hay
Trang 1CHƯƠNG I
TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
I TRIẾT HỌC LÀ GÌ?
1 Triết học và đối tượng của triết học:
Thuật ngữ “ triết học” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “yêu thích
(phylo) sự thông thái (sophia )”
Triết học dù theo quan niệm nào, bao giờ cũng gồm hai yếu tố:
-Yếu tố nhận thức: Sự hiểu biết về thế giới chung quanh, trong đó có conngười, sự giải thích hiện thực bằng hệ thống tư duy
-Yếu tố nhận định: Đánh giá về mặt đạo lý để có thái độ và hành động.Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầuthế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác Triết học Mácxít xác địnhnhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa ýthức - vật chất trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chungnhất của tự nhiên, xã hội, tư duy con người
Để có thể xem xét thế giới như một chỉnh thể, phương pháp của triết học làtổng kết toàn bộ lịch sử của các khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.Triết học là khoa học diễn tả thế giới quan bằng lý luận Chính vì vậy, vấn đề đốitượng và tư cách khoa học của triết học đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài
trong lịch sử Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học vẫn là nghiên
cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh
2 Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan
Để tồn tại, loài người phải thích nghi với giới tự nhiên, nhưng con ngườikhông thích nghi một cách thụ động mà luôn tìm cách biến đổi thế giới đó theonhững yêu cầu trong cuộc sống của mình Muốn vậy, con người cần hiểu biết về
Trang 2thế giới xung quanh cũng như về chính bản thân mình: thế giới là gì? con người là
gì? ý nghĩa cuộc sống là gì?… những câu hỏi như vậy luôn được đặt ra và được giải
đáp với những mức độ khác nhau trong mọi thời đại
Toàn bộ những quan niệm về thế giới, về vị trí của con người trong thế giớiđó, về chính bản thân và cuộc sống của con người và loài người hợp thành thế giớiquan của một con người, một cộng đồng người trong mỗi thời đại nhất định Nhưvậy, thế giới quan bao gồm cả nhân sinh quan, tức là toàn bộ những quan niệm vềcuộc sống của con người và loài người
Tư duy được mài sắc cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng, phong phú vàphức tạp của hoạt động thực tiễn Tư duy triết học là đỉnh cao của quá trình nhận
thức Thực chất của nó là sự “phản tư’ của ý thức trong quá trình tự nhận thức chính
bản thân mình Triết học diễn tả thế giới quan của con người dưới dạng một hệthống các phạm trù như những bậc thang trong quá trình nhận thức Triết học tạonên hệ thống lý luận bao gồm những quan điểm chung nhất về thế giới như mộtchỉnh thể, trong đó có con người và mối quan hệ của nó với thế giới chung quanh
Như vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là hệ thống các quan
điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó
II VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM
1 Vấn đề cơ bản của triết học
Quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức và vật chất làvấn đề cơ bản của triết học
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
* Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào làcái quyết định?
* Ý thức của con người có thể phản ánh chân thực thế giới khách quankhông, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
Trang 32 Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học
Giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học sẽ chia các triết gia thành
hai trường phái lớn: Trường phái duy vật và trường phái duy tâm
- Trường phái duy vật : Đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều
thống nhất với nhau ở chỗ coi vật chất là các có trước và là cái quyết định ý thức,đều xuất phát từ thế giới vật chất để giải thích thế giới
+ Hình thái đầu tiên của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật chấtphác, ngây thơ thời cổ đại Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chủ yếudựa vào quan sát trực tiếp, chưa có cơ sở khoa học
+ Hình thái lịch sử thứ hai là chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thếkỷ XVII – XVIII Các nhà duy vật máy móc xem xét giới tự nhiên và con ngườichỉ như những hệ thống máy móc khác nhau và tồn tại trong trạng thái biệt lập,ngưng đọng, không vận động, không phát triển
+ Hình thái thứ ba và cũng là hình thái cao nhất của chủ nghĩa duy vậtlà chủ nghĩa duy vật biện chứng
+ Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật, ngoài những hình thái
cơ bản vừa nêu còn một vài dạng nữa như: chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủnghĩa duy vật kinh tế…
- Trường phái duy tâm: thừa nhận ý thức là cái có trước và là cái quyết định
sự tồn tại của vật chất Tồn tại dưới hai dạng chủ yếu:
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan: cho rằng có một thực thể tinh thầnkhông những tồn tại trước, tồn tại ở bên ngoài, độc lập với con người và với thếgiới vật chất mà còn sản sinh ra và quyết định tất cả các quá trình của thế giới vậtchất
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: cho rằng cảm giác, ý thức là cái cótrước và tồn tại sẵn trong con người, trong chủ thể nhận thức; còn các sự vật bênngoài chỉ là phức hợp của các cảm giác ấy mà thôi
+ Tuy có sự khác nhau trong quan niệm cụ thể về cái có trước và về sựcó trước, nhưng cả hai dạng của chủ nghĩa duy tâm đều thống nhất với nhau ở chỗcoi ý thức, tinh thần là cái có trước, là cái sản sinh ra và quyết định vật chất
Trang 4+ Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắtnguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá một mặt nào đó, một đặc tính nàođó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người
+ Ngoài nguồn gốc nhận thức, chủ nghĩa duy tâm ra đời và tồn tại còn
do nguồn gốc xã hội Sự tách rời lao động trí óc với lao động chân tay và địa vịthống trị của lao động trí óc với lao động chân tay trong các xã hội cũ đã tạo raquan niệm về vai trò quyết định của nhân tố tư tưởng, tinh thần
- Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm Cuộc đấu tranh đó tạo nên động lực bên trong cho sự phát triểncủa tư duy triết học Đồng thời, cuộc đấu tranh này còn là sự biểu hiện bằng cáchnày hay cách khác cuộc đấu tranh hệ tư tưởng của các giai cấp đối địch trong xãhội
- Một học thuyết triết học được gọi là nhất nguyên luận khi thừa nhận chỉ mộttrong hai thực thể là cái có trước và là cái quyết định, nghĩa là cho rằng thế giới chỉcó một nguồn gốc duy nhất Trong lịch sử triết học, ngoài những nhà duy vật vàduy tâm có quan điểm nhất nguyên còn có những nhà triết học xem vật chất và ýthức là hai nguyên thể song song tồn tại, không cái nào có trước, chúng là hainguồn gốc tạo nên thế giới Học thuyết của họ là nhị nguyên luận Bên cạnh đó,lại có những người cho rằng vạn vật là do vô số nguyên thể độc lập cấu thành Đólà quan điểm đa nguyên luận triết học Triết học nhị nguyên thường sa vào chủnghĩa duy tâm, còn đa nguyên luận triết học là một học thuyết triết học duy tâm
3 Thuyết không thể biết
Đối với câu hỏi “con người có thể nhận thức được thế giới hay không?” tuyệt
đại đa số các nhà triết học trong lịch sử trả lời một cách khẳng định Tuy nhiên, cósự phân biệt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm về đối tượng nhận thứcChủ nghĩa duy tâm cho rằng:
- Nhận thức chỉ là sự tự sản sinh ra tri thức bởi chủ thể
- Nhận thức chỉ là sự nhớ lại, hồi tưởng lại những gì mà linh hồn đã lãngquên trong quá khứ
- Nhận thức chỉ là sự tự ý thức về bản thân ý thức
Trang 5Song bên cạnh đó lại cũng có một số nhà triết học cho rằng con người khôngthể hiểu biết được thế giới hay ít ra là không thể biết được bản chất của nó Học
thuyết của họ được gọi là “thuyết không thể biết” Vấn đề mà những người theo học thuyết không thể biết đặt ra và không giải quyết được là: “làm thế nào để biết
được rằng những cảm giác, biểu tượng và nói chung ý thức của con người có phù hợp với sự vật mà con người muốn nhận thức hay không?”
III BIỆN CHỨNG VÀ SIÊU HÌNH
1 Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
Các hiện tượng, sự vật, hiện tượng của thế giới chung quanh ta tồn tại như thế nào? Chúng hoàn toàn biệt lập với nhau hay phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, hoàn toàn ở trong trạng thái tĩnh, ngưng đọng, nhất thành bất biến hay vận động biến đổi không ngừng? Có rất nhiều cách trả lời về vấn đề này, song suy cho cùng đều quy
về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình
- Quan điểm siêu hình là quan điểm “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà
không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của các sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”
- Quan điểm biện chứng không những thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy
được mối liên hệ của chúng, không những thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong của sự vật, không những thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà còn thấy trạng thái động của sự vật, không những “thấy cây” mà còn “thấy cả rừng”
“Điều căn bản” trong phương pháp biện chứng là “xem xét những sự vật và
những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”
2 Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng
Lịch sử phát triển của các phương pháp biện chứng và siêu hình luôn gắn liềnvới lịch sử phát triển của khoa học cũng như của thực tiễn và đã trải qua nhiều giaiđoạn khác nhau
- Giai đoạn đầu tiên của tư duy triết học biện chứng là phép biện chứng tựphát thời cổ đại thể hiện rõ nét trong “thuyết Aâm – Dương “ của triết học Trung
Trang 6Quốc , đặc biệt là trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại Trong giai
đoạn này, do chưa đạt đến trình độ đi sâu phân tích giới tự nhiên, cho nên các nhà biện chứng cổ Hy Lạp chỉ chú ý đến sự vận động, đến sự quá độ từ các này sang cái khác, đến những mối liên hệ chứ chưa chú ý nhiều đến cái đang vận động, đang quá độ và đang liên hệ với nhau
- Từ nửa thế kỷ XV trở đi, khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, ngày càng
đi sâu phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên thành những mảnh riêng biệt, cố định đểnghiên cứu Việc làm đó đã đưa đến những thành tựu vĩ đại trong việc nhận thứcthế giới; nhưng phương pháp nghiên cứu đó cũng để lại một thói quen xem xét sựvật một cách siêu hình
- Trong giai đoạn phát triển tiếp theo của khoa học tự nhiên, những kết quảnghiên cứu mới đòi hỏi một cách nhìn biện chứng về giới tự nhiên Chính nền triếthọc cổ điển Đức, ngay từ đầu, đã phát triển theo tinh thần biện chứng để đáp ứngnhu cầu đó Phép biện chứng được bắt đầu với triết học của Kant và hoàn thiện vớitriết học của Hégel, song đó là phép biện chứng duy tâm
- Theo Mác và Aênggen, những ý niệm trong đầu óc chúng ta chẳng qua chỉnhững sự phản ánh của các sự vật hiện thực khách quan, do đó bản thân biệnchứng của ý niệm cũng chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thức của sự vận độngbiện chứng của thế giới hiện thực khách quan Trên cơ sở đó, Mác và Aêngghen đãcải tạo phép biện chứng duy tâm của Hégel thành phép biện chứng duy vật – giaiđoạn cao nhất của phép biện chứng
IV VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học
- Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là nhữngvấn đề thế giới quan Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để thiết lập nhân sinhquan tích cực Vì thế, trình độ phát triển của thế giới quan là một tiêu chí quantrọng về sự trưởng thành của cá nhân cũng như của một cộng đồng xã hội nhấtđịnh
- Với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau Nhìnchung, chủ nghĩa duy vật triết học thường biểu hiện thế giới quan và góp phần tíchcực vào cuộc đấu tranh của tầng lớp chủ nô dân chủ chống tầng lớp chủ nô quýtộc, của giai cấp tư sản chống giai cấp phong kiến, của khoa học chống tôn giáo;
Trang 7ngược lại, chủ nghĩa duy tâm được sử dụng làm công cụ biện hộ về lý luận cho cácgiai cấp thống trị và các lực lượng phản động
- Ngoài chức năng thế giới quan, triết học còn có chức năng phương phápluận Một lý luận triết học, khi lý giải các sự vật, hiện tượng theo một quan điểmnhất định, đã đồng thời thể hiện một phương pháp xem xét nhất định, hơn nữa, cònlà một quan điểm chỉ đạo về phương pháp Do đó, một học thuyết triết học khôngnhững chỉ thể hiện ra là một thế giới quan nhất định mà còn là một phương phápchung nhất của sự xem xét thế giới Mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng thời
là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp và lý luận về phương pháp.
Phương pháp luận là một hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn cùng với bản thân học thuyết về hệ thống đó Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận
chung của toàn bộ nhận thức khoa học, trong đó, bản thân thế giới quan cũng đãmang một ý nghĩa về phương pháp luận
- Với vai trò thế giới quan và phương pháp luận của mình, triết học có ảnhhưởng quan trọng đối với sự phát triển của các khoa học khác Triết học tự nhiênđã đưa ra được nhiều tư tưởng thiên tài, đã dự đoán trước được nhiều phát hiện củakhoa học sau này
- Lịch sử của khoa học đã cho thấy, kiên định thế giới quan duy vật vàphương pháp tư duy biện chứng là những nhân tố hết sức quan trọng giúp cho cáckhoa học cụ thể vượt qua những giới hạn của nhận thức cũ, những cuộc “khủnghoảng” để đi tới những thành tựu mới Trái lại, chủ nghĩa siêu hình, chiết trungthông thường đã làm cho khoa học tự nhiên bị chặn đứng lại một cách tuyệt vọngtrong những yêu cầu về lý luận của nó Sự ra đời của triết học Mác làm cho tácdụng tích cực của triết học đối với sự phát triển của khoa học càng thêm to lớn vàmạnh mẽ
2 Vai trò của triết học Mác – Lênin
- Triết học Mác – Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọngnhất của tư duy triết học nhân loại Đó là chủ nghĩa duy vật - biện chứng trong việcxem xét giới tự nhiên cũng như xem xét xã hội và tư duy con người
- Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ vớinhau, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là sự diễn tả quan niệm vềthế giới, là lý luận về thế giới quan Hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy
Trang 8vật Mácxít, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã trở thành nhân tố địnhhướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát
của phương pháp luận, trở thành ”chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị”, “công cụ
nhận thức vĩ đại”
- Tuy nhiên, triết học Mác – Lênin không hề thay thế cho các bộ môn khoahọc khác trong việc nhận thức thế giới Sự tồn tại và phát triển của các khoa họccụ thể là một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học Triết học Mác –Lênin chỉ góp phần đưa lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sựphát triển khoa học Chính vì vậy, để đẩy mạnh sự phát triển của khoa học cụ thểcũng như của bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứulý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết
- Cùng với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, các trào lưu cách mạngxã hội đã và đang tạo nên sự biến đổi sâu sắc và hết sức năng động trên mọi lĩnhvực của đời sống xã hội Việc thực hiện những nhiệm vụ to lớn nhằm mục tiêutiến bộ xã hội do thời đại đặt ra đòi hỏi ở con người thế giới quan khoa học vữngchắc và năng lực tư duy sáng tạo Việc nắm vững triết học Mác – Lênin giúp conngười tự giác trong quá trình trau dồi phẩm chất chính trị, tinh thần và tư duy sángtạo của mình Đó là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nóichung, của công cuộc đổi mới hiện nay nói riêng
- Tuy nhiên, bên cạnh tri thức triết học còn cần có hàng loạt tri thức của cáckhoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên mộtcách trực tiếp ở mỗi con người Thiếu những tri thức đó thì việc vận dụng nhữngnguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả mà trong nhiều trường hợpcòn có thể dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều
- Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòngvà chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kếtquả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triếthọc Mác – Lênin nói riêng
*
1.Triết học là gì ? đặc điểm của triết học như một hình thái ý thức xã hội?
2 Vấn đề cơ bản của triết học Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm?
Trang 93 Phân biệt phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong lịch sử triếtbọc
CHƯƠNG II
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
I – NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
1 – Tiền đề kinh tế – xã hội
Triết học Mác xuất hiện vào những năm 40 của thế kỷ XIX Đây là thời kỳ ởcác nước Tây Âu, chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống kinh tế thống trị Giai cấpvô sản đã bước lên vũ đài chính trị với tư cách là một lực lượng độc lập Sự xuấthiện triết học Mác cũng như chủ nghĩa Mác nói chung được chuẩn bị trước hết bởi:
- Sự phát triển ngày càng sâu sắc những mâu thuẫn trong cuộc đấu tranh giữalao động và tư bản, giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản
- Yêu cầu cần có một học thuyết khoa học, cách mạng nhằm:
+ Vạch ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
+ Vạch ra tính tất yếu cần phải tiêu diệt chủ nghĩa tư bản+ Vạch ra những con đường, phương tiện để xây dựng một xã hội mớitrong tương lai tốt đẹp hơn
2 – Tiền đề lý luận
Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác và triết học của nó không chỉ được quyếtđịnh bởi những điều kiện kinh tế - xã hội mà còn bởi toàn bộ đời sống văn hóa vàkhoa học Lý luận Mác xít không tách rời những thành tựu văn hóa khoa học củanhân loại Thiên tài của các nhà kinh điển Mác xít là ở chỗ các Ông đã giải đápđược những vấn đề mà tư tưởng loài người đã đặt ra trong thời đại của mình Mác,Ăngghen là những người kế tục và hoàn thiện:
Trang 10- Triết học cổ điển Đức
- Kinh tế chính trị học Anh
- Chủ nghĩa xã hội Pháp
3 – Tiền đề khoa học tự nhiên
Sự xuất hiện triết học Mác và Ăngghen còn được chuẩn bị bởi những thànhtựu của khoa học tư nhiên Chủ nghĩa tư bản công nghiệp phát triển tác động mạnhđến sự phát triển trên mọi lĩnh vực tri thức, đặc biệt là của các ngành khoa học tựnhiên và kỹ thuật Phương pháp tư duy siêu hình từng thống trị trong khoa học vàtriết học duy vật ngày càng mâu thuẫn với những thành tựu mới nhất trong khoahọc tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX Có thể đề cập đến những thành tựu cơ bản sau:
- Thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của vật chất
- Thuyết tiến hoá
- Thuyết tế bào
Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác và triết học của nó không phải là ngẫu nhiên mà là một hiện tượng hợp quy luật Nó là sự khái quát kinh nghiệm của phong trào công nhân và những thành tựu của khoa học tự nhiên, tiếp thu có phê phán tư tưởng xã hội của những nhà tư tưởng tiền bối Mác và Ăngghen đã thực hiện bước ngoặt vĩ đại trong triết học
II – BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO MÁC VÀ ĂNGGHEN THỰC HIỆN
Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tư tưởngxã hội Lênin đã nói rằng, chủ nghĩa Mác là sự phát triển cao nhất của toàn bộkhoa học lịch sử, khoa học kinh tế và triết học ở Châu Âu
- Tạo nên sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
- Đưa quan điểm duy vật biện chứng vào nghiên cứu lĩnh vực xã hội (chủnghĩa duy vật lịch sử)
- Khẳng định vai trò thực tiễn của triết học Triết học không chỉ nhận thức thếgiới, mà còn cải tạo thế giới
Trang 11- Biến đổi và hoàn thiện tính chất, đối tượng của triết học và mối quan hệgiữa triết học và các khoa học cụ thể.
- Triết học Mác là thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong nhậnthức và hoạt động thực tiễn
Triết học của chủ nghĩa Mác được Lênin tiếp tục phát triển trong điều kiện mới của lịch sử
III – GIAI ĐOẠN LÊNIN TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC
- Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, khi sáng tạo và phát triển học thuyếtcủa mình luôn luôn chỉ ra rằng học thuyết của các Ông không phải là giáo điều màlà sự chỉ đạo hoạt động Xuất phát từ nguyên tắc đó, Lênin đã nhấn mạnh sự cầnthiết phải phát triển học thuyết Mác
- Giai đoạn hiện đại của sự phát triển chủ nghĩa Mác gắn liền với tên tuổi củaLênin và những người kế thừa
- Học thuyết của Mác và Ăngghen được hình thành trong thời kỳ mà nhiệmvụ của bước chuyển cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội chưa đặt
ra một cách trực tiếp và cấp bách Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác trong nhữngđiều kiện lịch sử mới, thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc, thờikỳ ra đời của xã hội xã hội chủ nghĩa
- Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỳ XX, khoa học tự nhiên đã có bước phát triểnvô cùng mạnh mẽ, đòi hỏi triết học phải có cách nhìn sâu sắc hơn về thế giới Lợidụng những thành tựu của khoa học tự nhiên, các nhà triết học duy tâm, kể cả mộtsố nhà khoa học tự nhiên đã xuyên tạc và tấn công vào chủ nghĩa duy vật biệnchứng của Mác Trong bối cảnh ấy, Lênin đã đứng lên bảo vệ thành công, chốnglại mọi biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu hình về thế giới.Không chỉ thế, Lênin còn phát triển thêm học thuyết của Mác
- Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa,phong trào đấu tranh của giai cấp công Âu chuyển sang một trạng thái mới về chất.Trong tình hình ấy, Lênin đã vận dụng học thuyết Mác để nghiên cứu thời đại mới– thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và đã lãnh đạo nhân dân lao động Nga thựchiện thắng lợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại Trong giaiđoạn này, Lênin không chỉ bảo vệ thành công chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mácmà còn phát triển thêm trong việc nghiên cứu hình thái kinh tế xã hội mới – xã hội
Trang 12xã hội chủ nghĩa Lênin đã chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội và chủnghĩa xét lại về lĩnh vực xã hội.
* *
*
- Tuy khác nhau về chất với các hệ thống triết học trước, nhưng triết học Mác
- Lê nin đã kế thừa được tinh hoa của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng qua nhiều thời đại, đồng thời đã xây dựng trên tinh thần phát triển những hệ thống quan điểm gắn liền với khoa học tự nhiên hiện đại và cuộc cách mạng của giai cấp vô sản
- Triết học Mác Lênin luôn gắn liền lý luận với thực tiễn, vì vậy, nó luôn trẻ trung, mới mẻ và phát triển không ngừng Không được coi những nguyên lý của triết học Mác – Lênin là những tín điều, những giáo lý, mà nó phải luôn phát triển, sáng tạo dựa trên những thành tựu của khoa học – kỹ thuật và nền sản xuất vật chất
###@###
1.Trình bày những tiền đề hình thành triết học Mác
2 Phân tích ý nghĩa bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học do Mác và ghen thực hiện và sự phát triển của Lênin đối với triết học Mác
Trang 13Aêng-CHƯƠNG III
CHỦ NGHĨA DUY VẬT
Chủ nghĩa duy vật đã có quá trình hình thành và phát triển từ thời cổ đại chođến nay mà đỉnh cao là chủ nghĩa duy vật biện chứng
I SỰ THỐNG NHẤT CỦA THẾ GIỚI
- Qua sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và của các ngành khoa học,chủ nghĩa duy vật biện chứng chứng minh rằng, bản chất của thế giới là vật chất,thế giới thống nhất ở tính vật chất Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ bảnsau:
* Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thếgiới ấy tồn tại khách quan, có trước và tồn tại độc lập với ý thức con người
* Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất vớinhau, chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, dovật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biếntrong thế giới vật chất
* Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không đượcsinh ra và không bị mất đi Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trìnhvật chất đang vận động, chuyển hoá lẫn nhau
- Tính vật chất của thế giới được kiểm nghiệm bởi chính cuộc sống hiện thựccủa con người và nó trở thành cơ sở cho cuộc sống và hoạt động của con người.Con người không thể bằng ý thức mà sản sinh ra các đối tượng vật chất được Conngười chỉ có thể cải biến thế giới vật chất theo những quy luật của chính nó
- Tính thống nhất vật chất của thế giới không loại trừ tính đa dạng của thếgiới Thế giới thống nhất trong tính đa dạng, tính muôn hình muôn vẻ về chất củacác sự vật, hiện tượng trong thế giới
Trang 14II VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA NÓ
1 Định nghĩa phạm trù vật chất
Vật chất với tính cách là phạm trù triết học ra đời trong triết học Hy Lạp ởthời cổ đại Cùng với sự tiến triển của tri thức loài người, đến nay, nội dung củaphạm trù này đã trải qua những biến đổi sâu sắc
Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc “cuộc khủng hoảng vật lý học” cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷXX và phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình vềvấn đề này, V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất
Theo Lênin:
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Vật chất – cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức
- Vật chất – cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó tácđộng lên giác quan con người
- Vật chất – cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánhVới những nội dung cơ bản như trên, phạm trù vật chất trong định nghĩa củaLênin có nhiều ý nghĩa to lớn
- Trong nhận thức luận, vật chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc khách quancủa cảm giác, ý thức
- Bằng những phương thức nhận thức khác nhau, con người có thể nhận thứcđược thế giới vật chất
Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết,đồng thời cũng khắc phục được khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình – máymóc về vật chất
Trang 15- Định nghĩa vật chất của Lênin còn có ý nghĩa định hướng đối với nhữngkhoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thểtrong thế giới
- Trong việc nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vậtchất của Lênin cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội
Khi bàn tới phạm trù vật chất, phải bàn tới các phạm trù liên quan, đó là cácphạm trù vận động không gian và thời gian Chúng trả lời trực tiếp câu hỏi vật chấttồn tại bằng cách nào? như thế nào?
2 Vật chất và vận động
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là mọi sự biến
đổi nói chung Ph.Ăngghen viết: “ vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất (…) bao
gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
- Theo Ph Ăngghen, vận động là “ thuộc tính cố hữu của vật chất”, là “
phương thức tồn tại của vật chất” Điều này có nghĩa là trong vận động và thông
qua vận động mà các dạng vật chất thể hiện đặc tính của mình.” Các hình thức và
các dạng khác nhau của vật chất chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động; thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ qua vận động; về một vật thể không vận động thì không có gì mà nói cả”
- Vận động của vật chất là tự vận động, nó được tạo nên do sự tác động lẫnnhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc của vật chất
- Vật chất không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt nên vận động vớitính cách là phương thức tồn tại tất yếu của vật chất cũng không thể bị mất đi hoặcđược tùy tiện sáng tạo ra Các hình thức vận động chỉ chuyển hoá lẫn nhau chứvận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễn tồn tại
Có thể chia vận động thành năm hình thức sau:
+ Vận động cơ học+ Vận động vật lý+ Vận động hoá học+ Vận động sinh học
Trang 16+ Vận động xã hộiVới sự phân loại như vậy, những hình thức này quan hệ với nhau theo nhữngnguyên tắc nhất định:
+ Các hình thức vận động khác nhau về chất+ Hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận độngthấp, bao hàm trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn
+ Mỗi một sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khácnhau Tuy nhiên, bản thân sự tồn tại đó bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hìnhthức vận động cơ bản
Khi triết học Mác – Lênin khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự vậnđộng vĩnh viễn của nó, thì điều đó không có nghĩa là phủ nhận hiện tượng đứng im
của thế giới vật chất Chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận rằng “quá trình vận
động không ngừng của thế giới chẳng những không loại trừ mà còn bao hàm trong nó sự đứng im tương đối Không có hiện tượng đứng im tương đối thì không có sự vật nào tồn tại”
Hiện tượng đứng im tương đối của sự vật trong quá trình vận động, trên thực
tế , chỉ xảy ra khi sự vật được xem xét trong một quan hệ xác định nào đó “Vận
động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt”, “ mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời trong sự vận động tuyệt đối và vĩnh viễn của thế giới vật chất’’
3 Không gian và thời gian
Không gian và thời gian cũng là những phạm trù đặc trưng cho phương thức
tồn tại của vật chất “Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và
vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”
- Không gian: hình thức tồn tại của vật thể trong tương quan về mặt kíchthước, vị trí so với các khách thể khác
- Thời gian: hình thức tồn tại của vật thể trong tương quan về mức độ tồn tạinhanh chóng hay lâu dài, sự kế tiếp trước sau của các giai đoạn vận động
Trang 17Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, không gian và thời gian là hình thức tồn tại củavật chất, cả hai đều là thuộc tính khách quan, cố hữu của vật chất Không gian vàthời gian có những tính chất sau:
+ Tính khách quan+ Tính vĩnh cửu và vô tận+ Không gian có 3 chiều và thời gian gian có 1 chiều
III NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC
Nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của ý thức là một vấn đề hết sứcphức tạp của triết học, là một trong những trung tâm gây tranh cãi giữa chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử và hiện nay
1 Nguồn gốc của ý thức
a Nguồn gốc tự nhiên
- Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi dạng vật chất Quá trìnhphản ánh bao hàm quá trình thông tin Đây là điều hết sức quan trọng để làm sángtỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức
- Thuộc tính phản ánh của ý thức có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp
- Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thầnkinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là một thuộc tính củavật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của mộtdạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người Bộ óc người là cơ quan vật chấtcủa ý thức Ýù thức là chức năng của bộ óc người Hoạt động ý thức của con ngườidiễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người
- Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giớibên ngoài để bộ óc phản ánh lại thì cũng không thể có ý thức
Như vậy, bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc lànguồn gốc tự nhiên của ý thức
Trang 18b Nguồn gốc xã hội
- Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốcxã hội Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người nhờ lao động, ngônngữ và những quan hệ xã hội
- Những vật phẩm cần thiết cho sự sống thường không có sẵn trong tư nhiên.Con người phải lao động để tạo ra những vật phẩm ấy Trong lao động, con ngườitác động vào các đối tượng hiện thực, bắt chúng phải bộc lộ những thuộc tính, kếtcấu, quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định và các hiệntượng này tác động vào bộ óc người Ýù thức được hình thành chủ yếu là do hoạtđộng của con người cải tạo thế giới khách quan, làm biến đổi thế giới Con ngườicó ý thức chính vì con người chủ động tác động vào thế giới thông qua hoạt độngthực tiễn của chính mình
- Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinhnghiệm, tư tưởng cho nhau Nhu cầu đó đòi hỏi sự xuất hiện của ngôn ngữ Ph
Ăngghen viết:” đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng
ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng phát triển với lao động Đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”
- Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không cóngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện được Ngôn ngữ là cái vỏ vật chấtcủa tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng
- Ngôn ngữ vứa là phương tiện giao tiếp, đồng thời vưà là công cụ của tưduy Nhờ ngôn ngữ, con người mới có thể tiến hành khái quát hoá, trừu tượng hoá,tách khỏi sự vật cảm tính Nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của người nàyđược truyền cho người kia, thế hệ này cho thế hệ khác
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và pháttriển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức là sự phản ánh hiện thựckhách quan vào bộ óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội
Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội
2 Bản chất của ý thức
- Chủ nghĩa duy vật Mác - xit coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quanvào trong bộ óc người một cách năng động , sáng tạo và mang tính xã hội
Trang 19“ Ý thức [das Bewutsein] không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồntại được ý thức [ das bewut Sein ] “, là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan.Tuy nhiên, ý thức không phải là bản sao giản đơn, thụ động, máy móc của sự vật.
Ý thức con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo Ý thức là sự phản ánh sáng
tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội Ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất
được di chuyển vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong đó” Ý
thức là hình ảnh chủ quan của hiện thực khách quan
- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sở của cáiđã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái khôngcó trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảotưởng, những huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học Thậm chí, ở mộtsố người có những khả năng đặc biệt như tiên tri, thôi miên, ngoại cảm, thấu thị…
- Ý thức là sự phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới Quá trình
ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt sau:
+ Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh+ Mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần+ Chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan
Tuy nhiên, cần hiểu rằng, ý thức sáng tạo không có nghĩa là ý thức sinh ravà quyết định sự tồn tại của vật chất Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phảnánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh mà kết quả bao giờ cũng lànhững khách thể tinh thần Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ýthức
- Ý thức , trong bất kỳ trường hợp nào cũng là sự phản ánh, và chính thựctiễn xã hội của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ
óc, “ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào
con người còn tồn tại”
3 Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu rất phức tạp Có thể phân chia kết cấu đó theo nhiều “látcắt” khác nhau tùy theo cách tiếp cận Ở đây, có thể chia cấu trúc đó theo haichiều sau đây:
Trang 20a Theo chiều ngang
Ýù thức bao gồm các yếu tố cấu thành như: tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí,
ý chí… Trong đó, tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi
b Theo chiều dọc
Là lát cắt theo chiều sâu thế giới nội tâm con người bao gồm các yếu tố như:tự thức, tiềm thức, vô thức… Tất cả những yếu tố đó cùng với những yếu tố khácquy định tính chất phong phú, phức tạp trong thế giới tinh thần và hoạt động tinhthần của con người
4 Vai trò và tác dụng của ý thức Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Khi khẳng định vai trò quyết định của ý thức đối với ý thức, chủ nghĩa duyvật Mácxit đồng thời cũng vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng quan trọng của ýthức đối với vật chất Ýù thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời,
ý thức có tính độc lập tương đối của nó nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vậtchất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Quan hệ giữa vật chất và ý thứckhông phải là quan hệ một chiều mà là quan hệ tác động qua lại Không thấy điềuđó sẽ rơi vào quan niện duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thứccũng như hành động
- Bản thân ý thức, tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả
Theo Mác: “lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh bại bởi lực lượng vật chất”, cho
nên, muốn hiện thực hoá tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn Điều đó cũngcó nghĩa là, con người muốn thực hiện được các quy luật khách quan thì phải nhậnthức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổchức, hành động Vai trò của ý thức là ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hình thành mụctiêu, kế hoạch, ý chí, biện pháp cho hành động của con người Ở đây, ý thức; tưtưởng có thể quyết định việc làm cho con người hoạt động đúng hay sai, thànhcông hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định
- Con người càng phản ánh đầy đủ và chính xác thế giới khách quan thì càngcó khả năng cải tạo thế giới có hiệu quả, vì vậy phải phát huy tính năng động, sángtạo của ý thức, phát huy nhân tố con người Đồng thời phải khắc phục bệnh bảothủ, trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại trong quá trình đổi mới hiện nay
Trang 21- Cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan là việc thừa nhận và tôntrọng tính khách quan của thế giới vật chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội.Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấythực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Nếu chỉ xuất phát từ ýmuốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thìmắc phải bệnh chủ quan, duy ý chí
- Trước Đại hội Đảng lần thứ IV, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng
ta đã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về cơ sở vậtchất – kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế Chúng ta đã nóng vộimuốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, vi phạm nhiều quy luật kháchquan Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ VII đã khẳng định:
“Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan” Đảng đã
rút ra bài học quan trọng là: “mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ
thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Bài học đó có ý nghĩa thời sự nóng hổi
trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay
- Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã tổng kết 10 năm đổi mới, đề ra nhữngmục tiêu, phương pháp, nhiệm vụ cho thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước - Trong thời kỳ này phải “ lấy việc phát huy nguồn lực
con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, cần tránh sai
lầm chủ quan , nóng vội trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đồng thời phải “ khơi
dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu…”
3 Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức
4 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa phương phápluận của mối quan hệ đó
5 Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong hoạt động thực tiễn
Trang 22CHƯƠNG IV
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
I SỰ RA ĐỜI CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
- Ngay từ rất sớm, trong triết học đã xuất hiện hai phương pháp đối lập nhau
trong việc xem xét thế giới: phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
- Thời cổ đại, phép biện chứng chất phác ngây thơ, mà đỉnh cao là phép biệnchứng cổ đại Hy Lạp chiếm vị trí ưu trội Theo quan điểm của phép biện chứngnày, thế giới là một chỉnh thể thống nhất; giữa các bộ phận của nó có mối liên hệqua lại, thâm nhập vào nhau, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau; thế giới và các bộphận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển
- Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và cũng nhờ sự tiến bộ của nhận thức, conngười đã tiến hành nghiên cứu các bộ phận khác nhau của thế giới trong trạng tháitĩnh tại của chúng một cách cụ thể Từø đó ra đời phương pháp tư duy siêu hình –
một phương pháp mang “tính hạn chế đặc thù của những thế kỷ gần đây”
- Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sangviệc nghiên cứu quá trình trong sự liên hệ, vận động và phát triển của chúng Quanđiểm siêu hình bị chính khoa học tự nhiên làm mất đi cơ sở tồn tại của nó Quátrình phủ định quan điểm siêu hình này dẫn đến việc xác lập vị trí ưu trội của phépbiện chứng duy tâm khách quan mà đỉnh cao là ở triết học Hégel Song do bị chiphối bởi quan niệm của chủ nghĩa duy tâm khách quan, Hégel đã rút ra kết luậnhoàn toàn sai lầm: biện chứng của khái niệm quy định biện chứng của các hiệntượng, sự vật cảm tính
- Kế thừa có chọn lọc những thành quả của các nhà triết học tiền bối, dựatrên việc khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học đương thời cũng nhưtrên cơ sở của thực tiễn loài người, C Mác và Ph Ăngghen đã sáng lập ra phépbiện chứng duy vật và về sau được Lênin phát triển
- Ph Ăngghen đòi hỏi tư duy khoa học phải phân định rõ ràng, đồng thờiphải thấy sự thống nhất về cơ bản giữa phép biện chứng khách quan và biện chứngchủ quan
Trang 23- Biện chứng khách quan là phạm trù dùng để chỉ biện chứng của bản thâncác sự vật, hiện tượng, quá trình tồn tại độc lập và ở bên ngoài ý thức con người
- Biện chứng chủ quan là phạm trù dùng để chỉ tư duy biện chứng và biệnchứng của chính quá trình phản ánh hiện thực vào đầu óc của con người
- Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt các phạm trù, nhữngnguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực nêntùy thuộc theo nhu cầu thực tiễn và phụ thuộïc vào trình độ nhận thức của conngười, phạm vi các vấn đề được bao quát trong phép biện chứng duy vật ngày càngđược phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu Song, ở bất kỳ cấp độ phát triển nàocủa nó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển vẫn được xem là những
nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất Bởi vậy, Ph Ăngghen đã định nghĩa: “Phép
biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
II HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Thế giới được tạo thành từ những sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau.Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồntại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng tồn tại trong sự liên hệ qua lại thì nhân tố gìquy định sự liên hệ đó?
Quan điểm biện chứng coi thế giới là một chỉnh thể thống nhất:
- Các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới vừa tách biệt,vừa liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau
- cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tượng là tính thống nhấtvật chất của thế giới
- Các sự vật, hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thếnào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giớiduy nhất là thế giới vật chất
- Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tínhphổ biến của sự liên hệ mà còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó
Trang 24-Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động vàsự phát triển của chính các sự vật và hiện tượng quy định
- Các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động vàphát triển của các sự vật và hiện tượng
+ Môí liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
+ Mối liên hệ bản chất và không bản chất
+ Mối liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên
Trong tính đa dạng của các hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tựnhiên, xã hội và tư duy con người, phép biện chứng duy vật tập trung nghiên cứunhững loại liên hệ chung mang tính phổ biến Những hình thức và những biểu hiệnliên hệ riêng biệt trong những bộ phận riêng biệt của thế giới là đối tượng nghiêncứu của các ngành khoa học khác
- Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật vàhiện tượng, cần rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức, xem xét các sựvật và hiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn
- Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức, quanđiểm toàn diện đòi hỏi để có thể nhận thức đúng về sự vật, phải xem xét nó trongmối liện hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau củachính sự vật; trong mối liên hệ qua lại giữa vật đó với các sự vật khác kể cả trựctiếp và gián tiếp trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người
- Như vậy, quá trình hình thành quan điểm toàn diện với tư cách là nguyêntắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là
đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể đến nhận thức một mặt, một mối liên hệ nàođó của sự vật rối đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật, và cuốicùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sựvật
- Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn,nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được sự vật, chúng ta phảibằng hoạt động thực tiễn của mình biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vậtcũng như những mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với những sự vật khác Muốn
Trang 25vậy, phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tácđộng nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng
- Cần lưu ý rằng, mọi sự vật đều tồn tại trong không – thời gian xác định vàmang dấu ấn của không – thời gian đó, do vậy, quan điểm toàn diện đồng thờicũng là quan điểm lịch sử cụ thể
2 Nguyên lý về sự phát triển
- Mối liên hệ khách quan giữa liên hệ phổ biến và sự vận động, phát triểntrong hiện thực quy định mối liên hệ hữu cơ giữa nguyên lý về mối liên hệ phổbiến với nguyên lý về sự phát triển
- Theo Chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết họcdùng để khái quát quá trình vận động tiến từ thấp lên cao, tù đơn giản đến phứctạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
- Trong hiện thực khách quan, tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của cácdạng vật chất, sự phát triển sẽ được thực hiện hết sức khác nhau
+ Trong giới hữu cơ+ Trong xã hội+ Trong tư duy
- Sự phát triển trong hiện thực và trong tư duy diễn ra bằng con đường quanh
co, phức tạp, trong đó có thể có bước thụt lùi tương đối
- Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổivề chất Sự phát triển diễn ra theo đường xoáy trôn ốc, nghĩa là trong quá trìnhphát triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát, nhưng trên một cơ sở mớicao hơn
- Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, do mâu thuẫncủa sự vật quy định Do vậy, phát triển là một quá trình khách quan, độc lập với ýthưc con người
- Sự phát triển mang tính phổ biến, nó diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực – từ tựnhiên đến xã hội và tư duy, từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, nhữngphạm trù phản ánh hiện thực ấy
Trang 26Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển cung cấp cho chúng taphương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới
- Để phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, cần có quan điểm phát triển.Điều đó có nghĩa là, khi xem xét các sự vật và hiện tượng phải đặt nó trong sự vậnđộng, trong sự phát triển Phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hoá củachúng
- Không chỉ thấy sự vật như là cái đang có, mà còn phải nắm được khuynhhướng phát triển trong tương lai của nó
- Trong quá trình phát triển, sự vật thường đồng thời có những sự biến đổitiến lên và có cả những biến đổi thụt lùi Quan điểm phát triển đúng đắn về sự vậtchỉ có được, khi bằng tư duy khoa học, chủ thể khái quát để làn sáng tỏ xu hướngchủ đạo của tất cả các xu hướng khác nhau đó
###@###
1 Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
2 Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp luậncủa nó
3 Nội dung nguyên lý về sự phát triển và ý nghĩa phương pháp luận của nó
Trang 27CHƯƠNG V
CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I KHÁI LƯỢC VỀ PHẠM TRÙ TRIẾT HỌC
- Phạm trù là khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính,những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnhvực hiện thực nhất định
- Mỗi bộ môn khoa học đều có phạm trù riêng của mình Các phạm trù củaphép biện chứng duy vật là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt,những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của toàn bộ thế giớihiện thực
- Lý luận về phạm trù đã xuất hiện từ thời cổ đại Các trường phái triết họckhác nhau đã giải đáp vấn đề bản chất của phạm trù theo những cách khác nhau
Chủ nghĩa Duy vật biện chứng cho rằng:
+ Các phạm trù được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thứcvà thực tiễn
+ Các phạm trù là những bậc thang của quá trình nhận thức+ Các phạm trù là những hình ảnh chủ quan của thế giới khách quanCác phạm trù không ngừng vận động và phát triển Trong chuơng này sẽxem xét một số cặp phạm trù cơ bản
II CÁI RIÊNG, CÁI CHUNG VÀ CÁI ĐƠN NHẤT
1 Khái niệm “cái chung”, “cái riêng” và “cái đơn nhất”
- Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quátrình riêng lẻ nhất định
Trang 28- Cái chung là phạm trù được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tínhchung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trongnhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác
- Cái đơn nhất là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, nhữngthuộc tính chỉ có ở một kết cấu vật chất định và không được lặp lại ở bất kỳ mộtkết cấu vật chất nào khác
2 Mối liên hệ qua lại giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cả cái riêng, cái chungvà cái đơn nhất đều tồn tại Nhưng vấn đề là ở chỗ chúng tồn tại như thế nào?
- “Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng” Điều đó có
nghĩa là cái chung thật sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng chứ không tồntại biệt lập, lơ lửng ở đâu đó bên cạnh cái riêng
- “Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa tới cái chung”, nghĩa là cái
riêng tồn tại độc lập, nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa là cái riêng hoàntoàn cô lập với cái khác Ngược lại, bất cứ cái riêng nào bao giờ cũng tồn tại trongmột môi trường, một hoàn cảnh nhất định, tương tác với môi trường, hoàn cảnh ấy,
do đó, đều tham gia vào các mối liên hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật,hiện tượng khác chung quanh mình Kết quả là tạo nên một hệ thống các mối liênhệ, trong đó, có những mối liên hệ dẫn đến một hoặc một số cái chung nào đó
- Cái chung là một bộ phận của cái riêng, còn cái riêng không gia nhập hết
vào cái chung, “Bất cứ cái riêng nào cũng là cái chung Bất cứ cái chung nào cũng
là một bộ phận, một khía cạnh hay một bản chất của cái riêng Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung”
- Trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều kiệnnhất định, “cái đơn nhất” có thể biến thành “ cái chung” và ngược lại, “cái chung”có thể biến thành”cái đơn nhất”
3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
- Để phát hiện cái chung cần xuất phát từ những cái riêng , từ những sự vật,hiện tượng, quá trình riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quancủa con người
Trang 29- Bất cứ cái chung nào khi áp dụng vào từng trường hợp riêng cũng cần đượccá biệt hóa Nếu không chú ý tới sự cá biệt hoá đó, đem áp dụng nguyên xi cáichung, tuyệt đối hoá cái chung thì sẽ rơi vào sai lầm của những người tả khuynh,giáo điều Ngược lại, nếu xem thường cái chung, chỉ chú ý đến cái đơn nhất thì sẽrơi vào sai lầm của những người hữu khuynh, xét lại
- Để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả thì không thể lảngtránh được việc giải quyết những vấn đề chung Nếu không giải quyết những vấnđề chung thì sẽ không tránh khỏi sa vào tình trạng mò mẫm, tùy tiện, kinh nghiệmchủ nghĩa
- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo điều kiện thuận lơi cho cái đơn nhất biếnthành cái chung, nếu cái đơn nhất đó có lợi cho ta; và ngược lại, biến cái chungthành cái đơn nhất nếu sự tồn tại của cái chung không còn là điều ta mong muốn
III NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ
1 Khái niệm nguyên nhân và kết quả
b Một số tính chất của mối liên hệ nhân quả
- Tính khách quan: Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ tồn tại ngoài ý muốn
của con người, không phụ thuộc vào việc ta có nhận thức được nó hay không
- Tính phổ biến: Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân Chỉ có
điều nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa được phát hiện mà thôi
- Tính tất yếu: Một nguyên nhân nhất định, trong những hoàn cảnh nhất định
chỉ có thể gây ra kết quả nhất định
Trang 302 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
a nguyên nhân sản sinh ra kết quả
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn luôn có trưóckết quả Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tácdụng
- Giữa nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ sản sinh, quan hệ trong đónguyên nhân sinh ra kết quả
- Cùng một nguyên nhân có thể gây nên nhiều kết quả khác nhau tùy thuộcvào hoàn cảnh cụ thể Ngược lại, một kết quả có thể được gây nên bởi nhữngnguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hay tác động cùng một lúc Nếu cácnguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướùng thì chúng sẽ gâynên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả Ngược lại, nếu các nguyênnhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suyyếu, thậm chí hoàn toàn triệt tiêu tác dụng của nhau
Căn cứ vào tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kếtquả, có thể phân các nguyên nhân thành
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
b Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân
Sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ động đối với nguyên nhân,trái lại, nó có ảnh hưởng tích cực ngược trở lại đối với nguyên nhân
c Sự thay đổi vị trí giữa nguyên nhân và kêt quả
- Một hiện tượng nào đó, trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trongmối liên hệ khác lại là kết quả, và ngược lại
- Các chuỗi nhân quả là “không đầu”, “không cuối” Do vậy, không cónguyên nhân đầu tiên, cũng như không có kết quả cuối cùng
Trang 312 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
-Vì mọi hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong nênkhông có vấn đề có hay không có nguyên nhân của một hiện tượng nào đó, mà chỉcó vấn đề các nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa được phát hiện mà thôi
- Nhiệm vụ chính của nhận thức nói chung, nhận thức khoa học nói riêng,chính là đi tìm những nguyên nhân chưa được phát hiện để có thể hiểu đúng hiệntượng Trong quá trình đi tìm nguyên nhân cần lưu ý:
- Chỉ có thể tìm nguyên nhân của hiện tượng ở trong chính thế giới các hiệntượng
- Khi tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó, cần tìm trong những mặt,những sự kiện, những mối liên hệ đã xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện
- Khi xác định nguyên nhân của hiện tượng cần đặc biệt chú ý đến nhữngdấu hiệu đặc trưng
- Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó, cần loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó
- Muốn cho hiện tượng ấy xuất hiện cần tạo ra nguyên nhân cùng nhữngđiều kiện cần thiết cho nguyên nhân đó phát sinh tác dụng
- Trong hoạt động thực tiễn cần dựa trước hết vào các nguyên nhân chủ yếuvà nguyên nhân bên trong
- Để đẩy nhanh ( hay kìm hãm hoặc loại trừ ) sự biến đổi của một hiệntượng xã hội nào đó, cần làm cho các nguyên nhân chủ quan tác động cùng chiều( hay lệch hoặc ngược chiều ) với chiều vận động của mối quan hệ nhân quả kháchquan
IV TẤT YẾU VÀ NGẪU NHIÊN
1 Khái niệm tất yếu và ngẫu nhiên
- Tất nhiên là cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết cấu vậtchất quyết định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứkhông thể khác
- Ngẫu nhiên là cái không phải do bản thân kết cấu của sự vật, mà do cácnguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết
Trang 32định; do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thếnày, cũng có thể xuất hiện như thế khác
2 Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
- Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại một cách khách quan, ở bên ngoàivà độc lập với ý thức của loài người
- Nếu cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triển của sự vật, thì cái ngẫunhiên có ảnh hưởng đến sự phát triển ấy, có thể làm cho sự phát triển đó diễn ranhanh hoặc chậm
- Cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thông qua vô số cáingẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thờilà cái bổ sung cho cái tất nhiên
- Tất nhiên và ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ màthường xuyên thay đổi, phát triển, và trong những điều kiện nhất định, chúngchuyển hoá lẫn nhau, tất nhiên chuyển thành ngẫu nhiên và ngẫu nhiên trở thànhtất nhiên Ranh giới giữõa cái tất nhiên và ngẫu nhiên chỉ có tính chất tương đối
3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
Trong hoạt động thực tiễn:
- Cần dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa vào cái ngẫu nhiên Nhưngkhông phải vì thế mà bỏ qua cái ngẫu nhiên
- Cần có các phưong án hành động dự phòng cho trường hợp các sự biếnngẫu nhiên bất ngờ xuất hiện
Trong nhận thức:
- Muốn nhận thức cái tất nhiên cần bắt đầu từ cái ngẫu nhiên Chỉ có thểvạch ra được cái tất nhiên bằng cách nghiên cứu qua rất nhiều cái ngẫu nhiên,không nên bỏ qua cái ngẫu nhiên, mà bao giờ cũng phải chú ý tìm ra cái tất nhiênẩn giấu đằng sau những cái ngẫu nhiên đó
- Không phải cái chung nào cũng đồng thời là cái tất nhiên, cho nên vạch rađược cái chung chưa có nghĩa là đã vạch ra được cái tất nhiên Đó mới chỉ là mộtbước trên con đường vạch ra cái tất nhiên
Trang 33- Trong những điều kiện nhất định, cái tất nhiên có thể biến thành cái ngẫunhiên, và ngược lại, cho nên cần chú ý tạo những điều kiện cần thiết hoặc để ngăntrở, hoặc để sự chuyển hoá đó diễn ra tùy theo yêu cầu của thực tiễn
V NỘI DUNG VÀ HÌNH THÚC
1 Khái niệm nội dung và hình thức
- Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, nhữõng quá trình tạonên sự vật
- Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật ấy, là hệ thốngcác mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó
2 Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
- Sự thống nhất và gắn bó khăng khít giữa nội dung và hình thức: Không cómột hình thức nào không chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không có nội dungnào lại không tồn tại trong hình thức Cùng một nội dung trong tình hình phát triểnkhác nhau có thể có nhiều hình thức, và ngược lại, cùng một hình thức có thể thểhiện những nội dung khác nhau
- Vai trò quyết định của nội dung so với hình thức trong quá trình vận động,phát triển của sự vật: Nội dung bao giờ cũng là mặt động nhất, nó có khuynhhướng chủ đạo là biến đổi Hình thức là mặt tương đối bền vững, khuynh hướngchủ đạo của nó là ổn định Do vậy, sự biến đổi, vận động của sự vật bao giờ cũngbắt đầu từ nội dung Khi nội dung đã thay đổi thì hình thức cũng phải vận độngtheo cho phù hợp với nội dung mới
- Sự tác động tích cực trở lại của hình thức đối với nội dung: tuy nội dunggiữ vai trò quyết định so với hình thức, nhưng hình thức luôn luôn có tính độc lậpnhất định và tác động tích cực trở lại đối với nội dung Khi phù hợp với nội dungthì hình thức sẽ mở đường và thúc đẩy sự phát triển của nội dung; trường hợpngược lại, nó sẽ kìm hãm sự phát triển ấy
3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
- Trong hoạt động thực tiễn cần chống lại mọi khuynh hướng tách rời nộidung với hình thức Không được tuyệt đối hoá hoặc hình thức hoặc nội dung
Trang 34- Cần sử dụng một cách sáng tạo mọi loại hình thức có thể có, kể cả phải cảibiến những hình thức cũ vốn có, lấy cái này bổ sung, thay thế cho cái kia để phụcvụ có hiệu quả cho việc thực hiện những nhiệm vụ nhất định tùy theo yêu cầu củahoạt động thực tiễn
- Để xét đoán sự vật nào đấy, cần căn cứ trước hết vào nội dung của nó, vànếu muốn làm biến đổi sự vật thì cần tác động để thay đổi truớc hết nội dung củanó
- Trong hoạt động thực tiễn, cần luôn luôn theo dõi mối quan hệ giữa hìnhthức và nội dung của sự vật để có thể kịp thời can thiệp vào tiến trình phát triểncủa nó, tạo cho hình thức của sự vật một sự phù hợp hay không phù hợp cần thiếtvới nội dung đang biến đổi của nó nhằm thúc đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự pháttriển đó tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn
V BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG
1 Khái niệm bản chất và hiện tượng
- Bản chất là tổng hợp tất cả các mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đốiổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó
- hiện tượng là sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ ấy ra bênngoài
2 Sự tồn tại khách quan của bản chất và hiện tượng
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng: Cả bản chất và hiện tượng đều tồn tạikhách quan vì bất ký sự vật nào cũng đều được tạo nên từ những yếu tố nhất định,các yếu tố ấy tham gia vào những mối liên hệ qua lại đan xen chằng chịt với nhau,trong đó có những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định Những mối liên hệ nàytạo nên bản chất của sự vật Sự vật tồn tại khách quan và những mối liên hệ tấtnhiên, tương đối ổn định này lại ở bên trong sự vật, nên đương nhiên chúng cũngtồn tại khách quan Kết luận này cũng đúng cho hiện tượng vì hiện tượng chỉ là sựbiểu hiện của bản chất ra bên ngoài
3 Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
- Mỗi một hiện tượng đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng Sựthống nhất đó thể hiện ra trước hết ở chỗ bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiệntượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của bản chất
Trang 35- Bất kỳ bản chất nào cũng được bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng, bấtkỳ hiện tượng nào cũng là sự bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó hoặc nhiều,hoặc ít Bản chất và hiện tượng về căn bản phù hợp với nhau
- Bản chất bao giờ cũng tự bộc lộ ra thông qua những hiện tượng nhất định.Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra thành những loại hiện tượng khác nhau Khi bảnchất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thay đổi theo Khi bản chất biến mấtthì hiện tượng biểu hiện nó cũng biến mất
4 Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất và hiện tượng tuy có sự thống nhất với nhau, nhưng đó là sự thốngnhất biện chứng, nghĩa là trong sự thống nhất ấy đã có bao hàm sự khác biệt
- Tuy bản chất và hiện tượng có sự thống nhất với nhau, về căn bản phù hợpvới nhau, nhưng chúng không bao giờ phù hợp với nhau hoàn toàn
- Bản chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại vàphát triển của sự vật, còn hiện tượng phản ánh cái cá biệt
- Bản chất là mặt bên trong ẩn dấu sâu xa của hiện thực khách quan, cònhiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan ấy, nhưng biểu hiện dướihình thức đã cải biến, nhiều khi xuyên tạc bản chất
- Bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm, còn hiện tượng không ổn định,nó luôn luôn trôi qua, biến đổi nhanh hơn so với bản chất
5 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
- Trong nhận thức, để hiểu đầy đủ và đúng đắn về sự vật, không nên dừnglại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó Còn trong hoạt động thựctiễn cần dựa vào bản chất chứ không phải dựa vào hiện tượng
- Nếu trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần nắm được bảnchất và dựa vào bản chất của sự vật, thì nhiệm vụ của nhận thức nói chung, củanhận thức khoa học nói riêng là phải vạch ra được cái bản chất đó
- Chỉ có thể tìm ra bản chất của sự vật ở trong chính sự vật chứ không thể ởngoài nó và khi kết luận về bản chất của sự vật cần tránh những nhận định chủquan, tùy tiện
Trang 36- Chỉ có thể tìm ra cái bản chất trên cơ sở nghiên cứu các hiện tượng
- Trong quá trình nhận thức bản chất của sự vật phải xem xét rất nhiều hiệntượng khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau Nhưng trong một hoàn cảnh vàphạm vi nhất định không bao giờ có thể xem xét hết được mọi hiện tượng biểuhiện bản chất của sự vật Do vậy, phải ưu tiên cho việc xem xét trước hết các hiệntượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình
VI KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC
1 Phạm trù khả năng và hiện thực
- Hiện thực: những gì đang có, đang tồn tại thực sự
- Khả năng: những gì hiện chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới khi có các điều kiệntương ứng
Khả năng là cái hiện chưa có Sự vật được nói tới trong khả năng chưa tồntại, song bản thân khả năng thì tồn tại Cần phân biệt khả năng với những kháiniệm như tiền đề, điều kiện, ngẫu nhiên, xác suất
2 Phân loại các loại khả năng
- Tất cả mọi khả năng đều tồn tại thực sự, do hiện thực sản sinh ra, đều hìnhthành và lớn lên ở ngay trong bản thân sự vật Khả năng bao giờ cũng là khả năngthực tế
- Khả năng tất nhiên là khả năng được gây nên bởi các tương tác tất nhiêncủa hiện thực
- Khả năng ngẫu nhiên là khả năng được gây nên bởi các tương tác ngẫunhiên của hiện thực
- Khả năng gần là khả năng đã có đủ hay gần đủ những điều kiện cần thiếtđể biến thành hiện thực
- Khả năng xa là khả năng còn phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển quáđộ nữa mới đủ điều kiện để biến thành hiện thực
Ngoài các dạng khả năng chính trên đây còn có thể phân các khả năng thànhkhả năng chủ yếu và khả năng thứ yếu, khả năng tốt và khả năng xấu, khả năng
Trang 37thuận nghịch và khả năng bất thuận nghịch, khả năng cùng tồn tại và khả năng loạitrừ lẫn nhau
3 Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
- Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khôngtách rời nhau, luôn luôn chuyển hoá lẫn nhau
- Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vât, có thể tồn tạimột số khả năng chứ không phải chỉ có một khả năng duy nhất
- Khi có thêm những điều kiện mới bổ sung thì ở sự vật sẽ xuất hiện thêmnhững khả năng mới
- Ngay bản thân mỗi khả năng cũng không phải là không thay đổi Nó tănglên hoặc giảm đi tùy thuộc vào sự biến đổi của sự vật trong những điều kiện cụ thể
- Để một khả năng nào đó biến thành hiện thực thường cần có không chỉ mộtđiều kiện, mà là một tập hợp điều kiện Tập hợp đó được gọi là cần và đủ, nếu cónó thì khả năng nhất định sẽ biến thành hiện thực, sự biến nhất định phải xuất hiện
4 Vai trò của các điều kiện khách quan và chủ quan trong chuyển biến khả năng thành hiện thực
Trong giới tự nhiên, quá trình khả năng chuyển biến thành hiện thực chủ yếulà một quá trình khách quan Nói chủ yếu vì trong giới tự nhiên không phải mọikhả năng đều biến thành hiện thực một cách tự phát cả Ở đây, có thể phân ra batrường hợp:
- Loại khả năng mà điều kiện để biến chúng thành hiện thực chỉ có thể cóbằng con đường tự nhiên
- Loại khả năng có thể biến thành hiện thực bằng con đường tự nhiên cũngnhư nhờ sự tác động của con người
- Loại khả năng mà trong điều kiện hiện nay nếu không có sự tham gia củacon người thì không thể biến thành hiện thực.Các khả năng này vốn có ở kháchthể, nhưng để biến chúng thành hiện thực cần có những điều kiện mà hiện naykhông thể tạo ra được bằng con đường tự nhiên
Trang 38Trong xã hội, bên cạnh các điều kiện khách quan, khả năng muốn biếnthành hiện thực còn cần có các điều kiện chủ quan là hoạt động thực tiễn của conngười Ở đây, khả năng không bao giờ tự nó biến thành hiện thực nếu không có sựthan gia của con người Hoạt động có ý thức của con người có thể đẩy nhanh hoặckềm hãm quá trình biến đổi khả năng thành hiện thực, có thể điều khiển cho khảnăng phát triển theo hướng này hay hướng khác bằng cách tạo ra các điều kiệnthích ứng
Kết hợp một cách đúng đắn tác động của nhân tố chủ quan với các điều kiệnkhách quan là một trong những bảo đảm cho thành công của chúng ta trong hoạtđộng thực tiễn
5 Một số kết luận về mặt phưong pháp luận
- Trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vàokhả năng
Khi xác định khả năng chúng ta cần chú ý:
- Chỉ có thể tìm ra các khả năng phát triển của sự vật trong chính bản thânnó chứù không thể ở nơi nào khác
- Chỉ có thể căn cứ vào tương quan lực lượng giữa các mặt ở bên trong sựvật, vào sự phát triển nội tại trong nó cũng như vào những điều kiện bên ngoài,trong đó sự vật đang vận động và phát triển, để dự kiến những khả năng phát triểncủa nó
- Trong quá trình xác định khả năng cần lưu ý dấu hiệu hết sức quan trọngphân biệt khả năng với hiện thực, đó là: hiện thực là cái đã có, đã tới, còn khảnăng là cái hiện chưa có, hiện chưa tới
- Do khả năng tồn tại ngay trong hiện thực, gắn bó hết sức chặt chẽ với hiệnthực nên sẽ là sai lầm nếu tách rời cái nọ khỏi cái kia Tuy nhiên, nếu quá nhấnmạnh tới mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực mà quên mất sự khác biệt vềøchất của chúng, lẫn lộn cái nọ với cái kia thì sẽ sai lầm
Sau khi đã xác định được khả năng phát triển của sự vật, nhiệm vụ của hoạtđộng thực tiễn là phải tiến hành lựa chọn và thực hiện khả năng Trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ này, cần lưu ý:
Trang 39- Trong hoạt động thực tiễn cần tính đến mọi khả năng có thể có và trên cơsở đó dự kiến các phương án hành động thích ứng cho từng trường hợp có thể xảyra
- Trong số các khả năng hiện có ở sự vật, trước hết cần chú ý đến khả năngtất nhiên, đặc biệt là các khả năng gần, vì đó là những khả năng dễ biến thànhhiện thực hơn cả
- Để thực hiện khả năng cần tạo cho nó các điều kiện cần và đủ
- Trong xã hội, khả năng không tự biến thành hiện thực, nên trong lĩnh vựcnày, tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn, cần tạo mọi điều kiện cần thiết đểnhân tố chủ quan có thể tham gia tích cực vào quá trình biến đổi hoặc ngăn cản sựbiến đổi khả năng thành hiện thực
***@***
1 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng Ý nghĩa phươngpháp luận của nó
2 (Tương tự cho tất cả các cặp phạm trù còn lại)
3 Mối quan hệ giữa các cặp phạm trù
Trang 40Với tư cách là cái có ngay trong hiện thực, quy luật là mối liên hệ bản chất,tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các sự vật và hiện tượng, giữa các đối tượng,giữa các nhân tố tạo thành đối tượng, giữa các thuộc tính của các sự vật cũng nhưgiữa các thuộc tính của cùng một sự vật, hiện tượng
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi quy luật đều mang tính kháchquan Các quy luật được phản ánh trong các khoa học không phải là sự cấu tạothuần tuý của tư tưởng Những quy luật do khoa học phát hiện ra chính là sự phảnánh những quy luật hiện thực của thế giới khách quan và của tư duy
2 Phân loại quy luật:
- Các quy luật hết sức đa dạng, muôn vẻ Chúng khác nhau về mức độ phổbiến, về phạm vi bao quát, về tính chất, về vai trò của chúng đối với quá trình vậnđộng và phát triển của sự vật
- Căn cứ vào tính phổ biến, các quy luật có thể được chia thành: những quyluật riêng, những quy luật chung và những quy luật phổ biến
- Căn cứ vào lĩnh vực tác động, các quy luật được chia thành ba nhóm lớn:quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và quy luật của tư duy
- Quy luật chỉ chấm dứt sự tồn tại và tác động của nó khi sự vật mang quyluật đó thay đổi, khi điều kiện cho sự tồn tại của quy luật đó mất đi
- Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu nhữngquy luật phổ biến tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy conngười