệp, một trong những nguồn thu nhập quan trọng nhất của họ, có hiệu quả. Tăng năng suất lao động nông nghiệp là một cách an toàn để cho phép lao động chuyển dịch khỏi nền nông nghiệp tự cung tự cấp, vốn vẫn chưa được thực hiện triệt để ở Việt Nam

từ trước đến nay Thứ hai, các khu vực miền núi và vùng trung du kém phì nhiêu ở Việt Nam đã và sẽ vẫn còn hạn chế tiềm năng cho hầu hết các mặt hàng nông sản xuất khẩu chính Tuy nhiên, những khu vực này

vẫn giữ được sự đa dạng độc đáo và bí quyết của các sản phẩm nông nghiệp Họ có nhiều tiềm năng hơn để nuôi trồng thực phẩm hữu cơ và tiếp cận các sản phẩm thích hợp Việc phát triển các chuỗi giá trị liên quan

và khai thác thị trường tiềm năng là rất quan trọng đối với phần lớn người nghèo ở miền núi và vùng trung

du của đất nước Nó cũng có lợi cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống của bộ phận cư dân thành thị ở Việt Nam trong khi giữ gìn được môi trường ở vùng núi, vùng trung du và nuôi dưỡng một loạt các doanh nghiệp sáng tạo, có giá trị cao

Một trong những chiến lược quan trọng để thu hẹp sự khác biệt về năng suất là thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị, tập trung vào các thị trường và sản phẩm thích hợp Việt Nam được công nhận vì đã thành công trong

việc phát triển chuỗi giá trị vì người nghèo ở cấp cơ sở Các chương trình MTQG mới là một cơ hội đặc biệt

để mở rộng quy mô của phương thức này Việc phân tích một số chuỗi giá trị được lựa chọn cho thấy một số mặt hàng có tiềm năng đáng kể để cải thiện năng suất của người dân ở vùng miền núi phía Bắc, đặc biệt là ở những nhóm người DTTS, nhờ những kỹ năng và khả năng độc đáo mà họ có trong sản xuất hầu hết các mặt hàng phi truyền thống này Những mặt hàng đó bao gồm gia vị (ví dụ quế), cây thuốc (ví dụ: cỏ tranh, nghệ, rau mùi), rau, chè, thủ công mỹ nghệ (ví dụ: thổ cẩm, chàm) và các loài gia súc gia cầm nhỏ (ví dụ: gà bản địa) Hầu hết trong số này là những mặt hàng độc đáo được sản xuất chủ yếu mới người DTTS hơn là ở các vùng khác ở Việt Nam Hầu hết các mặt hàng này cũng được liên kết với các thị trường và sản phẩm phù hợp trong vùng và ở thị trường các nước phát triển Tuy nhiên, còn rất nhiều việc phải làm để phát triển những chuỗi này thành những chuỗi cung ứng bài bản, có khả năng cạnh tranh trên trường khu vực và thế giới Cần đầu tư vào

cơ sở hạ tầng và vận chuyển để thúc đẩy các chuỗi giá trị rau, chè và gia cầm Cần tăng cường tổ chức chuỗi giá trị và tiêu chuẩn sản xuất để cải thiện các ngành hàng như chè, dược liệu và gia vị Đối với tất cả các chuỗi giá trị hàng hóa được phân tích, tăng cường hành động tập thể là quan trọng để cải thiện quy mô kinh tế và san sẻ rủi ro để khuyến khích nông dân sáng tạo ngoài các hệ thống truyền thống Cả liên kết ngang và dọc đều cần được thúc đẩy để tạo ra các phương hướng tiếp cận thị trường phù hợp, nơi thúc đẩy đầu tư và sáng tạo

Để đạt được quy mô tăng trưởng đáng kể, điều quan trọng là phải lồng ghép phát triển thành công chuỗi giá trị nông nghiệp trong quá trình thiết kế các chương trình toàn diện của quốc gia như CTMTQG, cụ thể là CTMTQG mới tập trung vào nhóm các DTTS và khu vực miền núi ở Việt Nam Chính quyền cấp tỉnh cần tiếp

Trang 12

tục chịu trách nhiệm thiết kế các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở cấp tỉnh Việc tập trung hóa thiết kế

và thực hiện các chương trình cấp địa phương góp phần tạo ra sự rời rạc của các chương trình phát triển và

sự phối hợp yếu kém trong các quyết định liên quan đến thị trường do số lượng các tỉnh cao Việc phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp được điều phối và thực hiện tốt hơn bởi các cơ quan tỉnh có nhiệt huyết như các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Sở NNPTNT) hoặc các đơn vị liên quan khác của tỉnh Gần đây hơn, các ban ngành cấp vùng đã được ủy quyền lập kế hoạch hành động của chính phủ liên quan tới lĩnh vực biến đổi khí hậu hay các công trình hạ tầng lớn Tương tự như vậy, các chiến lược chuỗi giá trị nông nghiệp cũng xứng đáng được thiết kế và thực hiện theo một phương thức phối hợp hơn ở cấp tỉnh

Các khuyến nghị cụ thể nhằm tăng cường thiết kế và thực hiện các hành động can thiệp nông nghiệp trong các CTMTQG mới bao gồm: (i) cân bằng đầu tư giữa cơ sở hạ tầng với hỗ trợ sinh kế và sản xuất; (ii) tăng

cường lập kế hoạch và quản lý chương trình; (iii) lồng ghép việc sử dụng các công cụ tham gia của người dân

để nâng cao quyền làm chủ và trách nhiệm của cộng đồng; (iv) xem xét giới thiệu hình thức phân bổ ngân sách dựa trên kết quả hoạt động để tạo động lực thúc đẩy hoạt động tốt hơn; (v) tăng cường quản trị và trách nhiệm vì kết quả; (vi) ưu tiên chuỗi giá trị dựa trên các đặc điểm riêng biệt và lợi thế so sánh; (vii) thúc đẩy

các khoản đầu tư ‘mềm’ vào đào tạo các hộ gia đình nông thôn trong việc phát triển chuỗi giá trị; (viii) tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm như một bước quan trọng để tham gia các chuỗi giá trị có tổ chức; (ix) thúc đẩy các mối liên kết dọc (từ sản xuất sơ cấp đến thị trường) và các mối liên kết ngang (hành động phối hợp giữa các nhà sản xuất và vận hành thị trường); và (x) có sự quan tâm đầy đủ để đảm bảo rằng sự phát triển chuỗi giá trị song song với cách tiếp cận ‘không gây hại’ Những điều này sẽ được trình bày chi tiết hơn trong Phần 4 của báo cáo

Để tạo điều kiện phát triển chuỗi giá trị cho các mặt hàng phù hợp với người DTTS, NCO/MARD và CEMA nên cân nhắc các vấn đề sau đây cũng như các khuyến nghị đã được đề xuất Các đề xuất khác chi tiết hơn,

cụ thể hơn với những mặt hàng cụ thể được nêu bật ở Phần 3 và Phần 4 của báo cáo này Phần 4 cũng đưa ra các khuyến nghị bổ sung liên quan đến thể chế và quy trình rút ra từ các bài học kinh nghiệm quốc tế Những nội dung này phù hợp với việc cung cấp thông tin về các khía cạnh thể chế và hoạt động của thiết kế chương trình

Bảng E.1: Tổng quan các vấn đề/hạn chế và khuyến nghị đối với phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp trong các nhóm DTTS

Key issues/constraints Các khuyến nghị/can thiệp được đề xuất

Tổng quan • Hệ thống sản xuất nhỏ lẻ và rời rạc

• Thiếu thông tin thị trường về các

chuỗi giá trị cụ thể dẫn đến việc khó lập kế hoạch và đầu tư dài hạn

• Kỹ năng tổ chức và tiếp thị yếu của

nông dân

• Xa xôi và trang thiết bị để tập hợp

• Thiết lập hệ thống thông tin thị trường tập trung cao độ và tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận điện thoại di động

• Đào tạo kỹ năng tổ chức và kinh doanh cho nông dân

• Thúc đẩy đầu tư công vào cơ sở hạ tầng tiếp cận thị trường bao gồm cả các trung tâm tổng hợp hàng hóa

Trang 13

Key issues/constraints Các khuyến nghị/can thiệp được đề xuất

Cơ cấu

chuỗi giá trị • Cơ cấu không cạnh tranh dẫn đến sự thao túng của một số nhà sản

xuất DTTS nhỏ lẻ

• Các nhà sản xuất DTTS hoặc những

người chơi nhỏ lẻ khác bị bỏ lại

trong các kênh thương mại hiện đại

do thiếu năng lực

• Các cơ hội chưa được khai thác để

phát triển chuỗi giá trị

• Chính sách của chính phủ về quản lý cơ sở cung ứng để đảm bảo cạnh tranh bình đẳng và thực thi hiệu quả các liên minh sản xuất với người mua và thương lái/nhà xuất khẩu

• Đào tạo về phát triển mới các cơ hội thị trường nhằm vào các nhà sản xuất là người DTTS

• Quản lý CCMTQG để đầu tư vào các nghiên cứu chuỗi giá trị thường xuyên nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho nông dân về diễn biến và yêu cầu của thị trường

Tạo giá trị Phát triển sản phẩm và dịch vụ

thiết yếu và thị trường thiết yếu ở

thị trường địa phương, khu vực và

• Hỗ trợ nông dân về quy trình cấp chứng nhận, trên cơ sở bù đắp chi phí

• Sử dụng quá nhiều nguyên liệu đầu

vào (phân bón và thuốc trừ sâu)

• Tư vấn kỹ thuật không chuyên

nghiệp bởi các đại lý phân phối đầu

Đào tạo kỹ thuật

• Kiến thức không đầy đủ và phù hợp

của những nhà đào tạo đặc biệt về

vấn đề phát triển chuỗi giá trị

• Xây dựng năng lực chủ yếu dựa vào

nguồn cung

• Tăng cường các khóa đào tạo và bồi dưỡng tại chỗ cho các nhà cung cấp dịch vụ khuyến nông phục vụ người DTTS về các kỹ thuật chính bao gồm cả các khía cạnh của phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp

• Khuyến khích phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu trong đào tạo nông dân để đảm bảo đào tạo kịp thời và phù hợp tới người nông dân

Tiếp cận tài chính

• Hạn chế tiếp cận tài chính, đầu vào

và hỗ trợ kỹ thuật giữa nông dân và

các nhóm nông dân

• Thiếu sự tham vấn về đánh giá rủi

ro

• Tín dụng đắt đỏ đối với các nhà máy

địa phương hoặc các nhà cung cấp

nguyên liệu đầu vào, các thỏa thuận

trả nợ cao đối với người nông dân

• Thúc đẩy các mô hình liên minh sản xuất như canh tác theo hợp đồng có thể giúp nông dân được tài trợ trước đầu vào

Trang 14

Key issues/constraints Các khuyến nghị/can thiệp được đề xuất

Liên kết

chuỗi giá trị • Các liên kết dọc và/hoặc ngang yếu, hạn chế hoặc không tồn tại giữa các

bên tham gia trong chuỗi giá trị

• Thúc đẩy các nhóm cộng tác sản xuất là người DTTS—xây dựng và nâng cao năng lực

• Hỗ trợ thiết lập và phát triển các thỏa thuận hợp tác giữa tất

cả các bên trong chuỗi giá trị

• Hỗ trợ các mô hình tăng cường liên kết giữa các tác nhận, ví

dụ, hệ thống truy xuất nguồn gốc, hệ thống sản xuất và chế biến được chứng nhận hoặc các nền tảng chia sẻ thông tin,

ví dụ: các chuyến tham quan học hỏi được chuẩn bị kỹ lưỡng

• Chia sẻ giá trị không công bằng dẫn

đến việc không tuân thủ hợp đồng bao gồm cả việc bán hàng ngoài hợp đồng trong đó các nhà sản xuất chính chủ yếu là người nhận

• Hành vi phi đạo đức giữa cả nhà

cung cấp và người mua

• Tăng cường tuân thủ hợp đồng và hành vi đạo đức giữa các nhà sản xuất và người mua chính và các bên liên quan khác trong chuỗi giá trị thông qua việc thiết lập các cơ chế thực thi hợp pháp và được giám sát chặt chẽ

Trang 17

Nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động nông nghiệp nói riêng đã được mô tả rộng rãi như một câu chuyện thành công Tuy nhiên, có một số lĩnh vực được xem như ‘chặng cuối cùng’ về tăng năng suất và giảm nghèo đòi hỏi phải có chiến lược để đảm bảo tăng trưởng kinh tế xã hội bao trùm hơn nữa

1.1 Trong một phần tư thế kỷ qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những tiến bộ to lớn, đạt được những thành tựu chính về năng suất cũng như sản lượng và đóng góp vào các mục tiêu quốc gia liên quan đến giảm nghèo và chuyển đổi nền kinh tế bao gồm cả tăng thu nhập bình quân đầu người Năm 2018, thu

nhập bình quân đầu người ước tính đã tăng 7,1% cao hơn một chút so với 6,8% vào năm 2017 Trong số các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam đứng thứ hai sau Campuchia với thu nhập bình quân đầu người tăng 7,5% (Hình ảnh 1 và Bảng 1) Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh, gần gấp đôi thu nhập bình quân đầu người trong khoảng một thập kỷ.3 Kể từ năm 1986, những cải cách kinh

tế và chính trị mạnh mẽ dưới thời Đổi Mới đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, chuyển nền kinh tế sang trạng thái thu nhập trung bình thấp Trong khoảng 16 năm từ 2002 tới 2018, hơn 45 triệu người đã thoát khỏi đói nghèo Nghèo đói đã giảm mạnh xuống dưới 6% (dựa trên mức nghèo đói tương đương 3,2 USD/ngày theo sức mua tương đương [PPP]), và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người tăng 2,5 lần, lên khoảng

$2,500 USD vào năm 2018 Trong khi quá trình chuyển đổi đã chuyển nền kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ, hoạt động nông nghiệp mạnh mẽ4 đã phần nào củng cố thành công của kinh tế Việt Nam thông qua việc đảm bảo an ninh lương thực và giảm nghèo vùng nông thôn, bao gồm cả tăng trưởng thực tế về xuất khẩu nông sản Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp chính của hầu hết các mặt hàng thực phẩm trên trường quốc tế

3 Năm 2000, thu nhập bình quân đầu người ước tính khoảng 400 USD, và đã tăng lên 2,567 USD vào năm 2018, với tốc độ tăng trưởng trung bình hơn 5% trong suốt hai thập kỷ (Các Chỉ số Phát triển Thế giới - WDI) https://data.worldbank.org/ indicator/NY.GDP.PCAP.CD?locations=VN

4 Nông nghiệp Việt Nam đã tăng trưởng từ 2,6% tới 3,0% từ năm 2011 tới 2015, và trung bình khoảng 3% kể từ năm 2016; nó góp phần đóng góp khoảng 15% GDP (ước tính 2018) và sử dụng khoảng 20,6 triệu lao động, chiếm 38% lực lượng lao động

cả nước (ước tính 2018)

Trang 18

Hình 1: tăng trưởng GDP bình quân đầu người

(%), ước tính 2018, so sánh với khu vực

Bảng 1: Việt Nam – các chỉ số kinh tế được lựa chọn, 2000–2018

3,1 4,1 4,7 5,2 6,2 6,2 7,1 7,5

GDP per capita (US$)

Growth

in GDP per capita (%)

Total exports (US$, billions)

Total imports (US$, billions)

Trade balance (US$, billions)

1.2 Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thể giới, nằm trong số năm nhà cung cấp hàng đầu thế giới về cá, gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu đen, cao su và sắn Từ năm 2010, số lượng

hàng hóa mà Việt Nam lọt vào top 5 nhà cung cấp đã tăng lên gấp đôi Năm 2019, Việt Nam là nhà cung cấp chính trong hơn 8 chuỗi giá trị thực phẩm toàn cầu, trung bình mỗi mặt hàng thu về hơn 3 tỷ USD đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 40,02 tỷ USD trong năm 2018 và 2019 (Hình 2) Kể từ năm 2010, xuất khẩu nông sản của Việt Nam có cán cân thương mại dương, đạt trên 7 tỷ USD vào năm 2018 Mặc dù khả năng cạnh tranh xuất khẩu nông sản toàn cầu của Việt Nam xoay quanh các sản phẩm có sản lượng cao, chất lượng thấp và không khác biệt, nhưng Việt Nam đã chứng minh rằng có thể đạt được vị thế thống trị trong chuỗi giá trị nông sản thực phẩm trong vòng một thập kỷ Kết quả xuất khẩu nông sản mạnh mẽ này cùng với

sự gia tăng thị phần quốc tế chứng tỏ lợi ích mang lại đối với người nông dân Việt Nam nếu họ được tổ chức tốt để tham gia hiêu quả vào thị trường xuất khẩu nông sản đang trên đà phát triển mạnh mẽ này

Hình 2: Giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam, đơn vị triệu US$ (2010–2019)

45.000 40.000 35.000 30.000 25.000 20.000 15.000 10.000 5.000

0 2010 Hải sản Chè

Gỗ và sản phẩm

Rau và quả Tiêu đen Cao su

Hạt điều Lúa gạo Cà phêSắn Sản phẩm khác

2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

Nguồn: GSO.

Trang 19

1.3 Khả năng cạnh tranh xuất khẩu nông sản nổi bật của Việt Nam dựa trên hiệu quả hoạt động khá mạnh mẽ của ngành Như đã được mô tả ở Bảng 2, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của Việt Nam

đang sôi động, canh tác nhiều mặt hàng chủ lực trên 11,5 triệu ha (đất sản xuất nông nghiệp – trừ đất lâm nghiệp) Cả tổng sản lượng và sản lượng trung bình của mỗi mặt hàng này đều cao hơn so với hầu hết các nước cả trong khu vực và trên toàn cầu Kể từ năm 2015, lĩnh vực nông nghiệp đã mở rộng khoảng 3% với hầu hết các loại cây trồng đều cho năng suất tăng thêm (trừ điều và tiêu) Về sử dụng đất, đã có sự chuyển dịch

từ một số cây lương thực chủ lực như lúa, ngô, sắn, mía, lạc đậu tương sang trồng rau, quả, nuôi trồng thủy sản, cà phê, điều và tiêu Điều này phản ánh một tầm nhìn mới đối với ngành nông nghiệp cũng như về vai trò

và phương thức của chính phủ trong lĩnh vực này Tầm nhìn này được đưa ra trong Kế hoạch Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp (ARP),5 được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quyết định vào tháng 6 năm 2013 ARP là một

sự thay đổi căn bản trong định hướng chiến lược ngành nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng ngành về hiệu quả và bền vững về môi trường Do đó, kế hoạch nhấn mạnh những cải tiến về chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng cũng như chất lượng của sản phẩm, việc làm và các kết quả khác

Bảng 2: Sản lượng cây trồng – Số lượng (nghìn tấn), diện tích (nghìn ha), và năng suất bình quân (tấn/ha)

Diện tích Số lượng

Năng suất bình quân

Diện tích Số lượng

Năng suất bình quân Diện tích Số lượng Năng suất

Nguồn: Ước tính (chỉ với năng suất) dựa trên số liệu từ Bộ NNPTNT.

5 ARP được thông qua theo Quyết định số 899/QD-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Nó dựa trên sự thừa nhận rằng mô hình tăng trưởng của quốc gia, dựa trên thâm canh lúa gạo, là không bền vững và không còn là nền tảng chủ lực cho tăng trưởng bền vững của ngành nông nghiệp trong tương lai cũng như về khả năng cạnh tranh xuất khẩu ARP vì thế tập trung vào việc chuyển đổi cơ cấu sang các mặt hàng mang lại giá trị cao, tăng giá trị gia tăng và giảm tác động môi trường

Trang 20

Các khu nông nghiệp Việt Nam

1.4 Có sự khác biệt đáng kể về điều kiện khí hậu giữa các vùng ở Việt Nam do địa hình đa dạng và chiều dài của đất nước Dựa trên những điểm khác biệt này, cả nước được chia thành tám vùng sinh thái nông

nghiệp: Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Hồng Hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp này trùng khớp với các vùng,

do đó đặc trưng cho sự khác biệt giữa các vùng về sản xuất nông nghiệp, hệ thống cây trồng cũng như mùa

vụ và năng suất cây trồng Khả năng tiếp cận thị trường cũng khác nhau, với mạng lưới đường bộ ở miền núi phía Bắc thưa thớt hơn một chút so với các vùng khác

1.5 Mặc dù nông nghiệp Việt Nam hoạt động tốt và đã mang đến sự chuyển biến sâu rộng ở khu vực nông thôn, nhưng ở một số vùng, đặc biệt là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số), kết quả hoạt động nông nghiệp vẫn tụt hậu so với các vùng khác của cả nước về năng suất lao động nông nghiệp 6 Ví dụ, trong hình 3a, ước tính năng suất lao động từ sản xuất lúa cho thấy Đồng bằng sông

Cửu Long cho đến nay là vùng có năng suất cao nhất, tiếp theo là Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Hồng và các vùng duyên hải phía Bắc Trung du và miền núi phía Bắc cũng như Tây Nguyên tụt hậu về năng suất lao động trong sản xuất lúa Tương tự, trong hình 3b, Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ có tổng năng suất lao động nông nghiệp tốt hơn các vùng khác, trong đó Trung du và miền núi phía Bắc tụt hậu so với các vùng còn lại

Hình 3a Năng suất lao động lúa gạo tính theo ngày

(VND, nghìn) 2018 Hình 3b Năng suất lao động nông nghiệp bình quân ngày theo vùng (VND, nghìn) 2018

160 97 162 50 184

405 192

0 100 200 300 400 500 Đồng Bằng Sông Hồng

Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung

Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng Bằng Sông Cửu Long

Việt Nam

236 148 171 179

317 378 224

0 100 200 300 400 Nguồn: VHLSS 2018.

6 Năng suất nông nghiệp được đo bằng tỷ số giữa tổng giá trị đầu ra trên tổng chi phí đầu vào của nông nghiệp Đầu ra thường được đo lường bằng giá trị thị trường của đầu ra cuối cùng, không bao gồm đầu vào trung gian và giá trị đầu ra này có thể được so sánh với nhiều loại đầu vào khác nhau như lao động, đất đai và các yếu tố biến đổi hoặc cố định khác của hoạt động sản xuất Đây được gọi là thước đo từng phần của năng suất Năng suất nông nghiệp cũng có thể được đo lường bằng cái gọi là tổng năng suất nhân tố (TFP) Phương pháp tính toán năng suất nông nghiệp này so sánh chỉ số đầu vào nông nghiệp với chỉ số đầu ra Phương pháp đo lường năng suất nông nghiệp này ra đời nhằm khắc phục những thiếu sót của các thước

đo năng suất từng phần, đáng chú ý là thưòng khó xác định các yếu tố khiến chúng thay đổi Phân tích này sử dụng thước

đo từng phần của năng suất, như được giải thích trong Hộp 2 của Phần 2.

Trang 21

1.6 Ở tất cả các vùng, năng suất lao động nông nghiệp của các dân tộc thiểu số khác luôn thấp hơn so với dân tộc Kinh – Hoa Ở cả vùng hoạt động và vùng tụt hậu, năng suất lao động nông nghiệp của các dân

tộc thiểu số thấp hơn một nửa so với các nhóm dân tộc Kinh và Hoa Tuy nhiên, ở các vùng tụt hậu như Trung

du và miền núi phía Bắc, năng suất lao động nông nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số thấp hơn nhiều cả về khái niệm tuyệt đối và tương đối (Hình 4)

Hình 4 Năng suất lao động nông nghiệp trên ngày theo vùng và nhóm dân tộc, 2018

Red river delta Northern

midland and mountains

North central and coastal highlandsCentral South east Mekong riverdelta Vietnam0

sự thiếu hụt các cơ hội làm công ăn lương ảnh hưởng đến lựa chọn sản xuất của nông dân nghèo và làm giảm triển vọng biến nông nghiệp trở thành động lực chính của giảm nghèo Hầu hết các vùng miền núi đều có điều kiện tiếp cận kém Một phân tích về nghèo đói gần đây của Ngân hàng Thế giới7 cho thấy hạn chế về khả năng tiếp cận thị trường không chỉ ảnh hưởng đến cơ hội tạo thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp, do các ngành công nghiệp và doanh nghiệp có xu hướng ở xa, mà còn ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực trong nông nghiệp cho các loại cây lương thực mang lại giá trị thấp Do sự hội nhập kém của thị trường lương thực, sự tồn tại của chênh lệch giá giữa sản xuất nông nghiệp và thị trường khiến nhiều hộ nghèo (bao gồm cả đồng bào dân tộc thiểu số) phải tìm đến trạng thái cân bằng sinh hoạt ở mức thấp và hệ thống canh tác thiên về lúa gạo cũng như các loại cây lương thực khác nhằm đáp ứng an ninh lương thực ở mức cơ bản Điều này có nghĩa là cải thiện khả năng tiếp cận thị trường (tức là giảm khoảng cách về kinh tế) giữa những vùng còn lại của Việt Nam và các vùng miền núi là một yếu tố quan trọng khác, mặc dù không phải là yếu tố cần thiết duy nhất, để cải thiện các cơ hội nông nghiệp và phi nông nghiệp Điều này sẽ giúp đẩy nhanh quá trình hội tụ giữa các khu vực tụt hậu và không tụt hậu

1.8 Nếu không nâng cao năng suất nông nghiệp, ngay cả các chương trình phát triển nông thôn có mục tiêu tốt, như CTMTGQ của Việt Nam, cũng chỉ có thể mở rộng hơn là thu hẹp khoảng cách năng suất giữa các khu vực tụt hậu và không tụt hậu Chiến lược đảm bảo tăng trưởng bao trùm của Chính phủ Việt Nam

(GOV) đã chứng kiến 16 CTMTQG được thực hiện kể từ năm 2011 tới 2015 Năm 2016, chính phủ Việt Nam

đã hợp nhất 16 CTMTQG thành hai CTMTQG cho giai đoạn thực hiện tiếp theo đến năm 2020 Các CTMTQG cho NRD và Giảm nghèo Bền Vững (SPR) nhằm hướng đến nâng cao thu nhập và năng suất ở vùng nông thôn

7 Ngân hàng Thế giới 2019 Báo cáo Cập nhật về tình trạng Đói nghèo – Cơ hội Tốt hơn cho Tất cả: Giảm nghèo và Thịnh vượng Chung ở Việt Nam Washington, DC: Ngân Hàng Thế giới.

Trang 22

đồng thời giảm chênh lệch kinh tế xã hội đáng kể giữa khu vực nông thôn và thành thị Trong lĩnh vực nông nghiệp, chính phủ Việt Nam đã thực hiện ARP kể từ năm 2013 Trong khi hai CTMTQG (NRD và SPR, gồm cả P135) và ARP nhằm cùng cố và bổ sung cho nhau, thì vẫn còn tồn tại một số sự khác biệt NTP-NRD tập trung

vào các tỉnh chưa hội nhập tốt vào nền kinh tế; NTP-SPR, đặc biệt là P135, chủ yếu nhắm vào người dân tộc

thiểu số và vùng sâu vùng xa với các can thiệp tổng hợp, bao gồm nông nghiệp, để giúp họ bắt kịp (hội tụ) với những vùng còn lại của đất nước Mặt khác, ARP là một chương trình quốc gia hướng tới đạt được các cải cách cơ cấu nhằm tăng cường đầu tư vào các động lực chính cho tăng trưởng nông nghiệp dài hạn.

1.9 Kết quả đánh giá gần đây về thực hiện 10 năm CTMTQG (NRD và SPR) đã cho thấy những cải thiện đáng kể trên mọi phương diện Tuy nhiên, phần lớn người nghèo sống ở khu vực miền núi phía Bắc và miền

Trung, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện rất nghèo, vẫn còn tụt hậu so với các vùng khác (và với các nhóm không thuộc DTTS).8 Vì chính phủ hiện đang xem xét xây dựng các CTMTQG cho giai đoạn 2021–25 (Hộp 1), nên cần phải tìm cách nâng cao hiệu quả và chất lượng của các can thiệp cần thiết để thu hẹp khoảng cách năng suất giữa các vùng tụt hậu và không tụt hậu của cả nước Cũng cần phải củng cố cơ sở bằng chứng

về việc liệu và làm thế nào nông nghiệp có thể là một yếu tố quyết định đáng kể đến việc giảm nghèo ở các vùng tụt hậu và trong các nhóm DTTS, trong hoàn cảnh nào và các phương án đầu tư cụ thể nào có tiềm năng giúp đạt được những mục tiêu của chương trình này

Hộp 1: CTMTQG được đề xuất về SEDEMA, 2021–2030

Thực hiện nghị quyết của kỳ họp Quốc Hội Việt Nam về CTMTQG mới nhằm hỗ trợ đồng bào DTTS ở các tỉnh miền núi phía Bắc, CEMA đã xây dựng CTMTQG về SEDEMA sẽ được thực hiện cho giai đoạn 2021–2030.

Mục tiêu của chương trình là nhằm năng cao đời sống của người dân vùng DTTS và miền núi, phát triển mô hình sinh

kế dựa trên việc làm ổn định, đảm bảo thu nhập bình quân đầu người của người DTTS tăng lên gấp đôi vào năm 2025

so với thu nhập bình quân đầu người tính tới cuối năm 2020

Một số lĩnh vực chương trình trọng tâm là phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, phát huy tiềm năng vùng, và tăng cường sản xuất theo chuỗi giá trị Như một phần của chương trình này, các lĩnh vực đầu tư trọng điểm sẽ bao gồm (a) phát triển sản xuất nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, ngư nghiệp và muối), phát huy tiềm năng và thế mạnh của vùng để nâng cao thu nhập, đời sống và sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị; và (b) đầu tư và phát triển các mô hình

chăn nuôi gia súc, gia cầm theo chuỗi giá trị, vùng trồng sâm Ngọc Linh và các dược liệu quý, thúc đẩy khởi nghiệp và

doanh nghiệp kinh doanh, thu hút đầu tư vào các vùng DTTS và miền núi Các lĩnh vực hỗ trợ chính bao gồm (a) cung cấp đất sản xuất cho 90% hộ gia đình DTTS nghèo sống bằng nghề nông, lâm và ngư nghiệp, và (b) cung cấp tín dụng

và các hình thức dịch vụ công khác

Dự kiến tổng kinh phí thực hiện chương trình là 604,051.49 tỷ đồng Việt Nam, trong đó giai đoạn 2021-25 là 344,700.82

tỷ đồng và 259,350.56 tỷ đồng cho giai đoạn 2026–2030 Đối với chương trình hỗ trợ nông nghiệp, tổng kinh phí cần thiết cho giai đoạn 2021–2030 là 16,325 tỷ đồng Cho giai đoạn 2021–2025, kinh phí dự kiến cho việc thực hiện là

4,175 tỷ đồng trong đó 1,500 tỷ đồng được dự kiến sẽ huy động từ nguồn vốn vay trong nước, còn lại 1,350 tỷ đồng là huy động từ cộng đồng, các doanh nghiệp và nhà tài trợ quốc tế

Các khuyến nghị từ phân tích này dự kiến sẽ cung cấp thông tin cho thiết kế kỹ thuật và lập kế hoạch thực hiện cho các lĩnh vực nông nghiệp của SEDEMA

1.10 Thông qua phân tích năng suất lao động nông nghiệp và các yếu tố cấu thành, từ phân tích chuỗi giá trị vì người nghèo và các bài học kinh nghiệm từ các chương trình phát triền nông nghiệp toàn diện của các quốc gia khác, báo cáo này đưa ra các khuyến nghị để cải thiện chất lượng và mức độ phù hợp của các biện pháp can thiệp nông nghiệp trong các CTMTQG mới, đặt biệt tập trung vào CTMTQG cho đồng bào dân

8 Kết quả dựa trên các báo cáo từ Tổng kết 10 năm Thực hiện CTMTQG

Trang 23

tộc thiểu số và NRD Báo cáo phân tích này giúp Chính phủ đưa ra các quyết định sáng suốt và/hoặc các điều

chỉnh cần thiết để cải thiện hoạt động nông nghiệp trong các CTMTQG Phân tích chủ yếu dựa trên dữ liệu VHLSS cho năm 2016 và 2018 để tìm hiểu cách cải thiện việc thiết kế và thực hiện các can thiệp nông nghiệp trong các CTMTQG mới đặc biệt là NRD và CTMTQG mới tập trung vào nhóm đồng bào dân tộc thiểu số.9 Báo cáo phân tích này cũng được rút ra từ phân tích chuỗi giá trị vì người nghèo cũng như các bài học kinh nghiệm

từ các quốc gia khác đang phải đối mặt với những thách thức tương tự, để quản lý quá trình chuyển đổi nông nghiệp ở các khu vực tụt hậu của họ

1.11 Báo cáo này được sắp xếp như sau: Phần I trình bày tổng quan ngắn gọn về câu chuyện thành công

trong nông nghiệp của Việt Nam cũng như những hạn chế trong việc tiếp cận các khu vực tụt hậu Phần 2 tập trung phân tích chi tiết kết quả hoạt động nông nghiệp Việt Nam từ góc độ khu vực, tập trung vào khoảng cách giữa các vùng, trong các vùng và giữa các nhóm dân tộc khác nhau Phần này cũng thảo luận về các yếu tố chính gây ra chênh lệch năng suất. Nó nêu bật các lĩnh vực cần chú ý để đạt được một số mức độ hội tụ theo thời gian Phần 3 tìm hiểu cách thu hẹp khoảng cách năng suất bằng cách thúc đẩy hội nhập thị trường mạnh

mẽ của các dân tộc thiểu số dựa trên kết quả phân tích một số chuỗi giá trị vì người nghèo mà một vài trong

số đó đã phổ biến trong cộng đồng các nhóm dân tộc thiểu số Cuối cùng, phần 4 rút ra các kết luận chính và nêu bật các khuyến nghị để cung cấp thông tin cho việc thiết kế và thực hiện chương trình dựa trên các phân tích và bài học kinh nghiệp từ các quốc gia khác đã thực hiện các chương trình giảm nghèo quốc gia tương tự Phần 4 cũng nêu bật các vấn đề và trở ngại cụ thể về chuỗi hàng hóa cũng như đưa ra các khuyến nghị

9 CTMTQG mới tập trung vào các nhóm DTTS đang được CEMA phối hợp với các bộ ngành khác như Bộ NNPTNT thiết kế CTMTQG mới về NRD đang được NCO thuộc Bộ NNPTNT thiết kế Một số phần sơ bộ của báo cáo này đã được thảo luận không chính thức với NCO và các thành viên khác của tổ thiết kế đến từ Bộ NNPTNT và CEMA Báo cáo cuối cùng của công trình phân tích này sẽ được trình bày cho NCO và CEMA như những độc giả chính của báo cáo Các phát hiện và khuyến nghị nêu bật trong báo cáo này được kỳ vọng sẽ cung cấp thông tin các thiết kế kỹ thuật chi tiết và kế hoạch thực hiện của một

số chương trình con thuộc cả CTMTQG mới về DTTS và NRD mới

Trang 24

Key issues/constraints Proposed interventions/recommendations

Value chain

link • Weak, limited, or nonexistent vertical and/or horizontal links

among players in the value chain

• Promote ethnic minority producer collaboration groups—formulation and capacity building

• Support establishment and development of collaborative arrangements between all actors in the value chains

• Support models that enhance links between actors, for example, traceability system, certified production and processing system, or information sharing platforms, e.g well-planned study tours

on the receiving end

• Unethical behavior among both suppliers and buyers

• Strengthen contract compliance and ethical behavior among primary producers and buyers and other value chain stakeholders, through establishment of mechanisms for legal contract enforcement and close monitoring

Trang 25

Phần này nêu bật những khác biệt cơ bản về đất nông nghiệp và năng suất lao động ở cấp khu vực và thảo luận về những yếu tố chính dẫn đến những khác biệt quan sát được Nó nhấn mạnh rằng sự khác biệt giữa các khu vực trong hệ thống sản xuất trang trại, việc tiếp cận đất đai để sản xuất cây trồng

có giá trị cao hơn và việc tiếp cận thị trường giải thích cho sự khác biệt về năng suất lao động mặc dù người DTTS phải đối mặt với những khó khăn bổ sung do kỹ năng quản lý trang trại kém và tình trạng thất nghiệp trong nông nghiệp do trình độ học vấn thấp và quy mô hộ gia đình lớn hơn so với đất mà

họ sở hữu.

Vai trò của Nông nghiệp trong việc Thu hẹp Khoảng cách về Thu nhập trong nền Kinh tế Nông thôn

2.1 Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nhanh chóng, đặc biệt là kinh tế nông thôn Lao

động nông thôn đang chuyển dịch nhanh chóng từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp (Hình 5) Ngành này trung bình giảm 4% lao động hàng năm kể từ năm 2014 Tỷ trọng việc làm trong ngành này giảm xuống 40% vào năm 2018 so với khoảng 50% vào năm 2010 Nhưng hầu hết lao động chuyển sang làm phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn lại làm biến đổi đáng kế nền kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập hộ gia đình nông thôn Gần như số lao động nông thôn làm trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay tương đương với

số đó làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp Tỷ trọng nông nghiệp trong thu nhập nông thôn giảm xuống còn khoảng một phần ba thu nhập hộ gia đình vào năm 2018 (Hình 6)

Việt Nam: Phân tích Khu vực Tổng hợp

Trang 26

Hình 5 Xu hướng trong lao động nông nghiệp và

phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn (triệu người),

Nguồn: Báo cáo khảo sát nguồn lực lao động của GSO giai đoạn 2013–18 và dựa trên số liệu VHLSS 2018.

2.2 Thu nhập từ lương tăng đóng góp lớn nhất vào việc giảm nghèo Thu nhập từ tiền lương tăng 78% và thu nhập từ kinh doanh hộ gia đình tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn 2010-18, là nguyên nhân chính dẫn đến mức tăng 79% thu nhập hộ gia đình trên cả nước Phân tách nghèo đói-thu nhập (Ngân hàng Thế giới 2020) cho thấy mức tăng thu nhập từ tiền lương phi nông nghiệp chiếm gần 12 điểm phần trăm của mức giảm tỷ lệ nghèo trong giai đoạn 2010-18 – tương đương với 85% mức giảm nghèo được nhận thấy Tuy nhiên, sự đóng góp của việc tăng thu nhập thấp hơn ở vùng nông thôn và trong nhóm đồng bào DTTS Gần ¾ và hơn một nửa tỷ lệ giảm nghèo ở vùng nông thôn và trong các nhóm DTTS có thể là do tiền lương tăng trong giai đoạn 2010-18 Vị trí địa lý thuận lợi cộng với thu nhập từ nông nghiệp góp phần giảm tỷ lệ nghèo ở vùng nông thôn

và đồng bào DTTS nhiều hơn một chút so với mức đóng góp vào giảm nghèo chung của cả nước

2.3 Thật vậy, nông nghiệp vẫn là một nguồn sinh kế chính vì hầu hết các hộ gia đình đã đa dạng hóa nguồn sinh kế của mình thay vì thoát khỏi nông nghiệp Khoảng 80% hộ gia đình nông thôn vẫn làm nông nghiệp,

nhưng chỉ có khoảng 26% là thuần nông (Bảng 3) Hầu hết các hộ gia đình có thu nhập từ nông nghiệp và từ tiền lương phi nông nghiệp, đôi khi kết hợp với thu nhập từ hộ kinh doanh cá thể Trên thực tế, gần 40% hộ

gia đình nông thôn có từ ba nguồn thu nhập trở lên vào năm 2018, bao gồm cả kiều hối và chuyển khoản của chính phủ Sự phân chia theo ngành của những thay đổi về tỷ lệ nghèo đói với các hộ gia đình được nhóm theo nguồn sinh kế cho thấy hơn một nửa tỷ lệ giảm nghèo là do sự hòa trộn của các nguồn thu nhập giữa nông nghiệp và các nguồn khác (Ngân hàng Thế giới, 2020)

2.4 Mức độ phụ thuộc vào nông nghiệp đối với sinh kế khác nhau giữa các vùng, nhưng sự khác biệt lại thể hiện rõ ràng hơn theo mức độ nghèo đói và dân tộc Các hộ gia đình ở Tây nguyên, Đồng bằng Sông Cửu

Long và Trung du miền núi phía Bắc là những hộ phụ thuộc nhiều nhất vào nông nghiệp, đóng góp tới 60%, 42% và 35% thu nhập hộ gia đình một cách tương ứng, so với chỉ 17% ở Đồng bằng Sông Hồng (Bảng 3) Gần như tất cả (97%) hộ gia đình DTTS ở nông thôn làm nông nghiệp; 42% trong số họ kiếm sống thuần túy chỉ từ nông nghiệp Con số này gấp đôi tỷ trọng của người Kinh-Hoa chỉ phụ thuộc vào nông nghiệp. Có sự khác biệt tương tự giữa người nghèo và người không nghèo vì tỷ lệ người nghèo nông thôn chỉ phụ thuộc vào nông nghiệp (54%) cao hơn gấp đôi so với tỷ lệ nông thôn trung bình của cả nước Do đó, nông nghiệp đóng góp

vào một nửa thu nhập hộ gia đình của người DTTS và 65% thu nhập hộ nghèo, so với mức trung bình của cả nước là 32%

Trang 27

Bảng 3: Tỷ lệ hộ gia đình theo mức độ tham gia kinh tế tính theo vùng, dân tộc và tình trạng nghèo, 2018

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018

Ghi chú: TN=Tây nguyên; ĐBSCL = Đồng Bằng Sông Cửu Long; DHBTB = Duyên Hải Bắc Trung Bộ; TDMNPB = Trung Du Miền Núi Phía Bắc; ĐBSH = Đồng Bằng Sông Hồng; ĐNB = Đông Nam Bộ

2.5 Người DTTS vẫn tạo ra thu nhập bình quân đầu người ít hơn đáng kể từ nông nghiệp mặc dù phụ thuộc vào nông nghiệp nhiều hơn người Kinh-Hoa (Hình 7) Trong số nông dân trồng trọt, đồng bào DTTS

trung bình tạo ra 4,8 triệu đồng/người hàng năm so với 8,6 triệu đồng/người của người Kinh-Hoa Trong các hoạt động canh tác phi trồng trọt, người DTTS tạo ra thu nhập ít hơn một nửa so với người Kinh-Hoa Ở cấp vùng cũng có sự khác biệt tương tự, nông dân trồng trọt ở vùng Trung du miền núi phía Bắc có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với nông dân ở các vùng ĐBSCL, ĐNB và TN

Hình 7 Thu nhập bình quân hàng năm theo vùng và dân tộc (VND, triệu), 2018

4.8

8.6

6 4 6 4

8 9

3

7

Thu nhập bình quân đầu người (triệu đồng)

Kinh & Hoa Dân tộc thiểu số

Đồng Bằng Sông Cửu Long

Đông Nam Bộ Tây Nguyên Duyên Hải Bắc Trung Bộ Trung du và miền núi phía Bắc

Đồng Bằng Sông Hồng

Nông nghiệp ngoài trồng trọt Trồng trọt

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018

Ghi chú: Đối với từng nguồn thu nhập, việc so sánh chỉ giới hạn ở các hộ gia đình báo cáo loại thu nhập đó.

Trang 28

2.6 Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt về năng suất nông nghiệp cũng góp phần vào sự chênh lệch thu nhập giữa các vùng và các nhóm dân tộc Ngoài việc giảm chênh lệch thu nhập, thu hẹp khoảng cách

trong nông nghiệp thậm chí còn quan trọng hơn đối với chương trình giảm nghèo, do sự phụ thuộc của các hộ nghèo và DTTS vào nông nghiệp nhiều hơn các hộ khác Như những bằng chứng gần đây cho thấy, nông nghiệp vẫn có thể đóng góp đáng kể vào việc giảm nghèo. Ví dụ, một phần tư tỷ lệ giảm nghèo là do giảm tỷ lệ nghèo

ở các hộ gia đình thuần nông, trong khi đóng góp của nông nghiệp trong việc giảm nghèo được nhận thấy đặc biệt rõ rệt ở các nhóm đồng bào DTTS (Ngân hàng Thế giới, 2020) Hơn thế nữa, thị trường lao động ngày

càng chia tách với những lao động ít học và cao tuổi chủ yếu làm nông nghiệp vì họ phải đối mặt với hạn chế

về cơ hội tiếp cận việc làm phi nông nghiệp (NHTG, 2019) Điều đó khiến việc tăng thu nhập từ nông nghiệp trở thành con đường thoát nghèo khả thi nhất cho một bộ phận dân số đáng kể Phân tích được trình bày dưới đây sẽ lột tả những nhân tố quyết định hiệu suất nông nghiệp để hiểu rõ hơn những thách thức chính trong việc tăng thu nhập từ nông nghiệp giữa các nhóm tụt hậu ở Việt Nam

Khép lại Khoảng cách Năng suất Lao động ở Việt Nam

2.7 Nhiều nhà nghiên cứu về phát triển nông nghiệp (ví dụ như Christiansen, Demery, Kuhl 2011; Johnston và Mellor 1961; Mellor 1995; Timmer 1988) đã chỉ ra rằng nâng cao năng suất lao động nông nghiệp có thể đóng nhiều vai trò trong quá trình phát triển rộng lớn hơn Năng suất lao động nông nghiệp

cao hơn làm tăng thặng dư ngân sách của người lao động trong nông nghiệp sau khi chi tiêu cho lương thực

và vì thế làm tăng thu nhập thực tế của họ cũng như kích thích nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ ngoài thực phẩm Đồng thời, năng suất lao động nông nghiệp cao hơn giải phóng lao động nông nghiệp từ sản xuất lương thực sang sản xuất hàng hóa dịch vụ khác do cần ít lao động hơn để sản xuất lương thực mà xã hội yêu cầu Do đó, tăng năng suất lao động nông nghiệp ở các nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn đi đôi với việc tăng hiệu suất hoạt động của người nghèo và các nguồn lực trọng yếu (đất và lao động nông nghiệp),

nâng cao thu nhập thực tế của họ và kích thích cung và cầu hàng hóa và dịch vụ ngoài thực phẩm (Dorward 2013) Việc tạo ra đồng thời cung và cầu này rất quan trọng cho việc chuyển đổi cơ cấu (Alexiadis 2005, Farole, Goga, và Ionescu-Heroiu) Xu hướng này phù hợp với những gì đã thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ở Châu Âu và hầu hết các nước phát triển bao gồm cả các nền kinh tế mới nổi như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển của họ

2.8 Phân tích này sử dụng dữ liệu ở cấp hộ gia đình từ VHLSS 2018 Năng suất lao động nông nghiệp

được tính bằng giá trị gia tăng nông nghiệp trên một ngày công, dựa trên giá trị sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra trừ đi giá trị đầu vào trung gian của hộ gia đình được dùng trong việc sản xuất hàng hóa nông nghiệp Phân tích xác định sự khác biệt về giá trị gia tăng và năng suất lao động bình quân giữa các khu vực, hàng hóa, quy mô sử dụng đất và nhóm dân tộc nông dân Ngoài ra, phân tích cũng sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến năng suất lao động Các yếu tố đó bao gồm các yếu

tố sản xuất (đất đai, lao động và đầu vào); nhân tố chuyển dịch (tưới tiêu, khuyến nông và máy móc); hệ thống sản xuất cây trồng (nghĩa là lựa chọn cây trồng); kỹ năng và kiến thức quản lý của nông dân; đặc điểm hộ gia đình; và các biến số kiểm soát khác ở cấp tỉnh (tỷ lệ dân số thành thị, doanh nghiệp nông nghiệp, khả năng tiếp cận tín dụng nông nghiệp, và khoảng cách đến thị trường tiêu thụ hàng hóa nông nghiệp) bao gồm cả các vùng giả định Ước tính giá trị gia tăng nông nghiệp và năng suất lao động nông nghiệp cùng với đất đai được tóm tắt trong Hộp 2 Thống kê chi tiết các biến sử dụng trong phân tích hồi quy được trình bày trong Phụ lục 2

Trang 29

Hộp 2: Ước tính giá trị gia tăng nông nghiệp và hiệu suất lao động

Giá trị gia tăng trên hộ gia đình (VA hi ) được tính toán như trong phương trình 1, trong đó Q hi là tổng sản lượng của hộ

gia đình h của hàng hóa i và P i là giá thành phẩm trên đơn vị hàng hóa trong khi M hi và C i tương ứng với số lượng đầu vào trung gian mà hộ gia đình sử dụng trên tổng sản lượng hàng hóa và chi phí đơn vị đầu vào trung gian

Bảng 4: Dân số DTTS theo khu vực và sự đóng góp vào tỷ lệ nghèo 2018

là vùng Trung du miền núi phía Bắc so với các vùng phía Nam (Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long) và/hoặc do sự khác biệt trong chính các vùng

Sự khác biệt giữa các Vùng trong Năng suất Nông nghiệp

2.10 Nhìn chung, các vùng nông nghiệp có năng suất cao nhất cả về năng suất lao động và đất đai là vùng Đồng Bằng SCL, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Hình 9 cho thấy viễn cảnh không gian đối với năng suất

Trang 30

nông nghiệp ở tất cả các vùng và tỉnh thành ở Việt Nam Điều này cho thấy hầu hết các khu vực ở Trung du và miền núi phía Bắc có năng suất thấp hơn so với các khu vực miền Trung, Đông Nam Bộ và các vùng phía Nam của cả nước, mặc dù có nhiều tỉnh (có sản lượng chăn nuôi và thủy sản nhiều hơn) ở phía Bắc Trung Bộ và các khu vực ven biển cũng có năng suất cao Sự khác biệt về tổng giá trị gia tăng trên tổng giá trị và giữa các mặt hàng phản ánh sự khác biệt về năng suất theo vùng Các vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Tây nguyên có tổng giá trị gia tăng cao hơn 59-77% so với vùng Trung du và miền núi phía Bắc Đồng bằng Sông Cửu Long có giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân cao nhất trong tất cả các vùng (Bảng 5).

Bảng 5: Giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân trên hộ gia đình theo nhóm hàng hóa và khu vực (nghìn đồng) 2018

Lúa gạo năm khác Cây hàng Cây lâu năm Gia súc gia cầm Thủy/Hải sản Tất cả các mặt hàng

Nguồn: dựa trên số liệu VHLSS 2018.

Hình 8 Năng suất cây trồng (t/ha) theo khu vực, 2018

2.11 Loại hàng hóa hoặc các mặt hàng được sản xuất quyết định lượng giá trị gia tăng đạt được, tạo

ra sự khác biệt giữa các vùng (xem Bảng 5) Cây công nghiệp (cà phê, hạt tiêu, và điều) và cây ăn quả có xu

hướng đóng góp nhiều hơn vào tổng giá trị gia tăng của cây trồng hơn là cây lúa và các cây lương thực khác, chủ yếu là do chênh lệch giá cả hàng hóa, cây trồng trước có giá hơn cây trồng sau Giá trị gia tăng cao hơn ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ phần lớn là do tỷ trọng sản xuất cây công nghiệp cao hơn, trong khi ở Đồng Bằng SCL, tổng giá trị gia tăng cao hơn là do sự kết hợp của trồng lúa, trái cây và nuôi trồng thủy sản Năng suất cho thấy sự phù hợp của đất đai đối với hàng hóa là khác nhau giữa các khu vực (Hình 8) Sản lượng cà phê trên một hecta cao nhất ở khu vực Tây Nguyên Năng suất chè cao hơn ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc cũng

Trang 31

như vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, trong khi năng suất lúa và cây trồng hàng năm nói chung cao hơn ở ĐBSCL, nơi chè và cà phê hiếm khi được sản xuất

2.12 Tuy nhiên, giá cả hay giá trị của hàng hóa và khả năng tiếp cận đất đai cũng góp phần vào sự khác biệt nhận thấy về giá trị gia tăng Chênh lệch năng suất lúa giữa các vùng thấp hơn nhiều so với chênh lệch

về giá trị gia tăng Sản lượng thóc tương ứng là 5,7 tấn/ha và 4,7 tấn/ha đối với vùng ĐBSCL và Trung du miền núi phía Bắc (Hình 8), tuy nhiên giá trị gia tăng bình quân của lúa ở ĐBSCL cao hơn gấp bẩy lần Có thể so sánh tương tự giữa vùng Trung du và miền núi phía Bắc với vùng Đông Nam Bộ về cà phê Điều này cho thấy rằng việc kiểm soát giống và chất lượng, giá cả hàng hóa hoặc chi phí đầu vào và đất đai giải thích phần lớn sự khác biệt về giá trị gia tăng so với sự khác biệt về sản lượng giữa các loại hàng hóa cây trồng

Hình 9 Giá trị gia tăng nông nghiệp theo vùng, ngành hàng và quy mô đất đai (triệu đồng/năm) 2018

LÚA GẠO CÂY TRỒNG KHÁC CÂY LÂU NĂM

dưới 0.5 ha 0.5 - 1.0 ha 1 - 2 ha trên 2 ha

Nguồn: Theo số liệu VHLSS 2018.

2.13 Diện tích đất canh tác càng cao thì giá trị gia tăng bình quân của tất cả các vùng càng cao Nông dân

có diện tích đất canh tác từ 2 héc ta trở lên đạt được giá trị gia tăng cao hơn đáng kể trên tất cả các loại cây trồng so với các nông trại nhỏ hơn đặc biệt là những hộ có diện tích nhỏ hơn 1 héc ta (Hình9) Điều này có

ngĩa là lượng đất có sẵn để trồng trọt quyết định giá trị gia tăng có thể đạt được - các nông trại tương đối lớn hơn có thể đạt được quy mô kinh tế đủ để cho phép họ sản xuất nhiều cây công nghiệp có giá trị cao hơn so với các nông trại nhỏ quá mức chỉ có thể đáp ứng được các loại cây lương thực có giá trị thấp Tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng cho các mặt hàng thâm dụng đất như cây lương thực có giá trị thấp hoặc cây công nghiệp lâu năm Một số mặt hàng có giá trị cao nhưng ít thâm dụng đất hơn như rau và nuôi trồng thủy sản hoặc chăn nuôi sẽ mang lại giá trị gia tăng cao hơn ngay cả khi đất đai là một hạn chế

2.14 Ở Việt Nam, quy mô trang trại trung bình đặc biệt nhỏ, không chỉ so với các nước có nhiều đất mà còn so

sánh với cả các nước có mật độ dân số cao và hạn chế về đất đai khác ở Châu Á Quy mô trang trại trung bình

ở Châu Âu, Brazil, và Mỹ là 17, 20 và 181 hec-ta Quy mô trang trại trung bình ở Việt Nam là dưới 0,5 hec-ta

Các nông trại nhỏ có thể hiệu quả về mặt kỹ thuật trong việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất, nhưng vẫn

có nhiều sự kém hiệu quả liên quan đến trang trại nhỏ trong bối cảnh hiện đại hóa hệ thống lương thực Một

số vấn đề lớn hơn liên quan đến đất nông nghiệp ở Việt Nam là: (i) mô hình đất đai vẫn còn manh mún (và sản xuất trang trại); (ii) tốc độ chậm và quy mô hạn chế của sự dịch chuyển từ nông dân (hay nhà đầu tư) kém hiệu quả sang hiệu quả hơn thông qua việc cho thuê hay buôn bán nông nghiệp; và (ii) nhiều đất đai không được giao cho mục đích sử dụng có lợi và hiệu quả nhất (ví dụ một phần lớn diện tích đất canh tác chỉ được sử dụng

để trồng lúa) Những điều kiện hoặc mô hình này ngăn cản đầu tư vào nông nghiệp, tốc độ đa dạng hóa nông nghiệp và việc thực hiện lợi thế quy mô trong sản xuất nông nghiệp và các hoạt động chuỗi giá trị hạ nguồn

Trang 32

2.15 Những thách thức liên quan đến quy mô và quyền sử dụng đất có khả năng mức tạp hơn đối với các DTTS ở vùng miền núi phía Bắc Những thách thức này nảy sinh do địa hình hiểm trở và chất lượng đất canh

tác thay đổi, cũng như diện tích đất rừng đáng kể đang được chính phủ bảo tồn Chính phủ Việt Nam đã thực hiện rất nhiều chiến lược để cải thiện khả năng tiếp cận đất đai và đảm bảo quyền sử dụng đất đai cho người DTTS thông qua một số Quyết Định và Nghị Định.10 Chẳng hạn, đến năm 2018 diện tích rừng được giao cho cộng đồng người DTTS là hơn 805,000 hecta (chiếm khoảng 71,4% tổng diện tích đất rừng được giao cho cộng đồng cả nước); diện tích được giao để sử dụng đất đạt 345,700 (khoảng 42,9% tổng diện tích được giao cho đồng bào DTTS).11 Mặc dù điều này đã cải thiện việc quản lý rừng bằng cách giảm tình trạng khai thác gỗ trái phép và khai thác rừng không bền vững trên quy mô lớn, nhưng vẫn cần có luật cụ thể để công nhận quyền đất đai theo tập quán của người DTTS, bảo vệ đất của người DTTS khỏi các áp lực phát triển khác từ bên trong

và bên ngoài cộng đồng của họ, như đã xảy ra ở các nước khác như Phillipines.12

Các yếu tố Giải thích sự Khác biệt về Năng suất Nông nghiệp giữa các Khu vực

2.16 Các yếu tố quyết định sự thay đổi theo vùng trong năng suất nông nghiệp rất đa dạng, bao gồm hệ thống trang trại, đất đai, giá cả và các yếu tố chuyển dịch năng suất Phân tích hồi tuy đa biến cho thấy thành

phần nào trong số này có liên quan chặt chẽ đến năng suất nông nghiệp Việc phân tích được thực hiện trên

cả năng suất lao động tổng hợp kết hợp với trồng trọt và nuôi trồng chủy sản và chỉ dựa trên năng suất lao động đối với trồng trọt vì một số yếu tố cụ thể hơn đối với canh tác cây trồng

2.17 Năng suất lao động là cao nhất trong các hệ thống trang trại dựa vào trồng cây công nghiệp hoặc lâu năm và nuôi trồng thủy sản So với hệ thống trang trại dựa vào cây trồng hàng năm, năng suất lao động

cao hơn 74% trong hệ thống trang trại dựa vào nuôi trồng thủy sản và cao hơn 57% đối với hệ thống trang trại công nghiệp hoặc cây lâu năm hộ gia đình Khác với khu vực ĐBSCL, có sự khác biệt nhỏ, thường không đáng

kể, giữa trồng lúa và hệ thống trang trại trồng cây hàng năm khác Ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, năng suất lao động của các hộ làm nghề rừng, trồng cây lâu năm, công nghiệp và nuôi trồng thủy sản cao hơn từ 43% đến 47% Tuy nhiên, chỉ có hệ thống trang trại trồng cây công nghiệp hoặc lâu năm mới có năng suất lao động cao hơn so với hệ thống sản xuất dựa vào cây trồng hàng năm Do đó, trong khi năng suất lao động cao

ở những hệ thống trang trại trồng lúa ở vùng ĐBSCL, thì ở các nơi khác năng suất lao động lại cao hơn trong các hệ thống trang trại dựa vào cây công nghiệp hoặc cây lâu năm hoặc nuôi trồng thủy sản

10 Ví dụ, Nghị Định số 45/2014/ND-CP quy định miễn giảm tiền sử dụng đất và tiền thuê đất để tạo điều kiện tiếp cận tối đa đất đai đặc biệt đối với những người gặp khó khăn về tiền phí và tiền thuê đất cao, bao gồm hầu hết các nhóm đồng bào DTTS

11 Theo CEMA, 2018.

12 Đạo luật Quyền của người bản địa Philippines (1997)

Trang 33

Hình 10 Tỷ trọng giá trị gia tăng cây nông nghiệp theo hàng hóa, 2018

phía Bắc

Bắc trung Bộ và duyên hải miền Trung

Tây Nguyên Đông Nam Bộ ĐBSCL Vietnam

lúa gạo cây trồng hàng năm khác cây lâu năm

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018.

2.18 Các mô hình sử dụng đất không tối ưu do vậy mà góp phần vào sự khác biệt giữa các vùng về năng suất lao động Nông dân ở các vùng Trung du và miền núi phía Bắc vẫn phụ thuộc nhiều hơn vào cây lương

thực và lúa gạo so với các cây trồng lâu năm và cây ăn quả có thể mang lại năng suất cao hơn ở khu vực đó (Hình 10) Khoảng 32% giá trị gia tăng trong vùng và từ trồng cây lâu năm, so với 80-81% ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, nơi năng suất đất trồng cây công nghiệp hoặc cây lâu năm cũng cao nhất

2.19 Nông dân ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc cũng gặp khó khăn bởi khả năng tiếp cận đất đai hạn chế, đặc biệt là đối với đất trồng cây lâu năm Trong số nông dân có các thuộc tính tương tự khác ngoài

quy mô trang trại, năng suất lao động cao hơn 2,8% đối với mỗi tỷ lệ phần trăm tăng đất trồng cây lâu năm hoặc công nghiệp so với diện tích đất trung bình, tuy nhiên nông dân ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc

có khả năng tiếp cận đất trồng cây lâu năm thấp hơn do hai lý do – trung bình họ có diện tích đất nhỏ hơn, và phần lớn diện tích đất đó được sử dụng để trồng cây hàng năm hơn là trồng cây lâu năm Điều này phù hợp với tài liệu nói rằng phân bổ nguồn lực của người nghèo trong nông nghiệp có xu hướng ưu tiên các loại cây lương thực mang lại giá trị thấp Điều này phần lớn là do sự hội nhập kém của thị trường lương thực, nơi giá

cả chênh lệch giữa sản xuất nông nghiệp và thị trường khiến nhiều hộ gia đình nghèo (bao gồm cả người DTTS) phải sử dụng đến cân bằng sinh hoạt ở mức thấp và hệ thống canh tác thiên về lúa gạp và các cây lương thực đáp ứng cơ bản an ninh lương thực

Hình 11 Phân bố quy mô đất đai theo khu vực (% quy mô trang trại theo loại đất), 2018

Tây Nguyên Đông Nam Bộ ĐBSCL Việt Nam

<0.2ha 0.2-0.5ha 0.5-1 ha 1-2ha >=2ha

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018.

Trang 34

Bảng 6: Năng suất lao động tính theo đất (nghìn đồng), 2018

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018.

2.20 Quy mô trang trại ở Việt Nam nhìn chung còn nhỏ và rất manh mún, tệ nhất là ở khu vực Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng Sông Hồng Ở cấp quốc gia, hơn 65% nông dân canh tác dưới 1 hecta, trong

đó gần 40% canh tác dưới nửa hecta Chí có khoảng 14% canh tác trên 2 hecta Tỷ lệ chia nhỏ đất canh tác cao nhất ở Đồng bằng Sông Hồng, miền núi phía Bắc, Duyên Hải Bắc Trung Bộ (Hình 11) nơi có từ 32% đến 59% số trang trại có diện tích nhỏ hơn 0,2 hecta Ngược lại, hơn một nửa số nông dân ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

có ít nhất là 1 hecta đất Năng suất lao động thấp hơn đáng kể ở các hộ nông dân sản xuất nhỏ, trong và giữa các vùng (Bảng 6)

2.21 Như vậy, diện tích đất canh tác ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc được sử dụng cho cây hàng năm thay vì cây công nghiệp hoặc cây lâu năm Khoảng 93% nông dân có quyền sử dụng đất hàng năm, nhưng

chỉ 29% có quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm có năng suất cao hơn Ngược lại, các hộ ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có khả năng tiếp cận nhiều hơn với mô hình cây lâu năm (Hình 12) Những nghiên cứu trước đây (NHTG 2019a) đã chỉ ra rằng, ngoài tình trạng đất manh mún, các hạn chế về quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sự dụng đất đã kìm hãm hoạt động sản xuất cây lâu năm hay cây công nghiệp ở quốc gia này

Hình 12 Tiếp cận đất đai theo loại đất (%), 2018

Đất trồng cây hàng năm Đất trồng cây lâu năm Đất rừng

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018.

Trang 35

2.22 Địa hình đất đai khác nhau giữa các vùng cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt về năng suất Ngay cả khi đã kiểm soát được các yếu tố khác, năng suất lao động trong canh tác cây trồng ở các xã

miền núi thấp hơn khoảng 58% so với các xã hội đồng hoặc đồng bằng Khi tính cả nuôi trồng thủy sản, năng suất lao động ở các xã miền núi thấp hơn 47% Điều này có thể là do địa hình, thường thấp hơn và nông hơn

ở các vùng miền núi Sự khan hiếm tài nguyên đất và nước ảnh hưởng tới nông trồng thủy sản

Hình 13 Tỷ lệ đất được tưới tiêu ở xã theo loại đất, 2018

0.79 0.65

0.90 0.73 0.64

0.57 0.35

0.88 0.61

0.70

Việt Nam Trung du và miền núi phía Bắc

ĐBSCL Đông Nam Bộ Tây nguyên

Tỷ lệ diện �ch trồng cây lâu năm được tưới Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018

2.23 Khả năng tiếp cận thủy lợi đối với cây lâu năm và cây công nghiệp thúc đẩy tăng năng suất lao động

Cơ sở hạ tầng thủy lợi ở Việt Nam hướng đến cây lúa (Hình13) Do vậy, lợi ích cận biên từ đầu tư thủy lợi cao hơn đối với cây lâu năm và cây công nghiệp Các ước tính cho thấy năng suất lao động trong trồng trọt cao hơn 6,7% ở các xã có tỷ lệ đất trồng cây lâu năm được tưới cao hơn 10 điểm phần trăm, nhưng có mối tương quan nghịch đối với đất trồng cây hàng năm Không có mối quan hệ đáng kể nảo được ghi nhận giữa tỷ lệ đất được tưới ở cấp xã và năng suất lao động ở vùng Trung du miền núi phía Bắc nơi khả năng tiếp cận tưới tiêu thường

là thấp hơn Kết quả cho thấy rằng, chi phí tư nhân vào tưới tiêu, phản ánh cường độ tưới, có liên quan đến việc tăng năng suất lao động lên khoảng 2% trên mỗi phần trăm tăng đầu tư cá nhân cho công tác thủy lợi

2.24 Năng suất lao động được cải thiện đáng kể nhờ khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn, đặc biệt là ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Một ngôi làng điển hình ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc cách khu

vực gần nhất trong số sáu khu vực thành phố lớn của Việt Nam, là những thị trường lương thực lớn, khoảng 250km. Các ước tính cho thấy, một ngôi làng càng xa thành phố lớn bao nhiêu thì năng suất lao động trung

bình lại thấp hơn 8% đối với mỗi phần trăm mức tăng khoảng cách tới thành phố lớn và ít nhất 20% ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Nó nêu bật thách thức về hậu cần trong việc đưa sản phẩm đến với thị trường, khi chất lượng giảm sút và các nhà sản xuất quy mô nhỏ phải bán hàng thông qua người trung gian hoặc đại

lý Việc bị ngắt kết nối với thị trường thậm chí có thể không khuyến khích sự tham gia vào thị trường Giá cả tương đối là một khả năng khác trong sự khác biệt về năng suất nông nghiệp Năng suất lao động trong trồng trọt cao hơn 14 điểm phần trăm ở các huyện có giá cả cao gấp đôi mức trung bình của cả nước ở Trung du và miền núi phía Bắc và tăng tương ứng ở Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long

2.25 Những đặc tính cụ thể của nông hộ và trang trại có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng cũng tạo ra

sự khác biệt về năng suất Những điều này chủ yếu liên quan đến cường độ và thành quả của ứng dụng đầu

vào, kỹ năng quản lý trang trại, cung ứng lao động hộ gia đình và phân bổ giữa lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp Chúng cũng bao gồm cả việc sử dụng lao động làm thuê, đất thuê và cơ giới hóa nông nghiệp

Trang 36

2.26 Trong số các yếu tố sản xuất khác nhau, việc sử dụng đầu vào – xét cả về mặt cường độ sử dụng và lợi tức sử dụng đầu vào – đóng góp nhiều hơn vào chênh lệch năng suất lao động trong khu vực Tỷ lệ phần

trăm lượng phân bón vô cơ được sử dụng tăng lên tương ứng với việc tăng 14% năng suất lao động canh tác cây trồng sau khi đã tính đến các động lực khác của năng suất lao động Chi phí gia tăng cho thuốc trừ sâu

và chi phí hạt giống/cây giống/nhân giống tương ứng với việc tăng năng suất lao động canh tác cây trồng lần lượt là 2,8% và 4% Tuy nhiên, lợi nhuận của việc sử dụng đầu vào khác nhau giữa các khu vực Ví dụ cụ thể đối với năng suất lao động trong canh tác cây trồng, tỷ lệ hoàn vốn sử dụng phân bón vô cơ của nông dân ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc bằng một nửa tỷ lệ lợi nhuận ở các vùng khác Tuy nhiên, nông dân ở vùng trung du và miền núi phía Bắc có lợi nhuận cao hơn nhiều – hơn gấp đôi – so với chi phí hạt giống/cây giống

Tỷ suất lợi nhuận sử dụng phân bón thấp hơn ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc có thể phản ảnh việc bón quá nhiều phân vô cơ trên lúa, cao hơn mức trung bình của cả nước khoảng 22%/hecta Trong khi đó, nông dân trong khu vực này chi tiêu cho hạt giống/cây giống trên một đơn vị diện tích đất trồng cây hàng năm và lâu năm ít hơn 20% so với mức trung bình của cả nước

2.27 Có mối quan hệ tích cực giữa cơ giới hóa nông nghiệp và năng suất lao động ở Việt Nam Các ước

tính cho thấy năng suất lao động cao hơn 2,3% cho một phần trăm chi tiêu tăng lên vào chi phí hoạt động của thiết bị nông nghiệp riêng hoặc đi thuê Trong khi hầu hết nông dân ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc cho biết chi phí sử dụng thiết bị nông nghiệp, mức chi tiêu trung bình của họ thấp hơn 40% mức bình quân, phản ánh mức độ cơ giới hóa nông nghiệp thấp (Hình 14) Tuy nhiên, kết quả về năng suất lao động canh tác cây trồng kém rõ rệt giữa các vùng, chỉ có ý nghĩa thống kê ở Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long là những nơi có xu hướng sử dụng diện tích lớn hơn

2.28 Khả năng tiếp cận tín dụng bị hạn chế có thể là một yếu tố chính ảnh hưởng đến việc sử dụng đầu vào bao gồm cả cơ giới hóa Mặc dù tín dụng nông thôn đã tăng lên trong những năm gần đây, một nghiên

cứu được thực hiện năm 2015 cho thấy vẫn còn một tỷ lệ lớn (gần 70%) hộ gia đình hoặc không có hoặc hạn chế tiếp cận tín dụng Trong hơn một thập kỷ qua, chính phủ Việt Nam đã mở rộng các chính sách cho vay nhằm mang lại lợi ích cho người nghèo bao gồm cả đồng bào DTTS Những chính sách này đã giúp cho người nghèo, các hộ cận nghèo DTTS được tiếp cận nhiều hơn với các cơ hội tín dụng, góp phần phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững Tuy nhiên, những vướng mắc trong triển khai, thời hạn tín dụng không thuận lợi và trình độ hiểu biết về tài chính hạn chế đã làm giảm việc sử dụng hiệu quả các nguồn tín dụng của đồng bào DTTS

Hình 14a Chi tiêu trong sử dụng thiết bị nông nghiệp

(triệu đồng), 2018 Hình 14b Tỷ lệ hộ gia đình có ít nhất bốn lao động làm nông nghiệp (%), 2018

6.6 4.4

12.2 5.9

5.5 5.2

14.3

0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 Việt Nam

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

Trung du và miền núi phía Bắc Đồng Bằng Sông Hồng

10 6 3

14 9

23 2

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2010–18 và tổng hợp từ nhiều khảo sát của NHTG

Trang 37

2.29 Cuối cùng, bằng chứng cho thấy rằng lao động dư thừa hay thất nghiệp trá hình làm giảm năng suất lao động ở một số khu vực vì lao động làm thuê có xu hướng năng suất cao hơn lao động gia đình Năng

suất lao động thấp hơn đáng kể ở các hộ có tỷ lệ thành viên làm nông nghiệp cao hơn Năng suất lao động của các hộ lớn, tức là các hộ có thêm một người trên quy mô hộ trung bình của cả nước, thấp hơn 8% Tuy nhiên, lợi nhuận của lao động làm thuê là dương vì năng suất lao động cao hơn khoảng 2% trên mỗi phần trăm gia tăng chi phí thuê lao động Điều này cho thấy lao động dư thừa hoặc thất nghiệp trá hình làm giảm năng suất lao động của nông trại Đây có thể là một vấn đề của vùng Trung du và miền núi phía Bắc nơi có hơn 23% hộ nông nghiệp có ít nhất 4 người làm nông, cao hơn gấp đôi so với trung bình của cả nước (Hình 14b)

Các Yếu tố Giải thích sự Khác biệt về Năng suất Lao động giữa các Dân tộc Thiểu số

2.30 Thu nhập nông nghiệp trên đầu người của DTTS thấp hơn phần lớn phản ánh sự khác biệt về giá trị gia tăng giữa các vùng và cả trong từng vùng Cả người DTTS và người Kinh-Hoa ở các vùng năng suất thấp

về cơ bản có thu nhập thấp hơn đáng kể so với nhóm dân tộc tương ứng của họ ở những vùng năng suất cao hơn (Bảng 7) Trong một vài trường hợp, chênh lệch giữa các vùng cao hơn đối với người Kinh- Hoa Ví dụ, giá trị gia tăng bình quân từ trồng trọt của người Kinh-Hoa ở Tây Nguyên cao gấp bốn lần vùng Trung du và miền núi phía Bắc, trong khi chênh lệch giữa các DTTS cao gấp 2 lần Trong vùng Trung du miền núi phía Bắc và Đông Nam Bộ, không có sự chênh lệch về giá trị gia tăng bình quân giữa các dân tộc mặc dù thu nhập bình quân đầu người của các DTTS cao hơn một chút ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc

Bảng 7: Giá trị gia tăng hộ gia đình nông nghiệp theo nhóm hàng hóa, khu vực và dân tộc (nghìn đồng), 2018

Cây công

nghiệp

Kinh-Hoa 16,997 23,109 30,124 67,850 61,075 40,000 43,531DTTS 8,297 11,823 7,225 36,487 59,094 10,024 5,742

Cây ăn trái Kinh-Hoa 2,318 4,814 4,363 3,470 1,558 15,444 6,528

Cây canh tác Kinh-Hoa 14,327 15,516 15,242 64,828 54,393 53,074 27,834

DTTS 12,343 17,738 12,245 37,672 54,454 31,924 20,508

Nguồn: Dựa vào số liệu VHLSS 2018

Ghi chú: CH = Tây Nguyên; MRD = ĐBSCL; NCC = Duyên hải Bắc Trung Bộ; NMM = Trung du miền núi phía Bắc; RRD = Đồng bằng Sông Hồng; SE = Đông Nam Bộ

Trang 38

Hình 15 Cơ cấu giá trị gia tăng theo loại cây trồng giữa các vùng, 2018

miền núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và

miền núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và

Nguồn: Dựa vào số liệu VHLSS 2018

2.31 Có sự khác biệt nhỏ trong cơ cấu giá trị gia tăng nông nghiệp giữa các dân tộc Kinh-Hoa và các dân tộc khác Ngoại trừ ở vùng Đông Nam Bộ, người Kinh-Hoa ở các vùng khác tạo ra giá trị gia tăng nông nghiệp

từ cây công nghiệp và cây lâu năm cao hơn các DTTS Ví dụ, ở Trung du và miền núi phía Bắc, trên 75% giá trị gia tăng của ngành trồng trọt là từ lúa gạo và các loại cây lương thực khác, có nghĩa là một phần đáng kể giá trị gia tăng nông nghiệp của họ là từ cây lương thực (Hình 15) Tuy nhiên, tỷ lệ các DTTS trồng cây công nghiệp cũng khá cao ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ so với vùng ĐBSSCL Do đó, khi các ưu đãi phù hợp được cung cấp, ngay cả các nhóm DTTS cũng có khả năng trồng các loại cây có khả năng mang lại giá trị kinh tế cao

Hình 16 Cơ cấu giá trị gia tăng theo loại cây trồng giữa các vùng, 2018

miền núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và

miền núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và

lúa gạo cây trồng hàng năm khác cây lâu năm lúa gạo cây trồng hàng năm khác cây lâu năm

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018

Trang 39

2.32 Năng suất đất đai của người Kinh-Hoa cao hơn so với các nhóm dân tộc khác ở tất cả các vùng So

sánh năng suất ở Trung du và miền núi phía Bắc và khu vực Tây nguyên – những vùng có tỷ lệ đồng bào DTTS không cân đối – cho thấy năng suất trung bình của hầu hết các loại cây trồng ở những vùng này của người Kinh-Hoa cao hơn so với những dân tộc khác (Hình 16) Các trường hợp ngoại lệ duy nhất là lúa, cây lương thực và hồ tiêu, ở đó năng suất gần như ngang bằng giữa các nhóm dân tộc Tuy nhiên, sự khác biệt về năng suất giữa hai nhóm này là đáng kể đối với hầu hết các loại cây trồng công nghiệp

Hình 17 Năng suất đất theo vùng, loại cây trồng và dân tộc

Nguồn: Dựa trên số liệu VHLSS 2018.

2.33 Sự khác biệt giữa các vùng miền được mô tả ở trên đóng góp phần lớn vào chênh lệch năng suất lao động giữa các DTTS, nhưng đây không phải là tất cả các yếu tố góp phần Sau khi kiểm soát các yếu tố

sản xuất, chuyển dịch năng suất, hệ thống canh tác và thuộc tính hộ gia đình, năng suất lao động của các hộ Kinh-Hoa cao hơn 34% Ngay trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc, năng suất lao động của người Kinh-Hoa cũng cao hơn 31% so với các hộ DTTS khác Điều này cho thấy sự khác biệt nội vùng về năng suất giữa các DTTS và đa số Tuy nhiên, chênh lệch năng suất lao động giữa các vùng hẹp hơn đáng kể so với chênh lệch giữa các nhóm dân tộc ở cấp quốc gia Ví dụ, chênh lệch giữa các nhóm dân tộc ở Trung du và miền núi phía Bắc chưa bằng một nửa mức chênh lệch ở cấp quốc gia cho thấy rằng một phần đáng kể chênh lệch về năng suất lao động của các DTTS là do sự khác biệt giữa các vùng miền

2.34 Sự khác biệt về năng suất lao động giữa các nhóm dân tộc trong vùng Trung du và Miền núi phía Bắc chủ yếu do chênh lệch về vốn con người chứ không phải là do các yếu tố sản xuất Các DTTS trong vùng có

nhiều loại đất hơn so với người Kinh-Hoa (Hình 17) Tỷ lệ người DTTS được tiếp cận và tham gia sản xuất cây lâu năm cao hơn đa số Tuy nhiên, năng suất lao động của các DTTS trong vùng lại bị ảnh hưởng bởi vốn nhân lực thấp và cung lao động dư thừa Có đến hơn 22% người lao động nông nghiệp DTTS chưa bao giờ đi học so với tỷ lệ 2% ở người Kinh-Hoa Tỷ lệ lao động nông nghiệp có trình độ trung học cơ sở trở lên (69%) của người Kinh-Hoa cao hơn đáng kể so với tỷ lệ này ở người DTTS (39%) Tỷ suất sinh lợi cho giáo dục về năng suất nông nghiệp trong khu vực dao động từ 13% đối với giáo dục trung học cơ sở đến 24% đối với giáo dục đại học Do

đó, trình độ học vấn thấp của người DTTS dẫn dến kỹ năng quản lý trang trại thấp và cản trở việc áp dụng công nghệ cũng như tiếp thu các kỹ năng liên quan cần thiết để tăng năng suất nông nghiệp

Trang 40

Hình 18 Quyền sử dụng đất theo nhóm dân tộc,

loại đất và vùng, 2018 Hình 19 Phân bổ hộ gia đình theo nhóm dân tộc và số lao động nông nghiệp

6.104 1.006

5.102 539

5.994 6.426

1.612 564 2.828 855 2.682

10.118

Annual Crop Industrial/Perennial Crop

Annual Crop Industrial/Perennial Crop

Annual Crop Industrial/Perennial Crop

2.36 Tuy nhiên, các yếu tố sản xuất dẫn đến chênh lệch năng suất lao động giữa các DTTS ở Tây Nguyên

và vùng Duyên Hải Bắc Trung Bộ Ở cả hai vùng này, người DTTS có diện tích đất trồng cây lâu năm thấp hơn

khoảng 36% so với người Kinh-Hoa nhưng thay vào đó họ lại có lượng đất trồng cây hàng năm nhiều gấp đôi (Hình 18) Do vậy, đồng bào DTTS có thu nhập ít hơn từ cây công nghiệp (và nuôi trồng thủy sản ở vùng Duyên Hải Bắc Trung Bộ), điều này giải thích cho cả chênh lệch về tổng giá trị gia tăng và năng suất lao động Điều này càng trở nên trầm trọng hơn do cùng một nguồn vốn nhân lực thấp và vấn đề cung cấp lao động nông nghiệp

dư thừa ảnh hưởng đến các DTTS ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc như đã giải thích ở trên

Ngày đăng: 18/08/2022, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w