1 Lê Văn Lân TỰ TÌNH II Hồ Xuân Hƣơng I Tìm hiểu chung 1 Tác gi ả Hồ Xuân Hương ( ? ? ) Quê quán ở Quỳnh Lưu Nghệ An nhưng chủ yế u sống ở kinh thành Thăng Long Cuộc đời, tình duyên éo le, ngang trái và cũng chính cái tình c ảnh ngang trái này đã làm nên một chủ đề trong thơ của Hồ Xuân Hương đó là tiếng nói thương cảm c ho người phụ nữ, cũng như đề cao khát vọng về hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội xưa Sự nghiệ p sáng tác Hồ Xuân Hương để lại trên dưới 40 bài thơ chữ Nô m và 1 tập thơ đượ.
Trang 1TỰ TÌNH II
- Hồ Xuân Hương -
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả: Hồ Xuân Hương ( ? - ? )
Quê quán: ở Quỳnh Lưu - Nghệ An nhưng chủ yếu sống ở kinh thành Thăng Long
Cuộc đời, tình duyên éo le, ngang trái và cũng chính cái tình cảnh ngang trái này đã làm nên một chủ đề trong thơ của Hồ Xuân Hương đó là tiếng nói thương cảm cho người phụ
nữ, cũng như đề cao khát vọng về hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội xưa
Sự nghiệp sáng tác: Hồ Xuân Hương để lại trên dưới 40 bài thơ chữ Nôm và 1 tập thơ được các nhà nghiên cứu tìm thấy là tập thơ Lưu Hương Kí
=>Hướng ngòi bút về người phụ nữ, thơ của Hồ Xuân Hương trào phúng và trữ tình
mang đậm chất văn học dân gian
Nội dung chính c ủa thơ Hồ Xuân Hương: thương c ảm với số phận người phụ nữ; khẳng định đề cao vẻ đẹp, khát vọng hạnh phúc
2 Tác phẩm:
Xuất xứ: nằm trong chùm 3 bài thơ Tự Tình ( kể nổi lòng )
Nội dung, cảm hứng: thể hiện cảm thức về thời gian; tâm trạng bế tắc, cô đơn
Thể thơ: Thất ngôn bát cú đường luật
Đêm khuya: thời gian, thường thì nếu thời gian là buổi sáng là thời gian của sức sống
của năng lượng, còn về thời gian buổi chiều là thời gian của nỗi buồn nỗi cô đơn Đêm khuya là khoảng thời gian để nghĩ ngơi nhưng trong đêm khuya ấy nhân vật trữ tình lại thức => gợi ra được nỗi buồn, cô đơn; không gian yên tĩnh và vắng lặng
Tiếng trống canh: âm thanh báo hiệu thời gian, văng vẳng âm thanh vang vọng lại ở
đây dường như thời gian như một âm thanh quái ác nó thúc dục, nó dồn dập Từ lấy văng
vẳng được đảo lên trên " văng vẳng trống canh dồn " động từ dồn làm ta thấy được thời
gian trôi đi nhanh hơn một cách dồn dập
==> Từ đó thể hiện cảm thức về thời gian của nhân vật trữ tình, xoáy sâu vào lòng người
==> Chỉ một câu thơ đầu tiên mà tác giả đã vẽ ra không gian yên tĩnh của buổi đêm, thời gian gợi lên nỗi buồn, nỗi cô đơn và quan trọng hơn chính tiếng trống canh dồn ấy đã thể hiện cảm thức của nhân vật trữ tình về thời gian, tiếng trống canh như một âm thanh quái
ác xoáy sâu vào lòng người một cách dồn dập, thời gian một đi không trở lại
Trang 2 Sự xuất hiện của người phụ nữ: cái hồng nhan là hình ảnh ẩn dụ cho nhân vật trữ
tình
Trơ: phơi ra, bày ra => trơ trọi, lạc lõng
Cái hồng nhan >< nước non: cô độc, lẻ bóng >< bao la rộng lớn Từ cái dùng để chỉ sự
vật nhưng cũng chính từ cái đó cũng chỉ ý thức về thân phận người phụ nữ => thể hiện
sự bạc bẽo; nước non có thể hiểu đó là những sống gió về cuộc đời Cái từ trơ được đảo
lên đầu ý muốn nhấn mạnh sự trơ trọi, lạc lõng
Trong câu thơ không chỉ thể hiện nỗi buồn, nỗi cô đơn mà nó còn thể hiện bản lĩnh của
Hồ Xuân Hương, sự kiên cường của người phụ nữ đang trơ mình ra để đoán nhận những sống gió của cuộc đời
==> Thể hiện nỗi đau đớn, cô đơn, lạc lõng của người phụ nữ, bên cạnh đó ta cũng thấy được cái bản lĩnh kiên cường Hình tượng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương khác với người phụ nữ trong thơ của Nguyễn Du, nếu trong thơ của Nguyễn Du chỉ có nàng Kiều vượt qua những lễ giáo phong kiến để tiến đến với tình yêu, thì trong thơ của Hồ Xuân Hương người phụ nữ mang trong mình bản lĩnh kiên cường khi cô đơn lạc bóng lại phải đối mặt với sóng gió cuộc đời bao la rộng lớn để từ đó vươn lên chính bản thân mình vượt lên cảm thức về thời gian, ý thức về thân phận
2 Hai câu thực
" Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn "
Hương đưa: đảo ngữ, dường như ở đây người phụ nữ đã phó mặt cho rượu
Say lại tỉnh: phó từ lại chỉ sự lập đi lập lại Hình ảnh đối say >< tỉnh, say khi tìm đến
rượu và khi tìm đến rượu rồi lại tỉnh, cụm say lại tỉnh đã thể hiện một cái vòng luẩn
quẩn của người phụ nữ, để rồi chúng ta thấy được người xưa dùng rượu để giải đi nỗi sầu nhưng với người phụ nữ không tiêu đi cái nỗi sầu của mì nh Người phụ nữ dường như tìm đến rượu để quên đi cái thân phận của mình thế nhưng càng uống thì nỗi buồn càng thấm thía hơn, càng đau xót hơn bao giờ hết
Càng tỉnh thì cái ý thức về thân phận càng trở nên sâu sắc
Hình ảnh ẩn dụ: Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn thể hiện thân phận người phụ nữ
khi chưa nhận trọn vẹn niềm hạnh phúc Khi mà tuổi xuân thì đã qua đi mà hạnh phúc thì chưa được hưởng trọn vẹn
=> Tuổi xuân đã qua nhưng hạnh phúc không trọn vẹn
==> Khi tìm đến rượu người phụ nữ không quên được cái thân phận của mình mà lại càng ý thức sâu hơn về thân phận, cái tiếng lòng của người phụ nữ thốt lên như một lời ai oán, oán trách về thân phận bẻ bàng của mình Người phụ nữ chỉ mong chờ một hạnh phúc trọn vẹn thế nhưng cho đến khi bóng xế, tuổi xuân đã qua khi đứng trước bước đi của thời gian người phụ nữ vẫn không thể có được hạnh phúc trọn vẹn cho bản thân mình
và đó cũng là cái xót xa nhất của người phụ nữ trong xã hội xưa
3 Hai câu luận
" Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn "
Trang 3Xiên ngang - đâm toạc: động từ mạnh, đảo ngữ động từ đảo lên đầu câu thể hiện khát
vọng, mong muốn muốn phá vỡ mọi giới hạn để giải thoát cho chính bản thân mình Cách tác giả sắp xếp từ ngữ " rêu từng đám " và " đá mấy hòn " vô cùng độc đáo thể hiên
sự bướng bỉnh, ngang ngạch, không chấp nhận muốn vượt lên số phận để tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân
Hình ảnh " đám rêu " và " hòn đá " là những vật nhỏ bé qua đó ta thấy được thân phận của người phụ nữ
=> Đó là cách tác giả sử dụng để tả cảnh ngụ tình
==> Nỗi phẫn uất của nhân vật trữ tình được gửi gắm vào cảnh vật để rồi chỉ cần nhìn vào cảnh vật thôi nhưng nhân vật trữ tình cũng cảm nhận được sự vươn lên của chính những sự vật nhỏ bé ấy
4 Hai câu kết
" Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con ! "
Ngán: động từ thể hiện trực tiếp tâm trạng chán chường của người phụ nữ dù có " xiên
ngang mặt đất, đâm toạc chân mây " thì người phụ nữ vẫn phải rơi vào cái nỗi chán chường mệt mõi
Nỗi xuân đi xuân lại lại: Xuân là mùa xuân của đất trời cũng là hình ảnh ẩn dụ cho thời
gian tuần hoàn Như " Mãn Giác Thiền Sư " đã nói trong bài " Cáo Tật Thị Chúng " đã
viết:
" Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai "
có nghĩa rằng xuân đi trăm hoa rụng, xuân đến trăm hoa nở đó cũng là dấu hiệu của thời gian tuần hoàn, thời gian là một vòng tròn khép kín, là một vòng tuần hoàn trôi đi và trở lại Sự tuần hoàn về thời gian sẽ đối lập với tuổi xuân của con người và điều này làm cho người phụ nữ trở về lại với bế tắc, dù có vươn lên dù có phản kháng đến đâu đi chăng nữa thì người phụ nữ không thể phũ nhận được thời gian có thể trôi đi rồi trở lại còn tuổi xuân của con người thì không còn nữa
Ý thức về thân phận: Mảnh tình san sẻ tí con con
Tình cảm của người phụ nữ ấy chỉ dám nhận là một mảnh mà thôi thế nhưng vẫn phải
san sẻ để rồi thứ tình cảm ấy trở thành tí con con => nhỏ bé dần của hạnh phúc, hạnh
phúc đã nhỏ còn phải san sẻ nó đi => Thân phận làm lẽ của người phụ nữ
==> Thân phận điển hình của người phụ nữ trong xã hội xưa
III Tổng kết
1 Nội dung
2 Nghệ thuật
_
Trang 4CÂU CÁ MÙA THU
- Nguyễn Khuyến -
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả: Nguyễn Khuyến ( 1835 - 1909 )
Quê quán: quê ngoại Nam Định nhưng sống ở Hà Nam
Nguyễn Khuyến được gọi là Tam Nguyên Yên Đỗ vì ông đã đỗ đạt cả 3 kì thi Hương, Hội, Đình
Cuộc đời:
1864: đỗ đầu kì thi Hương
=> Tam Nguyên Yên Đỗ 1871: đỗ đầu cả 2 kì thi Hội và thi Đình
==> Con người Nguyễn Khuyến l là người có cốt cách thanh cao, có lòng yêu nước
thương dân Khi năm 1858 thực dân Pháp đánh chiếm vào Gia Định sau đó nhà Nguyễn
đã quyết định nhường 3 tỉnh miền Đông Nam Kì cho Pháp, và khi đó Nguyễn Khuyến đượ thực dân Pháp mời ra làm quan thế nhưng Nguyễn Khuyến từ chối sau đó ông về quê ở ẩn và dạy học
Sự nghiệp sáng tác: hơn 800 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm
Nội dung thơ: thơ Nguyễn Khuyến nói lên tình yêu quê hương đất nước, gia đình, bạn bè; phản ánh cuộc sống của những con người khổ cực, thuần hậu, chất phác; châm biếm đã kích thực dân xâm lược, tầng lớp thống trị, đồng thời bộc lộ tấm lòng ưu ái đối với dân, với nước
2 Tác phẩm:
Hoàn cảnh sáng tác: Có thể được sáng tác khi Nguyễn Khuyến về quê ở ẩn
Xuất xứ: nằm trong chùm 3 bài thơ Thu
Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật ( chữ Nôm )
Nhan đề: Câu cá mùa thu ( hoạt động giải sầu và là thú vui của tác giả )
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngô trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Trang 5Điểm nhìn: Ao thu => nước => sóng => thuyền => mây, trơi
==> Điểm nhìn từ gần đến xa
Ao thu " lạnh lẽo " => Đặc trưng của làng quê
=> Hình ảnh bức tranh hiu quạnh, dường như tác giả đang cố nhấn mạnh vào cái nhỏ bé, cô đơn
Nước " trong veo " => Gợi ra sự tĩnh lặng
Thuyền câu " bé tẻo teo
==> Không gian nhƣ thu hẹp lại
Trong cái không gian nhỏ bé của làng quê ấy Nguyễn Khuyến đã cố gắng thu hẹp tầm mắt của mình tất cả những sự vật tưởng chừng như là gần gủi nhất của làng quê nơi Nguyễn Khuyến sống
Ao thu nó như 1 mặt gương và cái mặt gương ấy trong mùa thu thì nó tĩnh lặng, sau đó hình ảnh của chiếc thuyền câu tạo 1 điểm nhấn cho bức tranh ấy dường như Nguyễn Khuyến đang muốn đặc tả cho sự cô đơn của chiếc thuyền câu bằng cách sử dụng số từ " một "
Một hình ảnh tạo nên điểm nhấn của bức tranh đó là hình ảnh chiếc thuyền câu thế
nhưng dường như Nguyễn Khuyến đang muốn đặc tả sự cô đơn bằng cách sử dụng số từ
" một ", thế nhưng đ ặc điểm của chiếc thuyền câu ấy là bé rồi lại còn tẻo teo như trong
bài " Tự Tình " Hồ Xuân Hương có câu: " Mảnh tình san sẻ tí con con " dường như Hồ
Xuân Hương và Nguyễn Khuyến đều có sự gặp nhau ở chỗ đang muốn đặc tả sự cô đơn Nếu như đối với Hồ Xuân Hương nói lên cái thân phận làm lẻ khi phải chia sẻ tình cảm
và hạnh phúc, thì đối với Nguyễn Khuyến muốn gợi ra được sự cô đơn nhỏ bé
" Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo "
Có thể nói đây là 2 câu thơ đối chỉnh và là 2 câu thơ thể hiện đặc trưng nhất cho thiên nhiên mùa thu của làng quê Việt Nam, đối với 2 sự vật sóng biếc và lá vàng Nguyễn Khuyến đã gán cho chúng những chuyện động hơi khẽ, rất nhỏ và việc miêu tả những chuyển động rất nhỏ ấy chính là bút pháp lấy động để tả tĩnh từ đó nhấn mạnh lên vẽ tỉnh lặng của mùa thu
Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất tài tình, tác giả sử dụng vần " eo " làm từ vận và đó là một âm kép, việc sử dụng âm kép ấy khiến cho bức tranh thiên nhiên mùa thu đang thu hẹp dần
Sự xuất hiện của con người trong bức tranh thu " khách vắng teo " => nhấn mạnh không gian vắng lặng
==> Bức tranh thiên nhiên mùa thu đẹp nhưng buồn
2 Tình thu
Thể hiện qua bức tranh mùa thu
Cảnh vật: nhỏ bé, cô đơn
Trang 6Mây " lơ lửng " => lênh đênh, vô định
Khách " vắng teo " => cô đơn, hiu hắt
==> Tâm trạng của nhân vật trữ tình, cô đơn, u buồn, trống vắng
Thể hiện thông qua dáng ngồi
Dáng ngồi: tựa gối, buông cần Nếu xét về hình ảnh tả thực thì dáng ngồi này là dáng ngồi của những người ngồi câu đang chờ cá đớp mồi, còn ở đây bên c ạnh cái dáng ngồi
ấy ta còn thấy được đây là dáng ngồi suy tư trầm ngâm về đất nước, đó là tâm trạng của một nhà chí sĩ yêu nước vô cùng lo lắng, ưu tư cho số phận dân tộc
Sự chuyển động cuối cùng của cảnh vật " cá đớp động " đây là một âm thanh nhỏ thế nhưng khi đặt nó vào bức tranh mùa thu thiên nhiên tĩnh l ặng ấy thì âm thanh này lại trở thành một âm thanh phá tan s ự im lặng của cảnh vật và có thể nói tiếng cá đớp động này
là âm thanh làm cho tác gi ả bừng tĩnh
=> Từ đó nổi bật lên phẩm chất của Nguyễn Khuyến hiện lên không chỉ là tình yêu thiên nhiên mà còn là lòng yêu đó, là trách nhiệm của một công dân với đất nước
Cuộc đời và con người
Trần Tế Xương tên thường gọi là Tú Xương, vợ của ông thường gọi là Bà Tú
Quê quán: ông quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định ( nay thuộc phường
Vị Hoàng, tỉnh Nam Định )
Tú Xương sống vào khoảng thời gian cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, vào khoảng thời gian này đất nước ta đang phải chịu sự xâm lược của thực dân Pháp Vào năm 1858 thực dân Pháp nổ tiếng súng đ ầu tiên xâm lược nước ta, cũng vào thời đ ại này Hán học bị suy tàn làm cho Tú Xương càng thấm thía nỗi nhục của một nhà tri thức nô lệ
Cuộc đời ông gắn liền với những bi kịch thi cử, trong quan niệm của xã hội phong kiến thì người nam nhi sẽ buộc phải có công danh vì vậy Tú Xương phải đi thi, Tú Xương vốn
là 1 con người thông minh học giỏi thế nhưng cá tính của 1 người nghệ sĩ không cho phép Tú Xương hòa hợp với những quy tắc của trường thi chính vì vậy mà 8 kho thi chưa khỏi trường quy và cuộc đời Tú Xương gắn liền với bi kịch thi cử ông bắt đầu đi thi năm 17 tuổi tức năm 1886 cho đến kho thi thứ 4 tức năm 1894 thì ông mới đổ chức danh
Trang 7=> Ông là người học giỏi, thông minh, có cá tính
Sự nghiệp sáng tác
Có trên 100 bài thơ chủ yếu là thơ chữ Nôm
Bên cạnh đó còn có văn tế, phú, câu đối
Nội dung thơ: Tú Xương chủ yếu ở 2 mảng là thơ trào phúng và thơ trữ tình
+ Thơ trào phúng: đả kích, châm biến
+ Thơ trữ tình: thể hiện nỗi u hoài và những tâm sự của 1 nhà tria thức khong gặp thời
Đề tài: viết về người vợ
==> Cuộc đời của Tú Xương nhiều gian truân nhưng ông đã để lại cho đời sự nghiệp thơ
ca bất tử và tấm gương nhân cách cao đẹp
2 Tác phẩm: Thương Vợ
Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật
Đề tài: viết về người vợ Bà Tú là một người phụ nữ tảo tần, chịu nhiều bất hạnh thế nhưng bà lại vô cùng hạnh phúc khi có người chồng là Tú Xương luôn dành những tình yêu thương và niềm trân trọng dành cho người vợ
Bố cục: đề - thực - luận - kết
II Phân tích
1 Hai câu đề: giới thiệu về bà Tú và trách nhiệm của bà Tú trong gia đình
" Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng "
Câu thơ thứ nhất giới thiệu về công việc của bà Tú
Quanh năm: gợi ra khoảng thời gian của bà Tú đều đặn, nhịp nhàng, kéo dài quanh năm Buôn bán: bán những gánh hàng rong => sự bấp bênh
Ở mom sông: địa điểm làm việc => sự nguy hiểm, bấp bênh, không ổn định của công
việc; chỉ là một phần đất nhô ra và nó có thể sập bất cứ lúc nào
=> Công việc của bà Tú là một công việc vất vả, bất bênh, tìm ẩn sự nguy hiểm từ đó gợi
ra cuộc đời cơ cực, vất vả, lam lũ
Câu thơ hai là trách nhiệm của bà Tú trong gia đình
Nuôi đủ: một mình bà Tú nuôi và không có ai giúp đỡ; bà Tú nuôi trọn vẹn và không để
cho chồng con phải chịu thiệt; và chỉ là nuôi đủ không có kho ản dư để tiết kiệm
Năm con với một chồng: ngụ ý dường như Tú Xương đang đ ặt mình ngang hàng với
những đứa con và Tú Xương là một người con đặt biệt
=> Càng làm tăng cái gánh nặng, trách nhiệm của bà Tú
==> Qua hai câu thơ đầu bà Tú đã hiện lên là một người phụ nữ có cuộc đời vất vả và cái gánh nặng nuôi chồng con là cái gánh nặng lớn nhất cuộc đời bà
Trang 82 Hai câu thực: sự vất vả của bà Tú
" Lặn lội thân cò khi quăng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông "
Câu 3
Thân cò: là hình ảnh ẩn dụ cho thân phận bất hạnh, vất vả của người phụ nữ => hình ảnh
ẩn dụ cho bà Tú
Các ca dao hình ảnh con cò ẩn dụ cho người phụ nữ
" Cái cò lặn lội bờ ao, Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non."
( Cái cò lặn lội bờ ao - Khuyết danh Việt Nam )
" Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay "
( Nước non lận đận một mình - Khuyết danh Việt Nam )
Dùng biện pháp đảo ngữ 2 từ láy tượng hình " lặn lội " để chỉ sự vất vả
Khi quăng vắng: " quăng vắng " đây vốn là từ để chỉ không gian thế nhưng lại đi với từ
" khi " vốn là từ dùng để chỉ thời gian để cho ta thấy được khi tất cả mọi người nghĩ ngơi thì bà Tú lại đi kiếm ăn Từ đó ta có thể thấy được hình ảnh bà Tú trở nên nhỏ bé và đáng thương trước sự rợn ngợp của cả không gian và thời gian
Câu 4
Dùng biện pháp đảo ngữ 2 từ láy tượng thanh " eo sèo " để gợi ra sự đông đúc, chen l ấn,
sự mua bán
Buổi đò đông: gợi ra không gian chợ đông đúc
=> Sự vất vả trong công việc, không ổn định
nghệ thuật: trong câu 3 và câu 4 tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối chỉnh về cả ý và cú pháp
+ Đối ý: cô đơn, nhỏ bé >< đông đúc, xô bồ
+ Đối cú pháp: đảo ngữ
" Lặn lội " >< " Eo sèo "
=> Nhấn mạnh vào thân phận bất hạnh, vất vả, lam lũ của bà
Tú
" Thân cò " >< " Mặt nước "
" Khi quăng vắng " >< " Buổi đò đông "
==> Từ đó nổi bật lên phẩm chất của bà Tú là một người phụ nữ tảo tần, chịu thương chịu khó
3 Hai câu luận: giải thích sự vất vả của bà Tú
" Một duyên hai sự âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công "
Trang 9Một duyên hai nợ: " duyên " chính là duyên vợ chồ ng, " nợ " là nợ đời ở đây Tú Xương
muố n tự mỉa mai là khi lấy bà Tú duyên thì ít mà nợ thì nhiều => đây là số phận của bà
Tú
Âu đành phận: ở đây bà Tú không kêu ca gì mà lại chấp nhận số phận
Năm nắng mười mưa: " nắng mưa " là hình ảnh ẩn dụ cho những khó khăn vất vả,
"năm mười " là sự gấp đôi nhau => diễn tả theo chiều tăng tiến của tác giả từ đó nó thể
hiện được những vất vả của bà Tú ngày càng nhiều
Nghệ thuật đối được Tú Xương sử dụng rất tài tình và đúng theo thể thơ thất ngôn bát cú
Người chửi: chính là Tú Xương
Đối tượng chửi: chửi lễ giáo phong kiến, những luật lệ hà khắc, chửi cái nợ công danh đã
sinh ra những người chồng vô dụng Và 1 phần cũng là chửi chính bản thân tác giả =>
tác giả tự phán xét mình r ằng chỉ là một anh học trò dài lưng tốn vải mà thôi còn lại tất
cả đều phải nhờ vào vợ, nhờ vào ăn bám vợ và trở thành 1 đứa con đ ặt biệt trong cuộc
đời của vợ, trở thành nợ đời của vợ => đây là lời lên án cho chế độ thi cử và dường như
đây cũng là lời nhận lỗi chân thành của Tú Xương với vợ
==> Tú Xương là một người chồng thương vợ, có sự đồng cảm và xót thương với vợ,
đồng thời ông cũng trân trọng và biết ơn những gì mà vợ đã hi sinh cho gia đình, là
Trang 10Biệt hiệu: Hi Vân
Quê quán: người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Con người: Nguyễn Công Trứ nổi tiếng là 1 con người học giỏi, giàu chí khí, tài hoa và
đặc biệt là văn vỗ toàn tài; Nguyễn Công Trứ còn là người giàu lòng yêu nước thương dân
Cuộc đời: Nguyễn Công Trứ xuất thân trong gia đình nhà Nho nghèo
Thuở nhỏ ông sống trong nghèo khó => Nguyễn Công Trứ sống trong nghèo khó và cũng chính từ cái nghèo khó này đã giúp Nguyễn Công Trứ tiếp xúc với thể hát nói ( đây
là thể loại thành công nhất của ông )
Năm 1819 Nguyễn Công Trứ đã đỗ giải Nguyên và bắt đầu ra làm quan nhưng con
đường làm quan của Nguyễn Công Trứ nhiều thăng trầm => tạo nên cá tính và cái chất ngạo nghễ của Nguyễn Công Trứ
Hoàn cảnh sáng tác: đây là 1 tác phẩm được Nguyễn Công Trứ sáng tác sác khi từ bỏ
chức quan trường để về quê hương sống 1 cuộc đời ẩn dật ( tức sau năm 1848, cũng kho ảng thời gian này chế độ phong kiến suy tàn )
Thể loại: hát nói ( xuất hiện trước thế kỉ XVIII ), 1 thể thơ tự do, phóng khoáng; về cách
thức khi hát có thêm tiếng đệm, tiếng phách, tiếng trống => trở thành điệu hát ca trù
Bố cục: 3 phần
6 câu đầu: thái độ ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ khi làm quan
12 câu tiếp: thái độ ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ khi hành lạc ( khi ở ẩn )
Câu cuối: thái độ ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ chốn triều chung
Trang 11II Phân tích
1 Nhan đề: " ngất ngưỡng "
Nghĩa gốc: đây là một từ lấy tượng hình gợi ra tư thế của con người và sự vật nghiêng
ngã, không vững thế nhưng lại không bị đổ
Nghĩa hàm ẩn: thái độ sống ngất ngưỡng
Thái độ sống khác người luôn xem mình ở vị trí cao hơn người khác;
Thái độ sống thoải mái, tự do, phóng khoán
Trêu người khiến cho những người xung quanh thấy khó chịu
=> Đặt vào hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ thì thái độ sống này vượt ra khoảng những cái tầm thường, cái thói c ủa xã hội
2 Phân tích 6 câu thơ đầu: thái độ sống ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ khi làm
quan
" Vũ trụ nội mạc phi phận sự, Ông Hi Vân tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưỡng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên "
2 câu đầu: quan niệm về cuộc sống và công danh
Vũ trụ nội mạc phi phận sự: mọi việc trong trời đất đều thuộc phận sự của ta Đây là
lời tuyên ngôn lập thế, tuyên ngôn r ằng cái trách nhiệm của bản thân với tất cả những việc trong trời đất đều là phận sự
Tác giả sử dụng từ Hán Việt tạo ra được không khí trang trọng => đây là tuyên ngôn l ập thế của Nguyễn Công Trứ
==> Phẩm chất của 1 nhà Nho chân chính và còn là 1 đấng nam nhi chân chính
Ông Hi Vân: chính là tác giả, việc tự đưa mình vào chính bài thơ của mình nó là một
dấu hiệu để khẳng định cái tôi, ta đã gặp được cái tôi này trong r ất nhiều nhà thơ mà 1 trong số đó có thể kể đến như là:
" Ba trăm năm nữa trong thiên hạ, Thiên hạ còn ai khóc Tố Như? "
( Độc Tiểu Thanh Kí - Nguyễn Du )
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi, Này của Xuân Hương mới quệt rồi
( Mời Trầu - Hồ Xuân Hương )
Trang 12Việc đưa cái tôi của mình vào trong thơ văn dường như đã trở thành 1 phương tiện để tác giả biểu đạt cái 1 cách cao nhất
Ông Hi Vân tài bộ đã vào lồng: khẳng định lại tài năng c ủa ông đã có thể sánh ngang
được với trời đất
4 câu thơ sau: ý thức về cái tôi tài năng hơn người
Liệt kê: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông => đây là những danh vị, chức tước mà
Về Phũ doãn Thừa Thiên: năm 1848 ông chính thức làm quan Phũ doãn Thừa Thiên
=> Tác giả khoe tài thông qua việc liệt kê một loạt các chức tướng
==> Sự nhận thức về tài năng hơn người
Giọng điệu: khi thì khoe khoang phô trương, khi thì lại tự cao tự đại
==> Cái tôi cá nhân được đẩy lên mức cao nhất
3 Phân tích 12 câu thơ tiếp: Thái độ sống ngất ngưỡng khi ông cáo quan về ở ẩn
" Đô môn giải tổ chi niên, Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng, Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đúng đinh một đôi dì, Bụt cũng nực cười ông ngất ngưỡng
Được mất dương dương người thái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cấc, khi tùng, Không Phật, không Tiên, không vướng tục
Chắng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú, Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung "
Đô môn giải tổ chi niên: câu thơ đánh dấu dấu móc Nguyễn Công Trứ về ở ẩn
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng: làm trái khuấy Bình thường khi quan về hưu thì
sẽ hưởng bổng lộc, mở yến tiệc thế nhưng khi Nguyễn Công Trứ về hưu thì chỉ cưởi bò
và có cũng có 1 bài thơ ông viết rằng:
Trang 13Xuống ngựa lên xe nọ tưởng nhàn, Lợm mùi giáng chức với thăng quan
Điền viên dạo chiếc xe bò cái, Sẵn tấm mo bưng miệng thế gian
( Thơ đề mo cau - Nguyễn Công Trứ )
=> Thái độ khinh thường với miệng lưỡi người đời, thế gian
" Kiếm cung " >< " từ bi " => Những việc làm trái khuấy, nó không
chỉ thể hiện cá tính c ủa Nguyễn Công Trứ mà con thể hiện thái độ của ông
" Lên chùa " >< " hầu gái "
Quan niệm về sự đời
Được mất - khen chê
=> Sử dụng nghệ thuật đối nhằm làm nổi bật lên cái thái độ coi thường những cái được mất, khen chê ở đời
Dương dương - phơi phới
Người thái thượng - ngọn đông phong
Sự hành lạc, thú hưởng
Ca, tửu, cấc, tùng: hình ảnh ẩn dụ cho những thú vui
Quan niệm về P hật, Tiên: quan niệm về bản thân không tín ngưỡng => thể hiện quan
niệm tự do, không sống theo 1 cái tính ngưỡng hay 1 quy tắc nào hết
2 câu thơ sau tác giả đã khẳng định về cái sự trung thành Mặc dù sống một cách hưởng lạc thế nhưng Nguyễn Công Trứ không quên được cái cốt cách của một nhà Nho và để rồi ông đã khẳng định được cái tài năng và sự nghiệp của bản thân, ngoài việc khẳng
định tài năng và sự nghiệp Nguyễn Công Trứ còn khẳng định được sự trung thành với nước và hiếu với dân
4 Phân tích câu cuối: lời kết luận của Nguyễn Công Trứ
" Trong triều ai ngất ngưỡng như ông "
=> Khẳng định thái độ sống ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ và chính cái thái độ
sống ngất ngưỡng ấy cũng làm nên sự khác biệt của Nguyễn Công Trứ
III Tổng kết
1 Nội dung
2 Nghệ thuật
_
Trang 14VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
- Nguyễn Đình Chiểu - Phần 1: Tác giả
I Gia đình, thời đại, cuộc đời
1 Xuất thân, gia đình
Nguyễn Đình Chiểu ( 1822 - 1888 ) ông sống trọn vẹn trong khoảng thế kỉ XIX
Tên tự: Mạnh Trạch Tên hiệu: Trọng Phủ, Hối Trai
Quê quán: Nguyễn Đình Chiểu sinh ra ở quê mẹ tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định ( nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ) Gia Định cũng là 1 trong những địa điểm mà thực dân Pháp đánh chiếm đầu tiên và khoảng thời gian thế kỉ XIX
Nguyễn Đình Chiểu xuất thân trong 1 gia đình nhà Nho có cha tên là Nguyễn Đình Huy làm thư lại dưới quyền của Lê Văn Duyệt, mẹ ông là Trương Thị Thiệp là vợ 2 trong gia đình và mẹ của Nguyễn Đình Chiểu là 1 người rất hiền từ, ông cũng đã học được rất nhiều cái đạo lí, lí lẽ làm người từ người mẹ Trương Thị Thiệp này
Bối cảnh xã hội
Trong khoảng thời gian này đ ất nước ta chuyển từ chế độ xã hội phong kiến sang chế độ
xã hội thực dân nửa phong kiến => về bối cảnh xã hội như này thì các nhà nghiên cứu có dùng 1 từ đó là " xã hội nửa Tây nửa Tàu " sinh ra những trò lố lăng [ ô dè lắm = )) ]
3 Cuộc đời
Thời thơ ấu
Ông được sống dưới vòng tay yêu thương của người mẹ Trương Thị Thiệp, và chính trong kho ảng thời này thì Nguyễn Đình Chiểu được giáo dục về thiện ác, chính tà, nhân nghĩa => đây cũng là một trong những yếu tố làm nên thơ văn về lí tưởng nhân nghĩa, đạo lí làm người của Nguyễn Đình Chiểu
Ông cũng đã chứng kiến được cảnh loạn lạc của xã hội
Trang 15Trưởng thành
1843: Nguyễn Đình Chiểu đỗ Tú Tài ở Gia Định
1847: đang chuẩn bị cho kì thi Hương ở Huế ( quê cha ) thì nghe tin mẹ ông mất, ông phải bỏ thi để trở về quê chịu tan mẹ Tuy nhiên đang trên đường về do thời tiết khắc nghiệt, đường xa, lại qua đau lòng trước sự ra đi của mẹ mà Nguyễn Đình Chiểu đã bị
mù ngay đúng năm ông 26 tuổi và ông cũng bị hôn thuê bội ước => lỡ báo hiếu, lỡ
đường lập thân
1851: mở trường dạy học và làm thuốc chửa bệnh cho nhân dân
1855: ông kết hôn cùng bà Năm Điền, đây là người em gái của học trò rất ngưỡng mộ Nguyễn Đình Chiểu
1859: khi mà thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định thì Nguyễn Đình Chiểu thật sự trở thành một trong những người tích cực tham gia chống giặc mặc dù đôi mắt của ông không còn sáng nữa nhưng mà ông đã dùng ngòi bút của mình để cảm nhận, phản ánh về cuộc chiến đấu của dân tộc cũng như là lên án tội ác của thực dân Pháp
Những năm tháng cuối đời
Nguyễn Đình Chiểu về lánh nạn ở Ba Tri, Bến Tre cũng chính tại đây ông tiếp tục mở trường học và làm thuốc, trong khoảng thời gian này thì thực dân Pháp tìm mọi cách để mua chuộc Nguyễn Đình Chiểu thế nhưng Nguyễn Đình Chiểu với nhân cách cao thượng của mình đã từ chối mọi cám dỗ của giặc và quyết tâm chiến đấu bằng ngòi bút của mình đến hơi thở cuối cùng => từ đây ta có thể thấy được nhân cách của một nhà Nho yêu nước
3 - 7 - 1888: Nguyễn Đình Chiểu mất tại Ba Tri, Bến Tre
==> Hiện lên ở Nguyễn Đình Chiểu là 1 người thầy giáo mẫu mực nhận được sự yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ của biết bao thế hệ học trò, ông còn là 1 người thầy thuốc y đức và còn là 1 nhà thơ, nhà văn yêu nước
II Sự nghiệp thơ văn
1 Những sáng tác chính
Giai đoạn trước 1858
Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu tập trung ca ngợi đạo đức, truyền bá đạo lí làm người,
có thể kể đến như là: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu
Giai đoạn sau 1858
Chuyển từ truyền bá đ ạo lí làm người sang lên án quân xâm lược, phê phán triều đình nhà Nguyễn nhu nhược suy tàn cũng như là ngợi ca tinh thần chiến đấu của quân dân ta,
có thể kể đến như là: Chạy Giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Thơ điếu Trương Định, bộ Ngư tiều y thuật vấn đáp
Trang 162 Quan điểm sáng tác
Quan điểm " văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí "
" Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà "
(Dương Từ - Hà Mận - Nguyễn Đình Chiểu )
Quan điểm đề cao trị thẳm mĩ của văn chương
Văn chương xuất phát từ tấm lòng:
" Văn chương ai chẳng muốn nghe Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần "
( Ngư tiều y thuật vấn đáp - Nguyễn Đình Chiểu )
Chú trọng sáng tạo trong văn chương:
" Trượng phu có chí ngang tàng Rộng cho phóng tứ làm bàn thi tiên "
( Ngư tiều y thuật vấn đáp - Nguyễn Đình Chiểu )
3 Nội dung thơ văn
Lí tưởng dạo đức, nhân nghĩa
Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho Nhưng đậm
đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc
Lòng yêu nước, thương dân
Ghi lại chân thực một thời đau thương c ủa đất nước Nguyễn Đình Chiểu không thể cầm
vũ khí chiến đấu thế nhưng bằng tất cả những giác quan của mình ông đã dùng ngoài bút
để chiến đấu trên mặt trận tư tưởng
Tố cáo tội ác của giặc Có thể thấy qua bài " chạy giặc " ho ặc các bài văn tế
Ca ngợi, biểu dương những người anh hùng nhân nghĩa đã chiến đấu, hi sinh vì Tổ Quốc Khích lệ lòng căm thì giặc và ý chí cứu nước của nhân dân
4 Nghệ thuật thơ văn
Đậm đà sắc thái Nam Bộ
Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, chất phát
Lối thơ thiên về kể => màu sắc diễn xướng
Thể loại đa dạng, đỉnh cao ở truyện thơ Nôm, văn tế và thơ điếu
Trang 17Địa danh và trận đánh Cần Giuộc
Cần Giuộc là là 1 huyện thuộc tỉnh Long An
Ý nghĩa: có sức ảnh hưởng đối với phong trào chống giặc trên cả nước, nó cổ vũ khích lệ tinh thần đánh giặc, lòng yêu nước của nhân dân trên cả nước trong không khí " thà chết vinh còn hơn sống nhục "
Hoàn cảnh sáng tác
Bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định, Đỗ Quang
Mục đích để đọc trong lễ truy điệu 20 nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đánh ấy
Bài văn tế có giá trị và nó đã tác động mạnh mẽ vào tinh thần yêu nước của nhân dân và quân giặc
Đây là bài văn tế đầu tiên mà hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được xuất hiện trong
văn học và trở thành một bức tượng đài bất hủ, bất diệt
2 Thể loại và bố cục
Thể loại: văn tế
Khái niệm: là thể văn dùng để bày tỏ lòng thương tiếc với người đã mất
Nội dung: hồi tưởng về cuộc đời, công đức, phẩm hạnh của người đã mất và bày tỏ lòng
thương tiếc với người đã mất trong giờ phút tiễn biệt
Đặc sắc nghệ thuật:
Mang âm hưởng bi thương; giọng điệu lâm li, thấm thiết
Sử dụng nhiều thán từ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh mẽ
Thường viết bằng văn xuôi, lục bát, song thất lục bát, phú
Trang 18Bố cục: 4 phần
Lung khởi: khái quát về người đã mất
Thích thực: hồi tưởng về đức hạnh của người đã mất
Ai vãn: thể hiện sự thương tiếc, lòng cảm phục
Khốc tận: kết lại
3 Bố cục bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Lung khởi ( từ đầu => " tiếng vang như mõ " ): khái quát về bối cảnh và hình ảnh người
nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc
Thích thực ( " nhớ linh xưa " => " tàu đồng súng nổ " ): hồi tưởng về cuộc đời, phẩm
chất của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
Ai vãn ( " ôi! " => cơn bóng xế dật dờ trước ngõ " ): bày tỏ lòng thương tiếc và sự cảm
phục của tác giả đối với sự hi sinh của những người nghĩa sĩ
Khốc tận ( còn lại ): tác giả ca ngợi linh hồn bất tử của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
II Phân tích
1 Lung khởi: khái quát về bối cảnh và hình ảnh người nông dân
Bối cảnh thời đại:
Súng giặc đ ất rền: hoàn cảnh đ ất nước bị thực dân xâm lược
Lòng dân trời tỏ: trong hoàn cảnh bị xâm lược thì tinh thần chiến đ ấu để bảo vệ đất nước của nhân dân, còn có ý nghĩa r ằng chỉ có nhân dân mới thấu hiểu được nổi đau mất nước
=> Trong hoàn cảnh bị xâm lược thì tinh thần chiến đ ấu của nhân dân được đẩy lên cao hơn bao giờ hết nó đã làm lây chuyển vũ trụ
=> Hình thức câu văn ngắn gọ n kết hợp với hình ảnh đối lập
==> Tác giả khái quát về sự kiện thực dân Pháp xâm lược nước ta, trong hoàn cảnh đó nhân dân đứng lên chiến đấu
Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ
" Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ "
Công vỡ ruộng => còn => chưa ắt còn danh nổi như phao
1 trận đánh Tây => mất => tiếng vang như mõ
=> Người nghĩa sĩ Cần Giuộc có xuất thân là nông dân, bước đầu khẳng định sự hi sinh của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
Trang 192 Thích thực: hồi tưởng về cuộc đời, phẩm chất của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
a Nguồn gốc xuất thân
Khi còn là nông dân: " cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó " => từ láy => gợi ra sự vất vả,
thân phận nhỏ bé
==> Những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc là những người nông dân cần cù lao
động, nghèo khó
Nông dân Yêu cầu của một người lính
Chỉ biết: ruộng, trâu
Liệt kê: " Việc cuốc, việc cày, việc bừa,
việc cấy, tay vốn quen làm "
=> Nhấn mạnh những đặc trưng và công
việc của người nông dân
Chưa quen: cung ngựa
Chưa từng: " tập khiên, tập súng, tập mác,
tập cờ, mắt chưa từng ngó "
=> Công việc của 1 người lính tham gia chiến đấu
=> Nhấn mạnh rằng những người nông dân ấy thuần chất là những người nông dân, họ
chưa hề có kinh nghiệm ra chiến trường cũng chưa hề có kinh nghiệm đánh giặc thế
nhưng họ sẵn sàng ra chiến trường trong lúc đất nước cần họ nhất
=> Nổi bật lên phẩm chất, tinh thần sẵn sàng chiến đấu của những người nông dân trong
hoàn cảnh đất nước bị xâm lược
b P hẩm chất của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
Lòng yêu nước nòng nàn:
Diễn biến tâm trạng của những người nông dân - nghĩa sĩ Cần Giuộc:
" Ghét thói mọi " => căm ghéc
==> Thể hiện được lòng yêu nước nồng nàn, diễn biến tâm trạng của những người nông
dân yêu nước không chỉ là người nông dân Cần Giuộc mà bất kì một ai của dân tộc Việt
Nam chắc chắn khi quân xâm lược đến đều có tâm trạng này
Tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hi sinh
Con đường từ nông dân trở thành nghĩa sĩ: có 2 lý do là vì lòng căm thù giặc và mến
nghĩa làm quân chiêu mộ
" Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp,
dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ "
Sự đối lập giữa kẻ thù và nghĩa quân Cần Giuộc:
" Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn
tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ
" Chi nhọc quan quản trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có."
Trang 20Quân giặc Nghĩa quân
" đạn to đạn nhỏ "
=> Thế lực hùng hậu, vũ khí hiện đại khả
năng sát thương cao, thiện chiến
" một manh áo vải "
" một ngọn tầm vong "
" rơm con cúi "
" lưỡi dao phay "
=> Những vật dụng của nhà nông thế nhưng trong hoàn cảnh này nó đã trở thành
vũ khí chiến đấu
Tinh thần chiến đấu
Những chiến công c ủa nghĩa quân:
" Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ."
" Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ "
Hành động: đạp rào lướt tới, xô cửa xong vào, đâm ngang chém ngược
=> Những động từ mạnh để diễn tả khí thế chiến đấu và sức mạnh của nghĩa quân được làm nên từ lòng căm thù giặc sâu sắc và lòng yêu nước nồng nàn
Những chiến công thu được: đốt nhà dạy đạo, chém rớt đầu quan, làm cho bọn mã tà ma
ní hồn kinh
=> Quân giặc thất bại và nhấn mạnh chiến thắng của nghĩa quân
3 Ai vãn: bày tỏ lòng thương tiếc và sự cảm phục của tác giả đối với sự hi sinh của
những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
Sự hi sinh
" Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ "
Mặc dù bước đầu ta đã dành được thắng lợi thế nhưng sau khi thực dân Pháp phản công trên con đường trở về bơi qua sông Cần Giuộc thì những người nghĩa sĩ đã hi sinh
" Xác phàm vội bỏ "
=> Từ ngữ trang trọng, điển tích điển cố
" Da ngựa bọc thây "
" Quy"
==> Từ đó bày tỏ sự hi sinh c ủa những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
Thái độ của mọi người xung quanh
Trang 21" Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ " => cách nói khái quát nói lên tất cả
người dân đều đau xót trước cái chết của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
" Sống làm chi " : Theo quân tà đạo
Đi ngược lại với tổ tiên
Tiếng khóc Nguyễn Đình Chiểu dành cho những người nghĩa sĩ: " Đau đớn bấy! Mẹ già
ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ " => Sự hi sinh của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc đã để
lại trong lòng của những người còn sống, những nổi đau không thể nguôi được
4 Khóc tận: Ca ngợi linh hồn bất tử của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc
" Một trận khói tan; nghìn năm tiết rỡ "
Trận đánh Cần Giuộc Tiếng thơm muôn đời
Trang 22" Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ "
Danh thơm Ưng đền miếu để thờ
Ai cũng mộ
=> Thể hiện sự cảm phục, nâng cao giá trị của sự hi sinh
Ca ngợi linh hồn bất tử: " Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ
binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó "
" Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ "
Câu kết: " Hỡi ơi thương thay!; có linh xin hưởng " thể hiện cảm xúc của cá nhân tác giả
==> Hình ảnh những người nghĩa sĩ Cần Giuộc trở thành bức tượng đài bất tử, tiêu biểu cho lòng yêu nước, tinh thần đánh giặc
cổ bé họng
Thạch Lam sinh ra trong 1 gia đình có truyền thống văn học và nó cũng đã ảnh hưởng đến con đường sáng tác của Thạch Lam
Trang 23Con người
Thạch Lam được đánh giá là một người trầm tĩnh, kín đáo, thiên về đời sống nội tâm, ông ít phô trương Thế nhưng chính cái đời sống nội tâm này đã làm cho Thạch Lam dường như có nhiều suy tư hơn về cuộc đời
Ngoài ra ông còn là người đa cảm, có tâm hồn tinh tế; là người nhìn đời, nhìn người thiên về cái đẹp, cái thiện
Quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật
Quan điểm sáng tác: lành mạnh, tiến bộ, rõ ràng, đối tượng của văn chương, chức năng
của văn chương
Quan niệm đối tượng của văn chương thì ông khẳng định đối tượng của văn chương chính là cuộc đời qua sự quan sát, xét đoán, qua rung động của nhà văn Cuộc đời đối với Thạch Lam nó không cuộc đời vật chất bên ngoài, cũng không phải miếng cơm manh áo gạo tiền mà nó chính là thế giới nội tâm bên trong của con người Ông cũng có 1 câu nói rất hay:
" Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho con người sự thoát ly trong sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta
có, để vừa tố cáo vừa thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn "
Người nghệ sĩ phải có tâm hồn phong phú và tinh tế, phải biết sống cùng mọi người và vạn vật xung quanh; phải có tài quan sát; nghiêm túc, trung thực với trang viết Có thể nói trong giai đoạn 1930 - 1945 văn học chia ra làm 2 xu hướng: văn học lãng mạn và văn học hiện thực Thì Thạch Lam có trong văn học lãng mạn nhưng ông lại có 1 cái cách nhìn hiện thực
Phong cách nghệ thuật: độc đáo
Sở trường của Thạch Lam ở thể loại truyện ngắn, ở truyện ngắn thì hầu hết truyện của ông không có cốt truyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm với những cảm xúc mong manh, mơ hồ
Mỗi truyện như một bài thơ trữ tình đượm buồn và văn phong sáng tác của ông trong sáng, giản dị, thâm trầm, sâu sắc
Các tác phẩm chính
Các tập truyện ngắn: Gió đầu mùa ( 1937 ), Nắng trong vườn ( 1938 ), Sợi tóc ( 1942 ) Tiểu thuyết: Ngày mới ( 1939 )
Tập tiểu luận: Theo dòng ( 1941 )
Tùy bút: Hà Nội băm sáu phố phương ( 1943 )
2 Tác phẩm
Xuất xứ: In trong tập " Nắng trong vườn " ( 1938 )
Vị trí: Là truyện ngắn tiêu biểu cho phong các nghệ thuật truyện ngắn của Thạch Lam,
Trang 24Chủ đề: Bức tranh phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám từ lúc chiều muộn đến
đêm khuya qua cái nhìn tâm trạng của nhân vật Liên
Bố cục: 3 phần
Phần 1 ( từ đầu đến " tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng " ): Tâm tr ạng của
Liên trước bức tranh phố huyện lúc chiều muộn
Phần 2 ( tiếp theo đến " sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ " ): Tâm trạng của Liên
trước bức tranh phố huyện khi đêm về
Phần 3 ( còn lại ): Tâm trạng của Liên trong cảnh đợi tàu và khi tàu đi qua
II Phân tích
1 Tâm tr ạng của Liên trước bức tranh phố huyện lúc chiều muộn
a Trước cảnh chiều tàn
Bức tranh thiên nhiên
Âm thanh: " Tiếng trống thu không trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa
để gọi buổi chiều " => tiếng trống điểm nhịp thời gian
" Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve " - những âm thanh đặc
trưng của làng quê, ở làng quê cứ đến chiều tối thì âm thanh cứ văng vẳng => Bút pháp lấy động tả tĩnh
=> Diễn tả không khí vắng vẻ, đìu hiu, hoang vắng của phố huyện lúc chiều tàn
==> Miêu tả từ xa đến gần, nhỏ dần, tất cả như cộng hưởng tạo nên một bản nhạc đồng quê êm đềm
Màu sắc: " Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than
sắp tàn " => Sử dụng tính từ chỉ mức độ kết hợp với so sánh tác giả đã diễn tả được màu
sắc rực rỡ bùng cháy trước khi lụi tàn và đây cũng là 1 cảnh hoàng hôn sống động, báo hiệu một ngày đã qua
Đường nét: " Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rơ rệt trên nền trời " => Tác giả
sử dụng nghệ thuật tương phản giàu chất hội họa để miêu tả cảnh hoàng hôn dần buông xuố ng êm đềm, nhẹ nhàng, tinh tế
=> Có thể thấy bức tranh phố huyện đã được tác giả khắc họa đầy đ ủ có cả âm thanh, màu sắc, đường nét
==> Bằng cảm hứng lãng mạn tinh tế, câu văn như câu thơ kết hợp hài hòa giữa các chi tiết miêu tả âm thanh, màu sắc, đường nét, tác giả đã gợi lên bước đi của thời gian, đồng thời gợi lên một bức tranh thiên nhiên thôn dã trong cái giờ khắc của ngày tàn: đẹp, êm đềm, thơ mộng, đượm buồn mang hồn quê Việt Nam
Trang 25Tâm trạng của Liên: " Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng
tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị: Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn"
Tư thế: " Ngồi yên lặng " => Tư thế trầm tư suy nghĩ
Đôi mắt: " Ngập đầy bóng tối " => Nỗi buồn trào dâng
Tâm hồn: " Ngây thơ mà buồn thấm thía " ; " Không hiểu sao nhưng thấy lòng buồn man
mác trước cái giờ khắc của ngày tàn "
=> Từ tư thế, dáng vẻ đến tâm hồn cho thấy tâm trạng của Luên buồn trước bước đi của thời gian, trước cảnh thiên nhiên vắng lặng, đìu hiu => Tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên
b Tâm trạng của Liên trước cảnh chợ tàn
Cảnh
Âm thanh: " Chợ họp giữa phố văn từ lâu Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất " =>
Chợ vốn là nơi vốn nhộn nhịp và đông đúc còn đối với phiên chợ đã tàn thì chỉ còn lại sự trống vắng, quạnh hiu
Hình ảnh: " Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía " => Những
phế thải của một phiên chợ quê nghèo
Mùi vị: " Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc
quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này " => Mùi của đất
quê hương, mùi vị của nghèo khổ, lầm than, cơ cực
=> Bằng ngoài bút tả thực, cảm nhận bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu
giác và bằng cả tâm hồn tinh tế nhạy cảm, những chi tiết giàu sức gợi, cảnh chợ tàn gợi bức tranh sinh hoạt của phố huyện nghèo nàn, xơ xác, tiêu điều
Tâm trạng của Liên
Cảm nhận mùi vị quen thuộc
Tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương
=> Tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, gắn bó với quê hương
c Trước kiếp người tàn
Liên và An
Trước ở Hà Nội, từ khi bố mất việc, hai chị em về quê
Mẹ giao trông coi một gian hàng tạp hóa nhỏ xíu
Chiều nào cũng dọn hàng, đếm hàng, tính tiền, ngồi trên cái chõng sắp gãy nhìn cảnh và