1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SÓNG của nhà thơ Xuân Quỳnh

4 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 25,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÓNG Xuân Quỳnh I TÌM HIỂU CHUNG 1 Tác giả Tên thật Nguyễn Thị Xuân Quỳnh ( 1942 1988) Thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Các tác phẩm chính “Tơ tằm Chồi biếc”(1963), “Hoa dọc chiến hào”(1968), “Tự hát” (1984) Đặc điểm thơ giàu nữ tính với hồn thơ giàu trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc giản dị đời thường Năm 2017, Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật 2 Tác p.

Trang 1

SÓNG Xuân Quỳnh

I. TÌM HIỂU CHUNG:

1 Tác giả:

- Tên thật: Nguyễn Thị Xuân Quỳnh ( 1942- 1988)

- Thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ

- Các tác phẩm chính: “Tơ tằm - Chồi biếc”(1963), “Hoa dọc chiến hào”(1968), “Tự hát” (1984)…

- Đặc điểm thơ: giàu nữ tính với hồn thơ giàu trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc giản dị đời thường

- Năm 2017, Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật

2 Tác phẩm

a Hoàn cảnh sáng tác, xuất xư

- Trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền, Thái Bình ( cuối năm 1967) Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh

- In trong tập thơ “Hoa dọc chiến hào” ( 1968)

b Đề tài, thể thơ:

- Đề tài: Tình yêu

- Thể thơ: 5 chữ

Hình tượng “sóng”:

- Đằng sau hình tượng “sóng” là nhân vật “em”

- “Sóng” là hình tượng ẩn dụ cho tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hóa thân của

“em”

Hai hình tượng này quấn quýt, song hành, đan cài, cộng hưởng với nhau tạo nên vẻ độc đáo về cấu tư trữ tình của bài thơ.

c Bố cục: Hai phần:

+ P1: 7 khổ đầu: Sóng và em – những nét tương đồng

+ P2: 2 khổ còn lại: Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu

II Đọc- hiểu văn bản:

1 Phần 1: Sóng và em – những nét tương đồng:

1.1 Hai khổ thơ đầu: Sóng và tâm hồn người phụ nữ khi yêu:

a Khổ 1: Đặc tính của sóng và tình yêu người con gái trẻ:

Trạng thái đối lập của sóng:

“Dữ dội” >< “ Dịu êm”

“Ồn ào” >< “Lặng lẽ”

-> Trạng thái gần như trái ngược nhau, lúc sôi nổi, ồn ào, khi dịu êm, lặng lẽ.

=> Hiện tượng thường thấy của những con sóng

- Nghệ thuật tương phản thể hiện hai trạng thái, hai đặc tính đối lập của sóng

- Liên tưởng đến tâm lí phức tạp của người phụ nữ khi yêu

Sóng cũng giống như em: không đứng yên.

Quy luật của sóng cũng là quy luật tâm lí của người con gái đang yêu

Trang 2

Hành trình của những con sóng:

- Sông -> Không gian nhỏ bé

- Bể -> Không gian rộng lớn

 Không gian đối lập

- Nhân hóa: Sông không hiểu, Sóng tìm

- > Sóng khao khát, tự khám phá, nhận thức chính mình, khao khát vươn tới cái lớn lao, cao cả

=> Quan niệm tình yêu mới mẻ, táo bạo: người phụ nữ chủ động tìm kiếm hạnh phúc, tình yêu đích thực, bến đỗ đích thực

b, Khổ 2:

* Sưc sống của sóng:

- “Ngày xưa”, “ngày sau”: thời gian dài vĩnh viễn.

- “Vẫn thế”: khẳng định bản chất, khát vọng muôn đời của sóng.

=> Quy luật của sóng: Con sóng muôn đời vẫn vỗ vào bờ, vẫn xao động với nhiều trạng thái…

* Khát vọng tình yêu tuổi trẻ:

“ Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

- Tình yêu là khát khao cháy bỏng, bồi hồi trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ

- Chân lí: khát vọng tình yêu là vĩnh viễn, luôn thường trực trong tâm hồn con người

⇒ Từ quy luật của tự nhiên tác giả phát hiện ra quy luật muôn đời của tình yêu

Giọng thơ chân thực, tự nhiên, sôi nổi, Xuân Quỳnh đã biểu đạt một quan niệm mới mẻ và khát vọng mãnh liệt trong tình yêu.

1.2 Năm khổ thơ tiếp: Tác giả bộc lộ những trạng thái tâm hồn khi yêu:

a.Khổ 3,4: Sóng và nguồn gốc của tình yêu:

- Đứng trước biển, tác giả băn khoăn, trăn trở tự tách mình ra để đọc lòng mình

- Điệp ngữ: “em nghĩ” + câu hỏi tu từ => khát vọng muốn cắt nghĩa tình yêu

- Sóng - gió ?

=> Nvtt mượn sóng để lí giải, cắt nghĩa tình yêu nhưng bất lực ( Không thể nhận thức, lí giải

được )

- “Em cũng không biết nữa”

-> lời thú nhận ngọt ngào về việc không lí giải nổi tình yêu với tâm trạng bối rối rất nữ tính và đáng yêu, đồng thời cũng rất chân thành(Khó có thế cắt nghĩa một cách rõ ràng nguồn gốc của tình yêu)

Xuân Quỳnh dựa vào quy luật tự nhiên để truy tìm khởi nguồn của tình yêu nhưng nguồn gốc của song cũng như tình yêu đều bất ngờ, đầy bí ẩn, không thể lí giải được vừa mơ hồ, vừa gần gũi vừa xa xôi Đây là cách cắt nghĩa tình yêu rất Xuân Quỳnh – một cách cắt nghĩa nữ tính và trực cảm.

b Khổ 5: Nỗi nhớ trong tình yêu:

- Nỗi nhớ của sóng:

+ Bao trùm cả không gian: sóng dưới lòng sâu – sóng trên mặt nước.

+ Thao thức trong mọi thời gian: ngày đêm không ngủ được

Trang 3

Nghệ thuật nhân hóa kết hợp với phép đối, giọng thơ dào dạt, náo nức…diễn tả nỗi nhớ

da diết không thể nguôi cứ cuồn cuộn triền miên

Hình ảnh sóng lặp lại ba lần như một điệp khúc của một bản tình ca Đây là một ẩn

dụ nghệ thuật về những đợt sóng lòng đang dâng trào trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu.

- Sóng nhớ bờ mãnh liệt, còn em nhớ anh đắm say hơn bội phần: Lòng em nhớ đến anh –

Cả trong mơ còn thức

+ Lòng em nhớ anh: cách nói trực tiếp tình cảm của lòng mình một cách táo bạo, mạnh mẽ, tác

giả tự tách mình ra khỏi sóng để nghe tiếng gọi của lòng mình

+ Nỗi nhớ xâm chiếm tâm hồn con người cả trong cõi vô thức, tiềm thức lẫn ý thức, cả khi tỉnh lẫn khi mơ

+ Cách nói cường điệu nhưng hợp lí: nhằm tô đậm nỗi nhớ trong tình yêu

-> Cấu trúc khổ thơ thay đổi, cả bài thơ là những khổ 4 dòng, nỗi nhớ lại được diễn tả bằng khổ 6 dòng đã bộc lộ cái tôi riêng của nữ sĩ – nỗi nhớ nồng nàn, đằm thắm hơn nỗi nhớ của sóng với bờ.

Nhân vật trữ tình của bài thơ vừa soi mình vào sóng, vừa tự tách ra em để bày tỏ tình yêu một cách chân thành, tha thiết và mãnh liệt.

c Khổ 6,7: Tình yêu - sự thủy chung:

-Tác giả chọn cách nói ngược: dẫu xuôi - phương bắc; dẫu ngược - phương nam

→ Khẳng định: dù khó khăn,cách trở, ngang trái thì em cũng vẫn chỉ hướng về một phương duy nhất- phương anh.

→ Tình yêu thủy chung,son sắt với một niềm tin mãnh liệt.

- Bến bờ hạnh phúc:

+ Mượn hình ảnh của sóng: Con nào chẳng tới bờ - dù muôn vời cách trở  Quy luật tất yếu.

+ Sóng khát khao tới bờ như em khao khát có anh Sóng vượt qua mọi trở ngại để tới bờ như

em bước qua mọi khó khăn, cách trở để cập bến hạnh phúc

Xuân Quỳnh thể hiện cái tôi của một con người luôn có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu.

=> Qua hình tượng sóng và em, Xuân Quỳnh đã nói lên thật chân thành, táo bạo, không hề giấu giếm khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt của mình.

2 Phần 2: Những suy tư, âu lo, trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu (khổ 8, 9):

- “Cuộc đời” – “dài thế”

“Năm tháng” – “đi qua”

→ Kiểu lập luận tương phản: Âu lo, phấp phỏng về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc

→ XQ âu lo nhưng không thất vọng mà luôn muốn được sống hết mình cho tình yêu

- “Làm sao tan ra” → “trăm con sóng” → “ngàn năm còn vỗ”:

+ Khao khát được sẻ chia, hòa nhập vào cuộc đời

+ Khát vọng được sống hết mình trong biển lớn tình yêu Ước muốn hóa thân thành trăm con sóng nhỏ để vĩnh viễn hóa tình yêu của mình thành tình yêu muôn thưở

=> Tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống của nhà thơ.

Trang 4

3 Nghệ thuật:

- Thể thơ 5 chữ truyền thống; cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu sưc liên tưởng.

- Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.

III Ý nghĩa văn bản:

Vẻ đẹp của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu tha thiết, nồng nàn, đầy khát vọng và son sắt, thủy chung vượt lên mọi giới hạn đời người.

IV Tổng kết: (SGK)

Ngày đăng: 08/07/2022, 18:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w