1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới

516 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 516
Dung lượng 37,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới Châm Cứu Diễn Giãi - đỗ thế giới

Trang 1

CHAM CUU DIEN GIAI

Trang 2

Đỗ Thế Giới

CHÂM CUU DIEN GIAI

2003

Trang 3

Lời Giới Thiệu

Lịch sử loài người là một quá trình sinh hoạt tiến hóa không ngừng, mưu câu sự sống còn và bảo đầm hạnh phúc con người

Từ nguyên thủy, con người được tạo dựng bởi một Đấng tối cao là Chứa Trời Đất; Sinh, ï,ão, Bệnh, Tử đều do Ngài quan phòng bất khả xâm pham

Chính vì Khái niệm Sinh ï,ão Bệnh Tử, trẻ thì phụng sự gia đìnhxã hội, già thì trau dổi đạo đức do kinh nghiệm cuộc sống, để xứng đáng

là những bậc tiễn hối gương mẫu cho thế hệ mai sau

Vì lý do nêu trên, Hội Cao Niên Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange được hình thành năm 1986 do một nhóm các cụ có hoài bão, không ngoài mục đích bảo tổn Văn hóa Việt Nam, phát huy truyền

thống đạo đức người Công Giáo Việt Nam hải ngoại, và tương thân tương trợ các hội viên về mặt tỉnh thân cũng như vật chất lúc còn sống

cũng như khi qua đời

Vì thế Cụ Đỗ thế Giới, năm nay tuổi đã khá cao, vẫn còn tham gia các công tác xã hội, đã gia nhập Hội Cao Niên, chức vụ Chỉ trưởng Chỉ Hội Cộng Đoàn Saddlcback, liên tiếp 6 nhiệm kỳ, từ ngày Hội đã được thành lập đến nay

Ngoài công tác xã hội, Cụ còn bổ rất nhiều thì giờ để nghiên cứu phương pháp Châm Cứu, dựa thco các sách Châm Cứu nổi tiếng của

Trung Hoa,cụ đà hoàn tất cuốn sách Châm Cứu Diễn Giải trong nhiều

năm, hầu góp phần vào công việc trị liệu trong lãnh vực Châm Cứu Trong phiên Đại Hội của Hội Cao Niên Công Giáo vừa qua, toàn thể các vị Đại diện đã nhìn nhận cuốn sách Châm Cứu của Cụ biên soạn rất công phu, có giá trị cho những VỊ nào cần tài Hiệu tham khảo thêm về khoa Châm Cứu

iii

Trang 4

Hội Cao Niên Công Giáo Việt Nam chúng tôi hoàn toàn tin tưởng

và trân trọng giới thiệu với toàn thể Quí vị Hội viên trong cũng như

ngoài Hội, nhiệt tâm ủng hộ

Ưđc mong cuốn sách Châm Cứu Diễn Giải này giúp ích phần nào

cho đời sống xã hội con người

HỘI CAO NIÊN CÔNG GIÁO VIỆT NAM

GIÁO PHẬN ORANG

TM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TRUNG ƯƠNG

HỘI TRƯỞNG

GIUSE PHAM NGỌC HỢP

Trang 5

Lời nói đầu

Cuốn sách Châm cứu Diễn giải được hình thành, do hoài bão của người biên soạn, mục đích phổ biến rộng rãi khoa Châm cứu cổ truyền cuả người xưa, biến chuyển không ngừng qua nhiều giai đoạn, không bị

mai một

Gần đây một số Y học gia cố công nghiên cứu, bổ túc và hoàn chỉnh theo đà tiến hóa khoa học , phân loại từng chứng bệnh, kinh qua công việc chữa trị bằng kim châm, ngải cứu thật đơn giản

Đơn giản đối với lãnh vực khoa học, nhưng phẩn lí thuyết và thực hành, đòi hỏi một quá trình ưu việt, quan tâm đến đời sống sức khỏe con người, tự tìm tòi, học hỏi, tiến hành công việc chữa trị theo sở

nguyện

Sau đây trân trọng giới thiệu đại cương, một số chỉ tiết để Quí độc giả tiện bể nghiên cứu

Chương 1 : Trình bẩy khái niệm học thuyết Âm dương, Ngũ hành,

Tạng phủ, phương pháp thủ thuật, luyện ngón tay cầm kim

Chương 2 : Hình dáng các loại kim, hệ thống Kinh, Lạc, Mạch, Âm, Dương, Biểu, Lí

Chương 3 - 8 : Phân loại Kinh mạch, Kì kinh, Bát mạch, Lạc mạch, Kinh cân, Du, Mộ huyệt

Chương 14 : Chuyên khoa về môn Cứu trị bằng cây thuốc, phương pháp này thật đơn giản, nếu ai đã tự học qua môn này, đều có thể xử dụng được; chỉ cần l cây thuốc cuốn như điếu thuốc hút, đốt nóng hơ trên huyệt đạo cách lần da khoảng 2 phân tây, có công hiệu trị các chứng trúng phong, trúng hàn, lạnh đau, tê bại, trúng lạnh, bụng đau, fa chảy; sau khi tiếp nhận hơi nóng qua cây thuốc, trong khoảnh khắc hết đau hết lạnh; chương này còn chỉ dẫn cách thức cuộn thành điếu thuốc theo toa có ghi sẩn trong sách

Trang 6

Chương EŠ : Chỉ đẨn phương pháp Chẩn mạch, đoán bệnh, thị hành

cứu trỊ

Chương 16 — f7 : Hướng đẪn việc thía trị các chứng bệnh thuộc Nội

khoa

Chương 18 : Chỉ dẫn chuyên trị các chứng bệnh phụ nữ và trẻ cm:

chương này đặc biệt có phan phụ khoa nói và TY Ngọ Lạt CinỈ

Tí Ngọ Lưu Chú là phương pháp tinh theo Thiên can, Địa chỉ, NgÀy

nào, Giờ nào, Huyệt nào mở, phương pháp này đồi hỏi người chữa trị,

kinh qua nhiều kinh nghiệm, khi thực hành mới mong thâu hoạch kết

quả; cững như phương pháp Bổ, Tả, về kim, khi nào đạt được khí nơi

tay, nhờ đó bất đẫu khai thác, về kim thco chiểu thuận hoặc nghịch,

thy theo đường kinh lạc

Nói tóm lại đời sống hẦng ngày, sự gÌao tiếp giữa con người với các

môi trường +xÑ hội hiện đại, sức khóc con người dễ bị chỉ phốt bởi

những vấn để màn: sinh, sức khỏc mỗi ngÀy một yếu kém, bệnh tt mỗi

ngÀy một tăng, việc chữa trị đòi hỏi nhiều kinh nghiệm trên phương

điện bệnh lý

Khoa châm cứu không hẦn dã khác phục mọi bệnh tẬt; tuy nhiên với

trình độ, (ÀÍ nĩng afm cd, quan tam đến dời sống sức khỏe con người,

kinh qua tài liệu Y học mỗi ngày một phát triển, ngỡ hẪu chữa trị các

loại bệnh tật, mỗi ngày một hữu hiệu hơn

Công việc biên soạn cuẩn sách Châm cứu Điễn giải này, với số vốn

han hep, thiếu sót rất nhiều, mong các bậc uyên thẩm bổ tác

Hoàn tất cuối Thu năm Canh Thìn 2000,

Soạn giả Đỗ thế Giới

Trang 7

Định nghĩa châm cứu

Âm dương học thuyết châm cứu

Ngũ hành tạng phủ, bát cương tứ chẩn

Ý nghĩa Kinh Lạc, Du huyệt

Thao tác thủ pháp, biện chứng luận trị

Học tập châm cứu từng giai đoạn

Nguồn gốc châm cứu

Diễn tiến châm cứu

Diễn nghĩa nội dung thuyết Kinh Lạc

Biểu hệ thống Kinh Lạc

Danh xưng phân loại Kinh mạch

Ý nghĩa Kì kinh

Đề biểu 12 Kinh mạch hổ tương

Biệt kinh, Kì kinh, Lạc mạch

12 Kinh cân, với sắc thái da thịt

Tác dụng hiệu năng Kinh Lạc

Vệ khí tuân hành tiêu ý đồ

Phương diện bệnh lí

Phương diện chẩn đoán

Kinh mạch giao chéo với giao hội

Ý nghĩa Kinh mạch

Căn kết Tiêu Bản, hòa hợp huyệt

Hợp huyệt

12 Kinh mạch

Thủ Thái âm Phế kinh

Thủ Dương minh Đại tràng kính

Túc Dương minh Vị kinh

Túc Thái âm Tì kình

Thủ Thiếu âm Tâm kinh

Thủ Thái đương Tiểu tràng kinh

Túc Thái dương bàng quang kinh

Túc Thiếu âm Thận kinh

Trang 8

Trang

Thủ Quyết âm Tâm bào 56

Thủ Thiếu dương Tam tiêu kinh 57

Túc Thiếu dương Đởm kinh 59

Túc Quyết âm Can kinh 61

Chương VI Kì kinh Bát mạch tuần hành 64

Giá trị công hiệu của Kì kinh Bát mạch 67

Tuyến đường tuần hành của 12 Kinh mạch 72

Chương VI Lạc mạch cùng Kinh cân 74

Vị trí tuần hành 12 Kinh cân với các chứng bệnh 80

Chuong IX Kinh huyệt Thủ Tam âm : 105

Thủ Quyết âm Tâm bào kinh 110

Thủ Thiếu âm Tâm kinh 113

Kinh huyệt Thủ Tam dương : 117 Thủ Dương minh Đại tràng kinh 117

Thủ Thiếu dương Tam tiêu kinh 124 Thủ Thái dương Tiểu tràng kinh 132

Chương X Kinh huyệt Túc Tam dương : 139

Túc Thiếu dương Đởm kinh 154

Túc Thái dương Bàng quang kinh 169

Trang 9

Chương XI

Chương XI

Chương XHI

Túc Tam âm và Nhâm Đốc kinh mạch :

Tac Thai 4m Ti kinh

Túc Quyết âm Can kinh,

Túc Thiếu âm Thận kinh

Nhâm Đốc kinh mạch, kinh huyệt :

Nội kinh ghỉ chép phép châm

Biểu liệt kê các loại phương pháp châm

Giải thích khái quát Hào châm

Tư thế và tập luyện châm

Phương pháp Nhĩ châm ( châm tai )

Vị trí huyệt châm tai

Trang 10

Nguyên lí châm cứu, và chẩn mạch

Chẩn đoán trước khi thi hành

Nguyên tắc cơ bản trị liệu

Phương pháp thi hành trị liệu

Phối hợp Khích Hội huyệt

Nội khoa ( thượng ) Trúng phong (các loại) Thử bệnh (cảm nắng)

Cảm mạo -

Ngược tật (sốt rét) Bệnh lị

Đởm nang viêm (viêm túi mật)

Ẩu thổ (ói mửa) Ach nghịch (nấc)

Vị quản thống (lần trong dạ dây đau) Hiếp thống (sườn đau)

Trang 11

Trang

Phúc thống (bụng đau) 355 Tiết tả (la chảy) 357

Tiện bí (táo bón) 359

Thoát giang (lòi r6m) Tri huyét 361

Điên, Cuồng, Giản (động kinh) 362 Kính, Quyết (co gân, chân tay lạnh phát quyết) 364

Thất miên (mất ngủ) 366 Huyễn vậng (hoa mắt) 368

Ap huyết cao 369 Đầu thống (đầu đau) 370 Phong chẩn (lên sởi) 372

Yêu thống (lưng đau) 375

Nuy chứng (bại liệt) 376

Lung bế (bí đái) 385

Chương XVHI Ngoại khoa, Phụ nữ, Nhi đồng 387

Phụ nữ khoa: Kinh bế, 387

Thống kinh (kinh hành bụng đau) ` 388

Kinh hành tiên kì (kinh có trước) 389 Kính hành hậu kì (kinh có sau) 390

Băng lậu (băng huyết, rỉ huyết) 391

Đới hạ 392

Âm đỉnh (tử cung trôi ra) 394 Nhũ trấp bất hành.(sữa không chảy) 396

Tiểu nhi khoa : Cấp kinh phong 398

Mạn kinh phong , 399

Trang 12

Trang

Tiểu nhỉ tê dại 402

Bách nhật khái (ho lâu ngày) 403

Nhĩ minh, nhĩ lung (tai kêu, tai điếc) 404

Lung ách (câm điếc) 405

Mục xích thống (đau mắt đỏ) Dạ manh 407

(quáng gà)

Tị uyên (chảy nước mũi) 409

XỈ thống (đau răng) 410 Hầu tí (yết hầu tê đau) 411

Ngoại khoa: — Phá thương phong (phong phá hại) 412

Lưu hỏa (chân chẩy nước) 416

Nữu thương (tay quay thương tổn) 416

Y nghia Tinh Vinh Du Nguyén Kinh Hop 419

Y nghia Am Duong tudng hdp 422

Ý nghĩa 12 kinh huyệt Bổ Tả Me Con 423

5 phương pháp tính Nhật Can 424 Phương pháp tính Tí Ngọ Lưu Chú 427

Tí Ngọ Lưu Chú giờ Thìn huyệt mở 428

Bát huyệt với Bát quái 442 Bát pháp giao hội bát mạch 443 Toa thuốc tăng cường sinh lực 445

12 Kinh mạch tuần hành kì ý đồ : 446

Hình Thủ Thái âm Phế kinh, và Túc thái âm Tì kinh 447

Trang 13

Hình Thủ Quyết âm Tâm bào, và Túc Quyết âm Can kinh

Trang

448

Hình Thủ Thiếu âm Tâm kinh, và Túc Thiếu âm Thận kinh 449

Hình Thủ Dương minh Đại tràng, và Túc Dương mình VỊ kinh 450

Hình Thủ Thiếu dương Tam tiêu, Túc Thiếu dưong Đởm kinh 451

Hình Thủ Thái dương Tiểu tràng, Túc Thái đương Bàng quang 452

12 Kinh biệt tuần hành kì ý đồ :

Kinh biệt Túc Thái đương, và Túc Thiếu âm

Kinh biệt Túc Thiếu đương, và Túc Quyết âm

Kinh biệt Túc Dương minh, và Túc Thái âm

Kinh biệt Thủ Thái đương, và Thủ Thiếu âm

Kinh biệt Thủ Thiếu đương, và Thủ Quyết âm

Kinh biệt Thủ Dương minh, và Thủ Thái âm

15 Lạc mạch tuần hành kì ý đề :

Biệt Lạc Thủ Thái âm kinh

Biệt Lạc Thủ Thiếu âm kinh

Biệt Lạc Thủ Quyết âm kinh

Biệt Lạc Thủ Thái dương kinh

Biệt Lạc Thủ Dương minh kinh

Biệt Lạc Thủ Thiếu đương kinh

Biệt Lạc Túc Thiếu dương kinh

Biệt Lạc Túc Dương minh kinh

Biệt Lạc Túc Thái âm kinh

Biệt Lạc Túc Thiếu âm kinh

Biệt Lạc Túc Quyết âm kinh

Trang 14

CHƯƠNG I

1, Định nghĩa châm cứu

Y học dùng kim châm, ngải cứu để trị các chứng bệnh Khởi đầu môn

châm cứu rất xưa, vào thời đại dụng cụ bằng đá; trong lãnh vực Y học

của đất nước gần đây, khoa châm cứu không được chú trọng Lịch sử

chứng minh, kinh qua nhiều năm không ngừng, do sự nỗ lực của một số

Y học gia, đã sưu tâm khảo cứu, hình thành hệ thống lý luận khoa học

để phát triển, và cống hiến hết sức lớn lao

Về phương pháp trị liệu hai môn châm cứu không giống nhau, tuy

nhiên phương pháp ứng dụng cho hai loại, là dùng dụng cụ hoặc trị liệu

bằng thuốc, mục đích chữa lành các chứng bệnh, trước tiên dùng kim

nhỏ châm những chỗ nhất định, có tác dụng điều chỉnh khí huyết, sau

dùng ngải khô cuốn thành điếu thuốc, đốt cháy hơ trên huyệt đạo, để

khí huyết lưu thông rất hiệu quả; tuy nhiên căn cứ học thuyết Y học rất

phong phú, để biết huyệt dao tại Kinh Lạc, tiến hành việc tri liéu, do

đó sau này các Y học gia đã kết hợp hai phương pháp thành một khoa

gọi là Châm cứu

2 Nội dung giá trị châm cứu

Nội dung châm cứu, chủ yếu dựa trên nên tảng lý luận học thuyết Âm

Dương, Ngũ hành; âm dương ngũ hành là trọng tâm nguồn gốc lý luận

Y học, với sự hiểu biết tỉnh tường Khoa châm cứu đương nhiên lấy học

thuyết Kinh Lạc, Tạng Phử làm nền tảng suy luận đểỂ noi theo; do đó

việc trị liệu phải theo quy tắc; châm cứu trị liệu cần phải định bộ phận,

vị trí Du huyệt, đồng thời phải biết xử dụng bàn tay khéo léo, muốn xử

dụng bàn tay khéo léo cần phải tập luyện thủ pháp, dể thực hành được

Bổ hư, Tả thực là đặc điểm cụ thể châm cứu (bổ hư = bệnh lâu ngày,

khí huyết suy nhược thì dùng phương pháp Bổ, tả thực = bệnh mới phát

sinh, khí huyết chưa suy giảm thì dùng phương pháp Tả, sẽ diễn giải ở

phần sau) Căn cứ kinh lạc , huyệt là đặc tính ứng dụng chữa trị các

loại bệnh (ật

Kinh Lạc là những thông lộ chuyển biến rất tinh vi trong thân thể người

ta, có tác dụng liên hệ những cơ quan nội tạng, hòa với tổ chức thể

Biểu rất cần thiết do khí huyết lưu hành, sự cân thiết do khí huyết lưu

hành,sự dinh dưỡng đều do các khớp xương cánh tay,cẳng chân,nói tóm

Trang 15

lai déu nương nhờ những đường kinh lạc thông suốt, như dòng nước chấy để duy trì sức khỏe

Bộ sách châm cứu thời xưa của tác giả trứ danh Linh Xu giải nghĩa về

12 đường kinh mạch :” Con người được sinh ra, bệnh sẽ phát sinh,

người sẽ trị bệnh, bệnh sẽ rấy lên.” Thuyết minh Kinh Lạc có tác dụng

chẳng những phát huy lẽ sống con người, mà còn ứng dụng bao quát, xét về sự phát sinh bệnh tật , với sự quan hệ biến hóa, sự tác hại không

thể phân biệt được, tình trạng sinh ra bệnh tật, đều do Kinh Lạc không

điểu hòa, và bởi cơ năng Kinh Lạc nghịch chuyển; châm cứu trị liệu

làm cho huyệt đạo lưu thông, điều hòa Dinh Vệ, Khí huyết Học thuyết

châm cứu lại càng trọng yếu, không kể Du huyệt, cách đo xương, chẩn mạch, đoán bệnh , với việc trị liệu, không nên chú trọng vào một loại,

phải lấy học thuyết Kinh Lạc làm nền tảng mẫu mực, việc học tập châm cứu cần thể hiện sự hiểu biết tỉnh tường

3, Giá trị phương pháp trị liệu châm cứu

Giá trị phương pháp trị liệu đối với các chứng bệnh, kết quả một cách

phi thường, ưu điểm nổi bật, như bệnh thuộc về nội thương, ngoại cảm,

tổn thương, phụ nữ, nhi đồng, khoa ngũ quan, tựu trung đại bộ phận để

ứng dụng trị liệu châm cứu, nhu vậy hiện nay trung bình dùng châm cứu chữa trị những bệnh nan y rất hiệu nghiệm, và có khả năng trị hết Gần đây châm cứu chữa khỏi câm điếc, bệnh bại xụi trẻ em, được liệt

kê rành mạch từng loại, trị bệnh bằng châm cứu rất đơn giản, bằng cây kim nhỏ và một ít ngải nhung mang theo làm phương tiện, không cần đến thuốc

Học châm cứu lấy học thuyết Am Dương làm cơ sở lý luận, người theo học các khoa phải biết tường tận cơ bản lý luận, nội dung chủ yếu là

học thuyết Am Dương, do học thuyết âm dương thúc đẩy phát triển thành Ngũ bành, cụ thể người kết hợp với đất, mới có Tạng phủ, Kinh lạc, Khí huyết, Dinh Vệ, cần suy diễn quán triệt Tứ luận Bát cương

Sự vật nhất thiết có bể ngoài, với tính chất nội trị, do đó tương đối có

hai phương diện, quan hệ Âm Dương thường đối lập, khái niệm thật mâu thuẫn, Am với Dương vẫn phản nhau, nhưng rồi lại hợp, tất nhiên giữa hai phương diện không đông, nhưng có tác dụng liên hệ mật thiết, cùng hợp có khắc, cùng khắc có hợp, là nguồn gốc quan hệ đối lập Âm

Trang 16

Dương học thuyết, nhất thiết sự vật là hiện tượng, cùng tính chất các

loại biến hóa

4: Tại phương diện tự nhiên

5 Học thuyết âm đương

Am Dương là hai nguyên lý cơ bản nhất của hiện tượng, trong bất cứ

vật gì, dù lớn hay nhỏ đều có âm dương, Am Dương là giường mối vạn

vật, Dương hóa khí, Am thành hình là khí thể hợp với thể tự có là

thuyết vật chất; tựu trung dương hóa khí, âm thành hình, do đó sự phân

biệt khí thể là Dương, khí tự có là Am

Nguyên lý âm dương biến hóa : Dương sinh thì Am trưởng, Dương

chết thì Am tàng, lý do sống với chết ảnh hưởng thuận theo tốt xấu

bởi Dương, trưưởng với tàng thuận theo Âm, bởi lẽ đó, xét theo tính

chat cuả vật chất thì : Hàn lương, trầm giáng thuộc Am, ôn nhiệt,

thăng phù thuộc Dương, nhất thiết hiện tượng hợp với tổ chức, làm

nên hai phương diện khác nhau; phân tích nguyên lý âm dương ứng

dụng tương đương sự vật linh hoạt phát sinh, cố nhiên một đối tượng

không thể biến dịch Trên phương diện lý luận tự nhiên thì vật chất là

khí thể thuộc âm, phân tích các bộ phận, phần nhiều không đồng

Trang 17

tính chất như : Nội thuộc âm, ngoại thuộc dương, danh từ Y học thì

ngoại thuộc thể Biểu, nội thuộc thể Lý, các loại thể Biểu gồm : bì phu, cơ nhục, huyết mạch, gân xương; trên phương diện thể rỗng, các loại không đồng tính chất, bởi tình cảnh cấu kết bản thân với sự việc, thể hiện đích điểm quan hệ vận động biến hóa đối lập với thống nhất

Am dương học thuyết là một giá trị quí báu, có tác dụng chẳng những

danh từ chỉ về sự vật, hình thể, trạng thái, tính chất, mà còn thuyết

minh đẩy đủ về lẽ sống con người, bệnh lý, chẩn đoán, trị liệu, đúng quy luật phát triển, sở di thuyết âm dương giải thích sự biến hóa cud

cha mẹ, thì sự vật biến hóa thành hiện tượng, khởi đầu thuyết minh về

thân thể con người, là bộ phận không bị cô lập, có liên hệ mật thiết, và

có tác dụng tương phản, cuối cùng đi đến sự tương hợp của giai đoạn

Độc dương không thể sinh, độc âm không thể lớn, đương nhiên phải thấy các bộ phận sinh lý con người hoạt động, có sự phối hợp liên hệ

mật thiết giữa hai thành phần, quy định ràng buộc hổ tương sinh hóa,

đạt tới sự thăng bằng âm dương, để bảo vệ tài năng, sức khỏe con người;” Ngạn ngữ có câu : Nghịch chỉ tắc tai hại sinh phản thuận vi nghịch”; nguyên nhân có sự bất hòa ở trong, con người do âm đương lúc thịnh lúc suy, nên mới nảy sinh bệnh tật, do đó việc trị liệu ứng dụng với biến tính bệnh tật, có tác dụng tương phần, để mưu âm khôi

phục quân bình âm dương, bất luận việc trị liệu bằng thuốc với châm

cứu, đêu căn cứ cùng một nguyên lý căn bản sâu xa

Do sự việc nêu trên, âm dương nhất thiết là giường mối sự vật biến

hóa, đúng tiêu chuẩn đối với phương diện con người, ứng dụng danh từ các bộ phận trên, dưới, trong, ngoài, lớn nhỏ, tỉnh thô; phương diện vị trí cũng riêng biệt trên, dưới, trong, ngoài, lớn nhỏ, tỉnh, thô của tổ chức; tạng phủ hoạt động chuyển biến là công cụ phân tích biện chứng, căn cứ lý luận :” Am bình thì Dương bí, Dương thăng thì Âm giáng,

Dương chiếu thì Am mờ” sự suy luận giải thích để điểu tiết hoạt động chuyển biến, việc trị Hệu phải đúng phép tắc, người trị liệu phải quán

triệt lý luận Y học thực tiễn, bất luận châm cứu, hoặc dùng thuốc bên

trong, hoặc bên ngoài, nhất thiết nắm trong tay căn bản lý luận

Trang 18

Ngũ hành = Ngũ hành là học thuyết âm dương trọng yếu, căn cứ

tình trạng tiêu trưởng của âm dương, lẽ tự nhiên thành phân 5 loại vật

chất, đểu có đặc tính quan trọng với học thuyết âm dương thịnh suy

từng giai

đoạn, thể hiện về sự vật là phân lớn phương pháp liên hệ hổ tương, ngữ

hảnh là sự tự nhiên của 5 loại gồm : Kim, Thuỷ,Mộc Hỏa, Thỏ thuộc

thành phần tự nhiên của vật chất, cơ bản phần trên của 5 loại rất lớn,

tính chất mỗi loại rất gần nhau và tự nhập với nhau, 5 loại vật chất bao

hàm đặc tính khái niệm trừu tượng như : Kim có nghĩa là giết, Thủy có

nghiã là nhuận trạch, Mộc có nghĩa đều tiến, Hỏa có nghĩa đốt, Thổ có

nghĩa hòa trung, phàm thuộc thành phần tự nhiên, bật chất nhất thiết

đèu có tính chất gần nhau của mỗi thứ như dưới đây :

Ngũ Hành 5 Phuong Thời Linh Sinh Hóa Khí Hậu 5 Mùi

Mộc Đông Xuân Sinh Phong Chua

Ngũ Hành | 5 Tạng 5 Thể 5 Quan 5 Sắc 5 Chí 5 Giọng

Héa Tim Mach Lưỡi Đỏ Vui Cười

Thủy Thần Xương Tai Đen Sg Sét Réno RI

Theo lẽ tự nhiên Ngũ hành là vật chất của 5 loại, có quan hệ hổ tương

gồm : Tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ, theo tiêu đổ dưới

Trang 19

Nguyên lý Ngũ hành tương sinh do sự phát triển diễn hóa hổ tương, bởi

động lực thúc đẩy của âm dương; nguyên lý ngũ hành tương khắc do sự

bó buộc khống chế diễn hóa hổ tương của âm dương, công biệu thuận chiều của ngũ hành, với sự bó buộc phát triển, thúc đẩy, khống chế, kế hợp với trạng thái tiến hành, mục đích cân bằng âm dương, thuyết minh ngũ hành chẳng những vận chuyển cơ thể khỏe mạnh, có tác dụng thích ứng điểu tiết, phát sinh bệnh tật bởi sự điều tiết thất thường, âm dương thái quá hoặc bất cập, do đó việc trị liệu phải theo quy luật, lý

luận Y học, thấu triệt các bộ phận quan trọng

7, Tạng phủ, Kinh lạc, Khí huyết, Dinh Vệ.-

Cơ bản nội tạng con người phân trên chia làm 2 loại : 1 loại chuyển

hóa vật chất, mà không tàng trữ, tức là phủ thuộc dương, 1 loại tàng trữ

tỉnh khí không chầy đi gọi là tạng thuộc âm Phủ có lục phủ : đổm, vi, tiểu tràng, đại tràng, bàng quang, tam tiêu Tạng có ngũ tạng : tâm, can, tì, phế , thận; ngoài ngũ tạng còn có tâm bào lạc, phòng giữ bên ngoài tìm, cùng với ngũ tạng gọi là lục tạng, ngoài ra còn có ngực, tủy,

cùng với nữ tử bào, đều thuộc *kỳ hằng chỉ phủ * có tác dụng như tạng

khí (*= loại phủ lạ thường)

Học thuyết tạng phủ tiêu biểu ngũ tạng lục phủ, xét đến sự hoạt động, biến chuyển của mỗi hệ, mục đích có tác dụng biến hóa với tạng khí tại mỗi nơi, đều có quan hệ mật thiết, như phân ngực, vai thuộc phế,

bền trong ngực thuộc tim, phần bụng trên thuộc tì, sườn và xương sườn thuộc gan, lưng xương sống thuộc thận

Lục phủ tùy thuộc ngũ tạng, ở trong thì vị làm chủ, vị chứa đựng thức

ăn, nước uống, tiểu tràng chủ hóa thanh lọc, đại tràng chủ chuyển cặn

bã, bàng quang chủ tiểu tiện, đổm chủ xương sườn và sườn

Tam tiêu : thượng, trung, hạ , 3 phần, thượng tiêu chủ thúc đẩy khí

huyết, điều hành thủy đạo; ngũ tạng với lục phủ có sự liên hệ phối hợp, gọi là tạng phủ cùng bợp, hoặc gọi là cùng tác thành biểu lý, tạng với phủ đều thuộc ngũ hành như dưới đây :

Trang 20

Phế Kim

Tì Thổ

Thủ

Tạng với phủ đểu có tác dụng chuyến hóa tinh khiết, mục đích biến

thành sinh khí, hóa huyết để đinh dưỡng chỉ thể, cùng với khí quản

chung một động tác, để bảo trì sự hoạt động của con người Khí huyết ở

trong tạng phủ đêu quy về : tâm chủ huyết, tì thâu nạp huyết, gan tàng

trữ huyết, huyết dịch đầy đủ, quan hệ tối cần của 3 tạng khí trên

Phương diện khí : Phế chủ khí toàn thân, tì là trung khí gốc, thận là

nguyên khí rễ, phần khí hư hoặc thực cùng các tạng, có ảnh hưởng lớn

lao, như vị là cái lũng suối của biển, là chỗ nhiễu khí nhiều huyết

không kể khí phần , hoặc huyết phần sinh ra bệnh, nên chú ý đến tình,

trạng của vị, tạng phủ chủ yếu có công dụng sinh khí, hóa huyết, thể

hiện khí dinh, khí vệ, khí dinh có tác dụng đối nội, dinh dưỡng thân thể,

khí vệ có tác dụng đối ngoại, bảo vệ thân thể, do đó khí đỉnh ví như

sông chảy ở trong, khí vệ phân tấn ở ngoài, 2 khí dinh vệ sinh sản bởi

thức ăn, nương tựa vào sự hô hấp khí trời, do kinh lạc vận chuyển toàn

thân; tạng phủ, khí huyết, dinh vệ, kết thành quan hệ như sau :

Khí trời->Phế(tạng) khí vệ (phân tán ở ngoài)thuộc khí(đối ngoại)

Suối nước->Vị (phủ) khí dinh(suối chảy ở trong)thuộc huyết(đối nội)

Khí huyết dinh vệ có tác dụng chu lưu tuân hành, thông qua các kinh

lạc, kinh lạc trong thuộc tạng phủ , kinh lạc ngoài thuộc các đốt xương

chân tay, thân thể người ta trong ngoài trên dưới, biểu lý là những

thông lộ lên lạc, là những lợi ích sinh trưởng nương tựa sự tuân hành,

chuyển vận của kinh lạc; người trị liệu phải thấu đáo mục đích quan hệ

kinh lạc “Không hiểu thấu đáo 12 kinh lạc, thì từ lời nói, đến việc làm

đều lầm lẫn”, do đó việc học tập châm cứu, cần phải chú ý đến sự ứng

dụng bao quát hoàn hảo

Bát cương, Tứ chẩn.- Ứng dụng nguyên nhân diễn tiến biện chứng,

quan sát mạch để so sánh các bộ phận, là phép tắc Bát cương, tựu trung

cụ thể học thuyết âm đương viễn dụng, bát cương là : âm, dương, biểu,

Trang 21

lý, hàn, nhiệt, hư, thực, là Bát đại cương lĩnh, theo triện chứng phát

sinh bệnh, do biến tính của âm dương, phân tích bệnh tật thông quá tứ chẩn: Vọng, văn, vấn, thiết, đều có mục đích chẩn đoán bệnh tật, để

quan sát và quyết định tính chất biểu lý, hàn nhiệt, hư thực, tương ứng

công việc trị liệu, cố nhiên phân biện bát cương, khá thông qua tứ chẩn

đã nắm trong tay, phối hợp với tài năng lý giải bát cương, việc chữa trị không gây tổn hại

Bát cương tuy là bát đại cương lĩnh, nhưng thực tế 6 cương là hàn, nhiệt, hư, thưc, biểu, lý, để bao quát trong phạm vi âm dương, cộng thêm lục cương, để đối chiếu quan hệ bệnh tật, đi đến sự phân tích tỉ

mỉ Ví dụ : Phương pháp phân tích với phương pháp tứ chẩn như : Vọng chẩn là xem xét trạng thái tỉnh thân bệnh nhân gồm mầu sắc, hình

dáng, lưỡi ban, các loại ngoài da Văn chẩn để phân biệt tiếng nói, hơi thở Thiết chẩn để mở rọng sự hiểu biết bệnh tình do nhịp mạch, cùng

sự biến đổi của ngực, bụng, chân tay, thân thể; kế đến tự tìm ra trạng thái, và nguồn gốc của chứng bệnh, khá thông quá Vấn chẩn

Tứ chẩn để thâu thập tư liệu cho công việc nghiên cứu sau này, tuy

nhiên những tài liệu tứ chẩn để lại cũng không được đầy đủ hoàn toàn, thậm chí có khi đi đến đối lập như : Vọng chẩn thì thấy hư chứng, mà Thiết chẩn thì lại thực chứng; Văn chẩn thì hàn chứng, mà Vấn chẩn thì

lại nhiệt chứng; giả thử bệnh tình thuộc loại thực hoặc hu, thì phải theo

toàn điện của bản chất để đi đến sự phân tích giám biệt, không nên phiếm diện, hoặc xét cục bộ, đã vội vàng quyết định kết luận

8 Ý nghĩa Kinh lạc, Du huyệt

Sự tổ chức của các bộ phận cơ thể con người, có liên hệ mật thiết giữa tạng khí, chủ yếu kinh lạc nội ngoại , tả hữu, trên dưới, biểu lý, giống như tuyến đường giao thông mặt đất, có chính có phụ, bên trong như

nguồn nước chảy vào tạng phủ, bên ngoài liên hệ với ngũ quan, thất

khiếu, tay chân, gân xương bao bọc toàn thân, từ bên trong đến bên

ngoài Linh khu Hải luận : “12 kinh mạch = trong thuộc tạng phủ, ngoài

thuộc chân tay, gân xương” Trương huyền Thao luận : “Phàm tay chân nội mạch đều do khí ứng ngũ tạng, tay chân thuộc ngoại mạch, đêu do

khí ứng lục phủ “ Thân thể con người cũng có chính có phụ, lục phủ,

ngũ tang, do khi lién hệ xuất nhập Thuyết minh kinh lạc cụ thể với thể nội tạng; phủ với tổ chức thể biểu, là sự quan trọng của hoạt động chuyển biến sức khoẻ con người, do âm dương quân bình, khí huyết

đầy đủ; kinh lạc thường liên hệ vận chuyển dinh dưỡng, có tác dụng

Trang 22

điều chỉnh bộ phận nào,phản lại sự hoạt động chuyển biến gặp sự cẩn

ngăn chống phá, thì bộ phận tạng phủ ấy bị bệnh, do đó phát sinh bệnh

tật liên hệ đến kinh mạch, sinh ra sự bất đổng của toàn bộ, do kinh lạc

liên hệ với tạng phủ, cho nên tạng phủ bị bệnh là do ảnh hưởng kinh

lạc; người trị liệu khả dĩ làm công việc chẩn đoán để định chuẩn, nhất

là về phương diện kinh lạc, với hệ thống phản ứng hiện ra ở thể biểu,

việc trị liệu châm cứu, ứng dụng nguyên lý châm hoặc cứu đúng tại

chỗ nhất định của huyệt thuộc thể biển, để khí huyết trong kinh lạc lưu

thông, dinh vệ điểu hòa, khối phục cô ` năng tạng phủ, là mục đích trị

liệu bệnh tật, y theo phương diện học thuyết kinh lạc, với sự hình thành

tổ chức trúng đích “Châm đúng hệ thống huyệt” có tác dụng kinh

qua trị liệu, liên hệ đích hệ thống kinh lạc, thể hiện tầm mức quan

trọng công việc trị liệu

Du huyệt phụ thuộc kinh lạc trên mặt Khổng huyệt = (rỗng) là nguồn

nước rỗng tưới qua kinh mạch, khí mạch, gọi là khí huyệt; kinh mạch

tuần hoàn toàn thân, liên hệ con người trong ngoài, trên dưới các bộ

phận, du huyệt là kinh mạch, khí mạch phát ra ngoài , tựu trung việc trị

liệu châm cứu , để thông quá, và điều chỉnh kinh mạch, khí huyết, dinh

vệ, khôi phục cơ thể, do đó kinh lạc có tác dụng rất quan trọng

9 Thao tác thủ pháp với biện chứng luận trị

Nguyên tắc trị liệu châm cứu, trước tiên phẩi quan sát biến tỉnh âm

dương cơ thể, để phân biệt thịnh suy, sau nhờ đến các đường kinh lạc

toàn thân, phối hợp với du huyệt, có tác dụng thông suốt từ trong đến

ngoài, người trị iệu châm cứu không thể thiếu 1 trong 2 phẩn.thao tác

thủ pháp và biện chứng luận trị

Châm cứu là 1 loại điều chỉnh bản năng con người, bằng cách châm

kim để Kích = ( xoi hoặc cản khí chuyển động ) phải đạt được sự phản

ứng bởi việc châm, do đó việc châm phải đúng thật chính xác, nhưng

không giống nhau, do đó việc trị liệu bằng châm cứu có 2 cách : Bổ và

Tả , theo nguyên tắc Y học là Phù chính khứ tà ,thí dụ : Am dương

biến sinh, hoặc tà khí biến thịnh, thì dùng phương pháp Tả, nếu âm

dương biến suy, hoặc chính khí biến hư, thì dung phương Bỏ, vô luận

Bổ hay Tả, trước tiên phải đạt được Khí việc trị liệu mới có kết quả,

cơ thể mới cảm thấy hữu hiệu, lý do bởi châm đem khí đến, thật là phi

thường, do đó việc Bỏ, Tả phải tập luyện phương cách để khi châm

mới đạt được khí, do thao tác thủ pháp; nếu thấy khí không đến, thì

Trang 23

phải dùng cách vê kim để đạt được khí Linh Khu luận : Cửu (9) châm, thập nhỉ (12) nguyên = (cớ) không cần biết bao nhiêu Làm thế nào để đến được kinh, đạt được khí, thì giữ lấy, đừng rời bỏ, hãy nắm lấy thời

cơ mà thi hành Bổ Tả

Thao tác thủ pháp là đâm kim để kích, phải đạt tới trình độ nhất định, đem lại sự phản ứng của tác dụng, đương nhiên việc lựa chọn đúng vị

trí Du huyệt thể biểu, du huyệt cơ thể người ta vô số kể, mỗi du huyệt

đều có đặc tính cứu trị với từng loại bệnh, có ảnh hưởng mật thiết, do

đó phải am hiểu tường tận tính chất bệnh tật thuộc kinh lạc nào, tạng

phủ nào, hoặc hư, hoặc thực, hàn hay nhiệt, chẩn đoán sáng suốt, sau

đó căn cứ tình trạng bệnh, phối hợp nguyên tắc huyệt, tuyển chọn vị trí huyệt, ứng dụng việc thi hành thủ pháp châm cứu, do đó việc trị liệu kết quả rõ ràng, cố nhiên biện chứng luận trị rất quan trọng

10 Học tập châm cứu phải theo từng giai đoạn

Nội dung lý luận học châm cứu rất phong phú, với sự khéo léo của thủ thuật thao tác, dĩ nhiên phải tỉnh thông lý luận, người trị liệu phải nắm trong tay kinh nghiệm, qua việc luyện tập thuần thục thủ pháp, kinh

qua tài năng thủ thuật hoàn tất, cố nhiên phương pháp học tập mỗi giai đoạn không giống nhau, học tập khoa này phải có sự so sánh theo tuân

tự như sau :

11 Nắm trong tay cơ sở lý luận

Học tập châm cứu, khởi đâu phải tôn trọng triệt để cơ sở lý luận, và nắm trong tay toàn điện Y học đối với sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán, là

cơ bản phép tắc cho việc trị liệu, nội dung chủ yếu phép tắc là học thuyết âm dương, nguyên lý âm dương là chỉ tiêu siêu đẳng, ngũ hành

do âm dương biến hóa, bát cương là các thứ bất đổng hình dáng bởi âm dương ( sơ khởi bát cương = nhị cương là âm dương ), tứ chẩn là phương pháp tổ chức riêng biệt âm dương, học tập châm cứu phải biết phân giải cơ bản lý luận âm dương, ngũ hành, tứ chẩn, bát cương, nếu thiếu

sự hiểu biết thì căn bản không phải ở chẩn đoán, mà do sự phân giải

biện chứng.

Trang 24

Lý do đã nắm trong tay một bực, việc nghiên cứu kinh lạc học

thuyết là điểm đặc biệt, người trị liệu ứng dụng giá trị thực tế kinh lạc,

để định chủ bệnh, nhận xét sinh lý con người với ảnh hưởng bện lý

biến chuyển, phải lĩnh hội đây đủ , với việc chẩn đoán trị liệu

Theo học thuyết cơ sở kinh lạc nêu trên, là ý nghĩa nghiên cứu

kinh huyệt, chọn huyệt và dùng mẫu độ cho việc ứng dụng với các loại

du huyệt , ảnh hưởng đối với kinh lạc, tạng phủ, khí huyết, dinh vệ, là

hoàn tất việc trị liệu

Theo nguyên lý châm cứu trị bệnh, nguyên tắc cơ bản đã nắm

trong tay, phối hợp với huyệt, chọn huyệt cũng theo nguyên tắc cơ bản,

là ý nghĩa nghiên cứu học thuyết ngũ hành, âm dương, đã đạt được sự

quán triệt viễn dụng linh hoạt

12, Biết rõ chỗ kinh huyệt với việc chủ trị kinh huyệt

a) Trị liệu châm cứu có tác dụng chuyển vận điều hòa khí huyệt, châm

cứu làm cho kinh lạc thông suốt, mục đích tiến hành hiệu quả du huyệt,

nếu không biết rõ đích xác vị trí du huyệt, sẽ ảnh hưởng hiệu quả của

việc châm cứu, do đó cơ sở lý luận kèm theo việc lý giải châm cứu, để

nhận biết vị trí của huyệt, yêu cầu lý giải rành mạch, đúng vị trí đối với

mỗi loại kinh huyệt, chứ không phải chỉ biết đại khái một loại

b) Đối với cơ thể thì chủ yếu du huyệt thích ứng với chứng bệnh, phải

ghi nhớ rõ ràng, loại huyệt nào trị bệnh nào, hoặc ứng dụng đơn huyệt,

hoặc các loại huyệt cùng dùng, để mang lại hiệu quả, cần phải ghi chú,

việc ghi chú vị trí huyệt là nguyên lý phạm vì chủ trị đây đủ

13, Luyện tập thao tác thủ thuật

a) Cân luyện ngón tay để có sức, trước tiên tập câm kim, và không

ngừng luyện tập các ngón tay, để điều khiến cây kim, là I bước luyện

tập thao tác thủ thuật

b) Việc châm cứu có hiệu quả, chẳng những quyết định sự nhận xét

Trang 25

biện chứng, việc chọn huyệt có đúng hay sai, lá châm Bổ hoặc Tả, có

vừa khớp hay trật, người tri liéu thực hiện linh hoạt như cái lá mía ổ

khóa, do đó việc học tập châm cứu phải thâm sâu, nghiên cứu những

thiếu sót thủ pháp Bổ Tả, học nhiêu luyện nhiều, để khi dùng có hiệu

a) Tính chất bệnh tật không giống nhau, do bản chất bệnh khác nhau,

cũng như quá trình biến hóa phức tạp khác thường, người trị liệu phải

biết kết hợp nguyên nhân thời tiết, tình trạng khác biệt từng bệnh nhân, cân chú ý loại bổ giáo điều, nên vận dụng phương pháp biện chứng

luận trị, châm khéo, cứu khéo, châm cứu đều khéo, với bàn tay linh

động khéo léo, nhất thiết không thể phiếm diện, đầu đau trị đầu, chân

đau trị chân

b) Người thấy thuốc phải cứu xét, đối chiếu kinh nghiệm, qua phương pháp chẩn, nghiên cứu nơi chốn, ứng dụng thủ pháp Bổ Tả thực tiễn

quan hệ tính, phát hiện kịp, ứng phó kịp

Quá trình học tập xét chứng bệnh, khởi đầu nên chọn bệnh nhẹ để

dễ trị, đợi hiệu quả sau khi trị, tiếp tục tiến thêm bước nữa, ganh đua

từ dễ đến khó, tiến hành học tập trị liệu, khả dĩ để cao lòng tin tưởng,

mang lại đầy đủ ý nghĩa học tập hiệu quả

15, Học tập châm cứu với sự nhận thức chính xác

a) Học tập châm cứu có thái độ thích ứng, kỷ nguyên trước công lịch, kinh thành đã hoàn chỉnh lý luận, phép trị châm cứu, là tính chất hệ thống học thuật, sau thời Kinh dịch các Y gia đã kinh nghiệm liên tục,

mỗi ngày một canh tân, nội dung rất phong phú Thời xa xưa, môn

châm cứu là một môn khoa mục;

Trang 26

nhưng thời nay về phương pháp y liệu, có nội dung khoa học, hợp với

giá trị y liệu, là một loại phương pháp mới; trong quá khứ xã hội

phong kiến, môn châm cứu là phần di sản quí báu, trước sau chỉ có một

mục đích quảng cáo, bởi mầm mống tệ đoan thống trị, nhưng môn

châm cứu không vì thế mà bị mai một, vẫn còn lưu lại như sợi tơ tâm,

ngày nay do sự mở mang phát triển, có thái độ ứng đáp nguyện vọng

của đất nước, môn châm cứu được chỉnh đốn và đề cao, việc làm trước

tiên là nghiên cứu thừa kế phần di sản, do các nỗ lực hoạt động, mang

lại thành quả của các Y học gia, mục đích sửa đổi hoàn hảo, để phục

vụ sức khỏe quảng đại quần chúng, với tỉnh thần quán triệt “ Người

trước làm, người sau dùng “

Nội dung môn châm cứu rất phong phú, người học tập cần chú ý đến

quá trình học tập, ganh đua nối gót, thu thập bao quát, tuân tự tiến

bước, từ nông đến sâu, chăm học khổ luyện để đạt được mục đích;

việc học tập, trước tiên phải có quyết tâm, kiên định lập trường, đồng

thời nghiên cứu quá trình thiếu sót, trong khi tiến hành việc học tập, tất

nhiên gặp nhiều vấn để khó khăn, cân phải nỗ lực kiên trì, giả như có

sự đối lập với tư tưởng phục vụ dân chúng, cần biểu dương với tính

thần quảng đại, đầy hoài bão tin tưởng để tiến hành học tập, khổ công

nghiên cứu, loại bổ những thiếu sót, thì tài năng châm cứu sẽ vươn lên

cao

CHƯƠNG II

1 Nguồn gốc châm cứu

Thoạt đâu ứng dụng diễn tiến châm với cứu, do quá trình phát triển

mật thiết quan hệ xã hội, nhân loại, vào thời đại đồ dùng bằng đá,khởi

đầu nhân loại dùng tay chế tạo đổ dùng cần thiết, cho sự sinh hoạt

hằng ngày rất đơn giản, lấy đá không mài chế ra đồ dùng, về sau din

dần biến chế thành những cái búa, cái dao bằng đá, kế đến cái châm

cũng bằng đá, sau người ta lại dùng xương và sừng của thú vật, để chế

các loại đồ dùng, kể cả châm làm bằng xương, và chén làm bằng sừng,

là nhừng đồ thường dùng cho nhu cầu đời sống

Mới nhất người ta dùng đá nhỏ mài nhọn thành cái châm, gọi là Biêm

thạch = (kim bằng đá ) loại kim này chỉ dùng chữa trị những bệnh

Trang 27

ngoại khoa, vì không châm sâu được Thuyết Tó Vấn : Việc trị liệu thuộc lãnh vực Y học không giống nhau; phương đông thì bệnh thường

do ung nhọt đau nhức, cách trị bằng Biêm thạch; phương tây thì bệnh

phát ở trong, nên dùng thuốc để trị; phương bắc lạnh nhiễu, nên bệnh

tích tụ, đẩy chướng, nên dùng thuốc để cứu; phương nam thì bệnh

thường do chứng tê co quắp, nên dùng châm để trị, miễn trung anh thì bệnh khi nóng khi lạnh, gân hệt mềm nhữn, không cử động được, trị

bệnh dùng cách nâng lên ấn xuống; nói tóm lại phương pháp chữa trị thời xưa, ứng dụng theo mỗi phương khác nhau, việc tri liéu dựa theo khái niệm truyển thống người trước để lại, người trị bệnh cũng cẩn phối hợp với thời tiết địa phương theo mùa : xuân, ha, thu, đông (ghi ở phân sau ) Việc cứu trị, chủ yếu dùng cây Ngải, lấy lá bỏ cọng, phơi khô, tán nhỏ, hợp với một số vị thuốc, cuốn thành điếu như điếu thuốc, khi dùng đốt cháy, rồi hơ trên huyệt đạo, cách lần da khoảng nửa tấc, hoặc để rời, đốt cháy để trên lát gừng , hoặc lát tỏi, để trên huyệt đạo,

tùy theo chứng bệnh ( chỉ dẫn thêm phần sau )

9 loại châm dưới đây :

7 mtmmm>—=======—— Thân nhỏ mểm thường dùng rất nhiều

8 mmmmmm Thân dài dùng để châm những người mập

9 ——————— Thân lớn dùng hỏa châm

Trang 28

Thời xưa các loại châm kể trên, đều dùng cho việc trị liệu, hiện nay

loại kim số 7 gọi là Hào châm rất thông dụng, được cải tiến, chế bằng

các loại hợp kim

2 Diễn tiến châm cứu

Thời kỳ phát triển và cải tiến châm cứu vào khoảng năm 581, được

định nghĩa châm là Đạt *, Cứu là Công, có một vài chứng bệnh nguy

hiểm, châm không cũng không được, cứu không cũng không được, do

đó phối hợp cả hai, vừa châm vừa cứu dødanh Y Biển Thước, ứng

dụng trị liệu việc châm cứu là một

3, Diễn nghĩa nội dung chủ yếu thuyết kinh lạc

Theo thuyết trên thì Kinh hợp với Lạc, kinh tức là Kính theo chiểu đi

như tuyến đường, Lạc ngụ ý như Võng giăng khắp thân thể, khí huyết

lưu thông do kinh lạc, tuần hành trong ngoài Biểu Lý, là một hệ thống

thống nhất; nội dung chủ yếu là : 12 kinh lạc, 12 kinh biệt , 15 lạc

mạch, 12 kinh cân với 12 bì bộ ( bộ phận da ) hệ thống bên trong thuộc

về kinh mạch Chủ yếu là 12 kinh mạch, 12 kinh biệt do 12 kinh mạch

phân ra, do đó mới nêu lên, để phân biệt với chính khin; kỳ kinh bát

mạch, với 12 kinh mạch xen nhau đắp đối, có tác dụng điển tiết khí

huyết; về phương diện lạc mạch thì chủ yếu là 15 lạc mạch, ngoài ra

còn vô số lạc mạch, phân bố đầy người, kể cả những lạc mạch rất nhỏ,

có tác dụng tưới đến khí huyết để dinh dưỡng chỉ thể và tạng phủ; kinh

với lạc là hệ thống tổ chức thành kinh lạc Vấn đê học thuyết kinh lạc

được điều chỉnh do sự nghiên cứu bao quát và tỉnh tường

CHUONG i

1 Biểu hệ thống kinh lạc

+ -(Trong ) - Tang phii - Thuộc kinh lạc

12 kinh mạch di chuyển phân thịt

Kinh mạch= 12 biệt kinh - di chuyển riêng với chính kinh

Kỳ kinh bát mạch —-o bắt buộc với chính kinh

Kinh Lạc =

15 lac mach - chủ yếu mạch lớn

Trang 29

Lạc mạch= Lạc mạch - ngành bên cạnh

Tôn lạc - lạc riêng biệt

_.— ( Ngoai ) -12 kinh can -khéng nhập tạng phủ

12 phần ngoài -thể hiện 12 kinh mạch

2, Danh xưng phân loại kinh mạch

Căn cứ lý luận âm dương, và suy diễn đến cùng lẽ, thì Thủ Túc tam

âm, tam đương, gọi là 12 kinh; theo người xưa quan sát thực tiến sự vật,

việc làm đều có sự biến hóa, tuy giai đoạn không giống nhau; âm hòa dương như mâu thuẫn, tuy nhiên đích là nguyên thể thống nhất, do quá

trình biến hóa bên trong; thịnh suy hòa với tiêu trưởng, nguyên nhân

quá độ không đều, do đó 1 âm 1 dương biến hóa thành 3 âm 3 dương Phương diện âm phân ra : Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm, Thái Thiếu 2

âm giao tận Phương diện dương phân ra : Thái dương, Thiếu dương,

Dương minh, Thái Thiếu 2 dương hợp với minh; với 3 âm 3 dương phối hợp với thủ túc thành thủ tam âm hợp với thủ tam dương, túc tam âm hợp với túc tam dương, hợp danh xưng 12 kinh Lại có 12 kinh mạch tại từng bộ phận, kết hợp trong là âm, ngoài là dương, tạng là âm, phủ là

dương, quyết định danh xưng 12 kinh do khái niệm âm dương

3 Y nghĩa kỳ kinh

Nhâm ngụ ý có thai, do kinh mạch có quan hệ phụ nữ khi có thai, Đốc họat động bên trong, do kinh mạch lưu thông bộ phận chính bên trong lưng, và chứa mọi thứ dương Xung làm cho thông, do mạch này , làn cho khí huyết lưu thông 12 kinh Đới mạch tóm thâu mọi kinh, như

giây đai thắt buộc ở lưng Cước nghĩa là gót chân, bắt đầu từ dưới mắt

cá chân bên ngoài, gọi là Dương cước, và khởi đầu từ dưới mắt cá chân bên trong , gọi là Am cước, kế đến chữ Duy, người xưa giải thích như

lưới võng Dương duy liên lạc tại biểu thuộc dương, Âm duy liên lạc tại

lý thuộc âm, đo đó gọi là Dương duy hợp với Âm duy

4 Biểu đô phân loại kinh mach

Thủ Thái Âm Phế Kinh Thủ Tam Âm ý Thủ Quyết âm tâm bào

\ Thủ Thiếu Tâm kinh Thủ Dương Minh Đại Tràng

Thủ Tam Dương ma Thiếu Dương Tam Tiêu

Trang 30

| Thi Thái Dương Tiểu Trần

12 Kinh Mạch | Túc Thái Âm Tì kinh

Túc Tam Âm { Túc Quyết Am Can kinh

Túc Thiếu Âm Thận kinh

Tuc Duong Minh VỊ kinh

Túc Tam Dương Túc Thiếu Dương Đởm kinh

: Túc Thái Dương Bàng Quan Phân [.oại

Đốc Mạch BIỂn của các kinh dương Nhâm Mạch-—_ Biển của các kinh âm _XungMạch——- Biển của 12 kinh

Kỳ Kinh Bát Mạch Đới Mech -—- — Thất bó eo lưng và các kính

ữ Dương Cước.-._ — Riêng cho Túc Thái âm

Âm cước Riêng cho Túc Thiết 4m Duong Duy - Liên lạc các đương tại Biểu

Am Duy 1iên lạc các âm tại Lý

5 Chính kinh phân bổ như sau

a) Tứ chỉ : Tay chân đích kinh mạch, với ngũ tạng phân bố tại cơ thể,

Tâm, Phế, Tâm bào, ở tại phần ngực trên, thuộc Tam âm kinh, được

phân bố tại phân ngực trên; phía trong thuộc âm : Tiểu tràng, Đại

tràng, Tam tiêu, tương quan với Tạng phủ, Biểu lí, do đó tâm với Tiểu

tràng là Biểu H, Phế với Đại tràng là Biểu lí, Tâm bào với Tam tiêu là

Biểu H; Căn cứ theo nguyên tắc, thì kinh phủ tùy thuộc vào kinh tạng,

tức là Tâm, Phế, Tâm bào là kinh tạng,phân bố tại phân trên, nhưng lại

thuôc kinh Tam dương, đồng thời thuộc phía bên ngoài thuộc dương

Can, Ti, Than, 6 tai phan ngực dưới, thuộc bụng trên, do đó 3 kinh

tạng, phân bố tại hạ chỉ, thuộc bên trong thuộc âm, với 3 phủ : Dởm,

Vị, Bàng quang, cùng với tạng là Biểu H phối hợp, nên phân bố tại hạ

chỉ bên ngoài thuộc dương, việc phân bố noi theo đồ biểu dưới đây :

Trang 31

b) Bộ đầu :Đầu tụ hội các đương 6 dương thủ túc kinh mạch, đều hội ở đâu, được phân bố như : Thủ túc thiếu dương ở đầu phía bên, thủ túc dương minh ở mặt, túc thái dương ở đỉnh đầu phía sau, thủ thái dương ở

má, đều thuộc kinh mạch lưu hành bên ngoài Bên trong thì : Thủ thiếu

âm hợp với cổ họng, đi lên mắt, túc quyết âm noi theo cuống họng phía

sau, xâm nhập dẫn lên trán vào mắt, rồi đi lên đỉnh đ au

c) Hình dạng : Dương minh và thái âm đi phía trước thân mình; thiếu

âm, quyết âm đi phía bên thân mình; thái dương, thiếu âm đi phía sau thân mình; ngoài ra túc kinh tuần hành trong phạm vi rất rộng bên

trong; thủ tam âm đi ra ở bụng trên, thủ túc tam dương hợp lại ở đầu, tức tam âm đi lên vào bụng trên và bụng dưới, túc thiếu âm đi thông

suốt bên trong sống lưng thuộc thận, ngoài ra còn dẫn tới bụng trên

bụng dưổi

d) Tạng phủ : Sự liên lạc bên trong của 12 kinh mạch đối với tạng phủ, theo nguyên tắc thì các kinh dương đều thuộc phủ mà lạc thuộc tạng, các kinh âm đều thuộc Tạng mà Lạc thuộc phủ, coi biểu đồ dưới đây :

Kinh Thái Âm Quyết Thiếu Dương | Thiếu Thái

Sở Thuộc Phế Tầm Bào Tâm Đại Tam Tiêu Tiểu

Tràng Tràng

Thuộc Đại Tam Tiêu Tiểu Phế Tâm Bào Tam

Lac Trang Trang

Túc Túc Túc Túc Túc Túc

Kinh Tháiâm | Quyết âm | Thiếu âm Dương Thiếu Thái

mạch Minh Đương dươg

Trang 32

É Biểu đô 12 kinh mạch hổ tương chuyên đạt

Đầu ngón Đầu ngón Đầu ngón Đầu ngón Đâu ngón Đầu ngón

tay chó chân cái tay út chán út tay giáp chân cái

phía trong ngón út phía ngoài

Thủ | Thủ | Túc | Túc j Thử ¡| Thủ | Túc j Túc | Thủ | Thủ | Túc | Túc

Thá- | Dươ-| Dươ-| Thá.-| Thi - | Thá-| Thá-| Thi - | Quy-| Thi - | Thi.-| Quy -

Am | Min-| Min-| Am | Am | Dươ-| Dươ-| Am | Am | Dươ -| Dươ-| Âm

Cạnh lỗ Bêntrong | Vànhmất | Bên trong | Vành mất Tạng phủ |

mili tim phia trong nguc phia ngoai

Liên hệ Biểu lý, Am dương, Ngũ hành, lý do phối hợp âm đương 12

kinh mạch Kinh âm thuộc tạng, mà Lạc thuộc phủ, kinh dương đều

thuộc phủ, mà Lạc thuộc tạng,do đó 12 biệt kinh liên quan hổ tương

thành lạc hợp

Thuyết minh Am dương, Biểu lý, phối hợp với bệnh lý phát sinh, phế

với đại tràng là biểu lý, nếu kinh phế bị bệnh thì chuyển đến kinh đại

tràng , nên phát sinh tràng phong hạ ly, tâm với đại tràng là biểu lý,

nếu tâm hỏa bùng mạnh, thì bệnh sẽ liên hệ đến kinh tiểu tràng, nảy

sinh nước tiểu vàng, đỏ; tì với vị là biểu lý, nếu tì khí không đủ, thì vị

không tiêu hóa được thức ăn

Do học thuyết âm dương diễn tiến, với sự phát triển của ngũ hành,

dùng thuyết minh 12 kinh mạch liên hệ hổ tương, xúc tiến phối hợp với

ngũ hành như sau:

Biểu đô 12 kinh âm đương Biểu lý Ngũ hành phối hợp

Biéu Kinh Dương Thái Thiếu Thái Dương Thiếu

Kinh Minh Dương | Dương | Dương Minh Dương

Tràng Quang Tràng Tiêu

Hỏa

Lý Kinh Thái Thiếu Quyết Thiếu Thái Quyết

Kinh Âm Âm Âm Âm Âm Âm

Bào

Trang 33

*, Biệt kinh, Kỳ kinh, Lạc mạch

Biệt kinh do 12 kinh mạch phân ra từng nhánh, chảy mạnh vượt qua

biểu lý, tạng phủ đến ngực bụng; 12 kinh mạch tại thể biểu, có 15 lạc mạch chảy mạnh, cùng kinh biểu lý nối liền tới các đầu ngón tay ngón chân, lại có vô số lạc mạch tưới tiếp để bổ chính kinh; tại thể nội lại có

12 biệt kinh liên hệ hổ tương

Để hiểu biết thêm về 12 kinh mạch bên trong, 12 biệt kinh đều theo 12

kinh mạch từ khửu tay, đâu gối biệt xuất, phàm kinh dương biệt kinh thì

biệt kinh nào tự tuần hành bên trong, lại trở về kinh ấy; biệt kinh âm tự

tuần hành bên trong, nhưng không trở về kinh ấy, tất nhiên cùng với biểu lýkinh dương tương hợp Hiện tượng Hợp là kinh âm nạp nhập kinh dương, 12 biệt kinh nương theo biểu lý, chia thành 6 tổ gọi là Lục

Hợp

12 biệt kinh Hiên lạc hợp với tạng phủ, ví như thủ túc 6 kinh dương là

biệt kinh, đêu đi qua biểu lý, tức là tạng phủ, như Túc Thiếu dương tan

riêng ở gan, Tic dương minh tan riêng ở Tì, Túc Thái dương tan riêng ở

Thận, do tác dụng cơ thể để dinh dưỡng tạng phủ

Hướng đi của 12 biệt kinh, cũng tại tứ chí, đi riêng vào ngực bụng, tan

mỏng hết tại đầu, cổ trước cùng với kinh mạch tuần hành, có phân

thuận nghịch, đương nhiên có sự bất đồng, đĩ nhiên mục đích tác dụng

biệt kinh, phần ánh sự hiểu biết tại lý đương nhiên : a / thông liển với

cơ thể nội ngoại, tưới đến tạng phủ, trợ giúp chính kinh, cho sự tuần

hoàn trong ngoài; b / tiến một bước, tăng thêm sự hiểu biết liên hệ đến

2 kinh trong ngoài biểu lý

Biệt kinh do sự tuân hành vượt quá, đối với 12 kinh mạch, như kinh mạch Bàng quang, thì sự tuần hành không tới được hậu môn, bởi đó

phải dùng các huyệt Thừa sơn, Thừa cân, Phi dương, với tính chất trị

liệu bao quát chứng tri , sang ( mụn nhọt ), kinh Túc Thái dương đến được hậu môn

Lạc mạch theo kinh mạch chia ra các bộ phận lạc mạch nhỏ, như võng lưới, phân bố toàn thân Linh Xu biên soạn : 12 kinh mạch lưu hành

Trang 34

chìm trong thịt khó thấy, các mạch nổi dễ thấy, gọi là Lạc mạch, lạc

mạch chủ yếu theo kinh mạch bên trong có tác dụng tưới đến khí huyết

toàn thân, để dinh dưỡng gan, xương, da, thịt, ngũ quan, thất khiếu

15 Lạc mạch nhất định tuân hành, theo vị trí tùy chứng bệnh hư , thực

15 Lạc mạch có tác dụng chủ yếu chấy mạnh 2 kinh Biểu Lý, tưới đi

không giống nhau

Kỳ kinh bát mạch không thuộc tạng phủ, và không phối hợp Biểu Lý,

tuy Nhâm Đốc 2 mạch tự nó là du huyệt, ngoài ra 6 mạch kia, thì du

huyệt đều nương nhờ vào chính kinh

Kỳ kinh bát mạch hợp lẫn với 12 kinh mạch, có tác dụng chứa đựng

điều tiết mạch khí; trong các kinh trừ Nhâm Đốc 2 kinh mạch, còn các

kinh thành thông lộ tuân hoàn dinh khí, ngoài ra các mạch khác, không

tùy thuộc vào sự chu lưu tuần hoàn của 12 kinh

Trong 8 mạch thì Xung, Nhâm, Đốc 3 mạch, déu bắt đầu ở trong bọc,

cùng đi ra ở Hội âm, Nhâm mạch đi phía trước, Đốc mạch đi ở lưng,

Xung mạch với Túc Thiếu âm hợp nhau ở bên trên rốn, làm thành |

nguồn 3 nhánh; ngoài ra Nhâm Đốc 2 mạch, cùng đi lên vào bên trong

môi, hợp lại là 1, chia ra thành 2, ví như kiểu mẫu Tí Ngọ, Nam Bắc,

Am Dương, liên hệ; Đới mạch ước thúc ở lưng, rủ xuống đàng trước, đi

theo đường dọc của các kinh Bốn mạch kể trên trong 8 mạch rất quan

trọng Ngoài ra lưỡng cước mạch là chủ tể nhất thân tả hữu âm dương;

Nhị duy mạch là mắt lưới nhất thân Biểu Lý Am Dương

8 12 kinh cân hợp với sắc thái da, thịt, gân

Kinh cân thuộc bộ phận hệ thống kinh lạc, đi theo tứ chỉ thể biểu, cùng

toàn bộ ở ngực, bụng và xương ống, không nhập tạng phủ, kinh mạch

nhất định tuần hành theo vị trí, cùng khu vực tưới đi, do đó kinh cân

tùy thuộc vào 12 kinh mạch như sau ;

a) Phân bố hướng đi của 12 kinh cân, cùng hòa theo một nhịp tuân

hành củ 12 kinh mạch, nhưng cỏ sự thuận nghịch, không đồng nhất

b) 12 kinh cân kết tụ nơi đốt xương tay chân, hợp với sắc thái da, thịt

bên ngoài, giữa sự hổ tương liên hệ mật thiết Cân của Thủ Tam dương

kết tụ ở đầu móng chân tay, cân của Thủ Tam âm kết tụ ở chỗ xương

Trang 35

lớn ỏ ngục cân thuộc Túc Tam âm kết tụ âm khí, gân thuộc Túc tam

dương kết tụ nơi xương gò má

c) Mặt trước thuộc âm là nơi kết tụ của cân, sở dĩ Túc Tam âm, với Túc dương minh bao quát bên ngoài

d) Nguyên do vì tạng Can hợp với cân, do đó Túc quyết ân của cân

duy lạc, tất cả đều thuộc về gân, nhất thiết bệnh tại gân đều có sự quan hệ đến tạng Can

e) Kinh cân có tác dụng đương nhiên, chủ yếu nối liền xương đùi với chân, do đó trên phương diện gân, thịt liên quan đến bệnh tật

g) Bộ phận da thuộc hệ thống 12 kinh lạc củ thể Biểu Tố Vấn luận :

Kinh mạch được ghi nhận tại bợ phận da Trương giới Tân chú giải :

Phù lạc mạch thấy nơi da, tuy nhiên kinh mạch đi thay trong phẩn thịt,

không thuộc thể Biểu bộ phận da, bởi thế do kinh mạch biệt xuất,

khiến Lạc mạch không đến được, do sự nương tựa Lạc mạch cung cấp

dinh dưỡng khí huyết bộ phận da; Thuyết 12 bộ phận da, tựu trung 12 kinh mạch, thuộc ngũ tạng lục phủ, tương ứng với bộ phận da, sự quan

hệ tác dụng bệnh lý bộ phận da luận rằng : Da là bộ mạch, khí xấu đến

da, thì thấu ly (1) mở, thấu lý mở thì khí xấu vào Lạc mạch, lạc mạch

đây phải tràn vào kinh mạch, kinh mạch đầy, đương nhiên vào tạng

hoặc phủ> Khí xấu xâm nhập con người trước tiên do Lạc ở phần da,do Lạc rổi đến kinh, sau cùng truyền vào nội tạng, nội tạng sinh bệnh, phải thông quá kinh lạc, do phản ứng của phần da

9, Tác dụng cùng hiệu năng Kinh Lạc :

Phuong điện lẽ sống con người

Tác dụng khí huyết luân chuyển Dinh Vệ : Thuyết thể tạng của Linh

Xu luận : Sở dĩ khí huyết lưu hành âm dương, thấm nhuận gân xương,

lợi ngũ quan; người ta nhận khí qua khí quản, vào vị, rời truyền vào

phổi, đến tạng, phủ, hết thảy được được khí mà Trong (2) gọi là Dinh,

đục (3) gọi là Vệ, dinh ợ bên trong mạch, vệ ở bêbên ngoài mạch dinh

đi vòng không ngừng, thông suốt âm dương là 50 vòng, rồi bắt đầu trở

lại, khí đinh tuôn chảy vào mạch, biến thành máu vào ngũ tặng, lục

phủ, do đó biết được khí dinh là huyết khí tuần hành trong kinh mạch,

Trang 36

tưới vào lục phủ ngũ tạng, tưứ chỉ, cửu khiếu(4), bỏi các tổ chức toàn

thân, khí quản hô hấp, khí vào tụ nơi phần ngực, thông suốt tìm mạch,

ra cổ họng là nguyên lý thuyết minh

(a) thấu lý = giữa phân da trong da ngoài, (b) trong đối lập với đục,

(c) cửu khiếu = 2 lỗ mũi, 2 mắt, 2 lỗ tai, miệng, 2 đường tiểu, đại

tiện

Vệ khí là một thứ hoạt lợi trơn nhanh, mỗi khi bạo bệnh phát sinh , do

lũng suối tác động, đẩy mạnh khí rung chưyển, thì bệnh hoạt lợi, trơn

nhanh, tuần hành ben trong da, giữ bộ phận thịt, đốt nóng những màng

mỏng, tan nơi ngực bụng; vệ khí làm nóng bộ phận thịt, tóm thâu da

trong sa ngoài, nầy nở da thịt, chủ động mở đóng thấu lý lại rằng: Vệ

khí hòa thì các thớ thịt trơn thông,các lớp da điểu hòa mềm mại, thấu lý

khép kín triệt để; sở dĩ có sự tuần hành phát biệt tuyến đường, là do vệ

khí không tuần hành trong kinh mạch

Thuyết Linh Xu :Vệ khí vận hành 1 ngày 1 đêm = 50 vòng thân mình,

sáng sớm đi 5heo dương 25 vòng, đêm đi theo âm 25 vòng, đếế khi

âm tận, thì dương khí xuất ở mắt, mắt mở thì khí đi lên đâu, đi ra cổ

sau, xuống Túc Thái dương,đi theo lưng xuống đến đầu ngón chân út,

rỗi tan ra, chia nhanh vào vành mắt, xuống Thủ thái dương, xuống đến

ngón tay út phía ngoài, rồi tan ra, chia nhanh vào vành mắt, xuống Túc

thiếu dương „rót vào ngón chân kế ngón út, rồi đi lên Thủ thiếu dương

phía bên cạnh, xuống đến ngón tay áp út, chia ra lên đến trước tai, hợp

vào mạch ở cằm, rót vào Túc dương minh rồi đi xuống, đến mu bàn

chân, nhập vào 5 ngón chân, rồi tan ra, theo ở dưới tai, xuống Thủ

dương minh, nhập vào ngón tay cái, vào lòng bàn tay Khi đến chân

rồi, nhập vào lòng bàn chân, ra bên trong gót chân, đi theo phân

âm, dương hết qua âm, âm nhận được khí, thoạt đầu nhập vào âm,

theo Túc thiếu âm rót vào thận, thận rót vào tim, tim rót vào phế, phế

rốt vào gan, gan rót vào tì, tì rót trở lại về thận, là 1 vòng; con dường

tuần hoàn như tiêu biểu dưới đây :

Trang 37

Thông suốt trong ngoài Biểu Lý làm thành một chỉnh thể thống nhất

Linh Xu Hải luận : Phàm 12 kinh mạch, bên trong thuộc Tạng Phủ, bên ngoài Lạc thuộc đốt xương chân tay; tựu trung ràng mạch, cho thấy

tác dụng kinh mạch thông suốt biểu lý; 12 kinh mạch làm chủ thể, phối

hớp 12 Biệt kinh, Kỳ kinh Bát mạch, Lạc mạch toàn thân, tổ chức

thành một thứ chỉnh thể tuần hoàn, bên trong ứng với ngũ tạng lục

phủ, bên ngoài đến tứ chỉ và trăm xương, kinh cân bì bộ, ngũ quan thất

khiếu, các bộ phận cầm giữ trong người là tạng với phủ, ngũ quan với

nội tạng, tứ chỉ với vị trí thân hình vóc dáng, cùng một lúc liên hệ khẩn

thiết với tính chất cấu tạo, chỉnh đốn thành 1 cơ thể thống nhất

11 Phương diện bệnh lý

a) Liên hệ bệnh lý với kinh lac nội tạng Tố Vấn luận : Tà gửi đến hình

thể, thì trước nhất hại da lông, lưu lại không đi, làm hại những mạch

nhỏ, nguyên nhân là khí lưu lại, hại luôn lạc mạch, rồi vào trong tác hại kinh mạch, lục phủ, ngũ tạng, phóng vào tràng vị, gây âm dương

trỏ ngại, ngũ tạng bị ảnh hưởng tốn thương, kém hoạt động; khả dĩ

nhận thức tà khí xâm nhập nội tạng, tất nhiên kinh lạc bị tác hại ngay,

do đó phản lại thuyết chuyển biến do lổ chân lông

b) Linh Xu ghi chép : “ Bệnh bởi tà khí, khiến sắc thái biểu lộ bộ phận

tạng phủ : Nếu tiểu tràng bị bệnh, thì tai phía trước nóng, Bàng quang

bị bệnh, thì trên vai nóng, gan bị bệnh thì 2 bên dưới sườn đau, dẫn đến

Trang 38

bụng dưới, tim bị bệnh thì 2 bên hông bên trong dau, ti bi bénh thi bung

đây, phổi bị bệnh thì lưng vai đau, thận bị bệnh thì bụng trêâ bụng dưới

đau.”

c) Kinh lạc quan hệ bệnh lý., Đối với ngũ quan thất khiếu : Ngũ quan

thất khiếu, quan hệ với ngũ tạng, bở sự chuyển qua dễ dàng do kinh

lạc, trong khi kinh lặc bị bệnh, do tà khí thông qua khí quản, tất nhiên

phát sinh trạng thái các chứng bệnh; nhưn Đại tràng kinh bệnh thì răng

đau, mũi ra máu cam, vị kinh bệnh thì miệng méo, tinh thần dao động,

tì kinh bệnh thì lưỡi đau cứng, tâm kinh bệnh thì mắt vàng, tiểu tràng

kinh bệnh thì tai điếc, mắt vàng các chứng

d) Kinh lạc quan hệ bệnh lý ; đối với bộ phận tay chân : Tứ chi, da

thịt, gân xương, đều nương tựa vào sự dinh dưỡng của kinh khí, sở đĩ

tình trạng kinh lạc bị bệnh, đều qua da thịt gân xương của các bộ phận

tứ chỉ, tất nhiên xuất hiện các trạng thái tật bệnh như : Phế kinh bệnh

thì cánh tay bên trong phía trước đau buốt, đại tràng kinh bệnh thì ngón

chỏ ngón cái không dùng được, vị kinh bệnh thì chỗ giáp xương đùi vế

co rút như con thỏ nằm phục, chân và mu bàn chân đều đau, không

dùng được, kinh lạc bị bệnh thì gân thịt không được dinh dưỡng, hoặc

bởi chân dương ở vệ không bể chắc hoặc tà khí nhập vào gân thịt, làm

cho kinh cân phát sinh bệnh

e) Kinh khí quyết nghịch : 12 kinh mạch kết quả bởi khí thất thường,

khiến xuất hiện tình trạng kinh mạch quyết nghịch, “ Quyết “ = trạng

thái kinh khí mất sự vận hành, không đúng thông lệ, làm đảo lộn ý tứ,

dinh vệ bị tắc nghẽn, khí huyết không lưu thông, là kết quả kinh khí

quyết nghịch Linh Xu kinh mạch ghi chép : Phàm phế kinh với tâm

kinh bệnh nổi dây thì cánh tay Quyết, vị kinh bệnh nổi dậy thì xương

đùi Quyết, đổm kinh bệnh nổi dậy thì Dương quyết, bàng quang kinh

bệnh nổi dậy thì mắt cá chân Quyết, thận kinh bệnh nổi dậy thì xương

Quyết

g) Kinh khí Tuyệt = (dứt hết ) Tình trạng cho biết sự xuất hiện khô kiệt,

hoặc dứt hết bởi khí kinh mạch Linh Xu kinh mạch hợp với Tố Vấn

chẩn luận ghi chép tường tận : hiện tượng lẽ sống quá suy kiệt, khiến

kinh chủ nội tạng khí quản của kinh mạch ấy đơn phương dứt tuyệt

Trang 39

Thủ thiếu âm khí tuyệt thì mạch không thông, mạch không thông thì

máu không vận chuyển, mầu tóc không mướt bóng, mắt đen như phết

sơn, máu chết trước., nếu kinh mạch vói khí cùng dứt tuyệt thì nguồn

gốc ấy xuất hiện : Mắt đảo vòng quanh, mổ hôi xuất, hình tượng đều hỏng, bệnhđột biến nguy hiểm trong khoảnh khắc

12 Phương diện chẩn đoán

Kinh lạc học thuyết ứng dụng việc chẩn đoán rất phổ biến Linh Xu kinh mạch lluận thuyết : Kinh mạch dở dĩ quyết định sự sống chết con người, phân biệt tắm bệnh hư thực, cần phải thông suốt; giá trị thiết yếu quyết đoán kinh mạch đến sự sống chết , cùng phương diện lành

dữ tật bệnh Linh Xu dùng kinh mạch : “ Nhân nghỉnh, Khí khẩu “ (1)

Để truy đoán các kinh hư thực, theo nguyên tắc thì : Cổ tay là bộ Thốn, phan 4m kinh chứng hư thì Thốn khẩu thấy nhỏ, chứng thực thì Thốn khẩu lớn mạnh, phương diện dương kinh : chứng hư thì Thốn khẩu lớn, chứng thực thì Thốn khẩu nhỏ; nếu chẩn đoán lạc mạch hư thực, nên quan sát bì bộ, nếu thấy thắt nghẽn quấn quanh, thì lạc mạch bị tà khí hãm ở dưới, thì mạch khí không đủ

(1) Nhân nghinh = động mạch ở bên trái cổ, dưới cằm, Khí khẩu = Bộ Thốn của mạch nơi cổ tay phía trong, bộ phận mạch phần sau

CHƯƠNG IV

1, Kinh mạch giao chéo , giao nhau

Hương đi của kinh mạch trong thân thể không hoàn toàn đi riêng cùng một tuyến đường, mà có sự đắp đổi quanh co lẫn lộn, sở dĩ kinh mạch giao nhau, thành 1 huyệt tại 1 chỗ, hình thành bởi tình tạng giao chéo,

hoặc thông suốt qua nhau thành “ Hội huyệt “; toàn thân du huyệt giao

nhau, theo thống kê cộng chung có I01 cái Tuy nhiên toàn thân hội huyệt thì ở mắt, đầu có rất nhiều, tại 14 kinh bên trong thì Thủ túc tam

dương hòa với Đốc mạch, cộng chung huyệt giao nhau là Đại chùy, Túc

tam âm hòa với Nhâm mạch, cộng chung huyệt giao nhau là Trung cực, Quan nguyên Kinh mạch 2 bên trái phải hình thành giao nhau, hổ tương kinh khí, kiện toàn cơ thể, tống nhất quan hệ phải trái Thủ tam

âm kinh với kinh khác giao nhau, với kinh gốc là Du huyệt, kinh gốc giao nhau thẳng với kinh khác; chẳng những Thử Túc lưỡng Thái âm,

Trang 40

lưỡng thiếu âm, lưỡng quyết âm kinh, đều thông liên hổ tương; thủ túc

âm dương cùng kinh mạch liên tiếpgiao nhau như dưới đây :

Biểu đồ Thủ túc âm đương với kinh mạch giao nhau ;

Thủ Thái âm Trung phủ huyệt Túc Thái âm

Thủ Thiếu âm Trong tim Túc Thiếu âm

Thủ Quyết âm Thiên trì huyệt Túc Quyết âm

Thủ Thái dương Tinh minh huyét Tic Thái dương

Thủ Thiếu dương Đồng tử liêu huyệt Túc Thiếu dương

Thủ Dương minh Nghính hương huyệt | Túc Dương minh

2 Ý nghĩa kinh mạch

Kinh mạch với chân khí Tố Vấn luận : “ Chân khí là tỉnh khí “

Thuyết Linh Xu “hiểu Kinh Chân khí bởi trời, với khí lũng suối

toàn thân.”, do đó cần thấu hiểu Kinh khí cùng là Chân khí Nội dung

chân khí gồm 2 loại : thứ nhất tính trời phú, là nguyên khí, thứ hai do

bởi khí lũng suối, hóa thành khí dinh khí vệ, ý nghĩa kinh khí có 2 điểm

a) Kinh lạc bản thân gọi là nguyên khí, tựu trung kinh lạc trời phú, là

động lực hoạt động

b) Khí Dinh khí Vệ tại kinh lạc, vận chuyến trong ngoài không ngừng,

là hiện tượng hoạt động

Kinh mạch khí huyết nhiều ít, khí huyết của 12 kinh mạch, có nhiều

hoặc ít, lý do bởi 12 kinh mạch liên thuộc tạng phủ không đồng déu, do

nguyên khí tiên thiên trời phú (lực lượng hoạt động) lại có sự sai biệt

khác thường, hiện tượng khí huyết nhiều ít, do sự sinh sản , xem biểu

đồ dưới đây:

Ngày đăng: 17/08/2022, 14:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w