1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ôn văn 10 Tỏ Lòng Phạm Ngũ Lão

21 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỏ lòng Phạm Ngũ Lão
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Bài văn phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 38,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỎ LÒNG Phạm Ngũ LHão 1 Đề số 1 Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão Lập dàn ý I Mở bài Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ “Tỏ lòng” Nhận định Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật (ghi lại bài thơ) II Thóm tắt nội dung, nêu bố cục bài thơ 2 Phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ a Hai câu đầu Vóc dáng hùng dũng “trích thơ” Hình ảnh tráng sĩ qua tư thế “cầm ngang ngọn giáo” (Hoành sóc) ình ảnh “ba quân.ân bài 1 Khái quát về bài thơ Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác T

Trang 1

- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ “Tỏ lòng”

- Nhận định : Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật (ghi lại bài thơ)

II/ Thân bài:

1/ Khái quát về bài thơ:

- Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác

- Tóm tắt nội dung, nêu bố cục bài thơ

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ:

a/ Hai câu đầu: Vóc dáng hùng dũng “trích thơ”

- Hình ảnh tráng sĩ qua tư thế : “cầm ngang ngọn giáo” (Hoành sóc)

- Hình ảnh “ba quân” : biện pháp so sánh -> đội quân sục sôi khí thế quyết chiến

thắng

- Hình ảnh tráng sĩ lồng vào hình ảnh “ba quân”: có ý nghĩa khái quát, gợi hào khí

Đông A

b/ Hai câu cuối: Khát vọng hào hùng “trích thơ”

Khát vọng lập công danh để thỏa “chí nam nhi”, cũng là khát vọng được đem tài trí

“tận trung báo quốc” – thể hiện lẽ sống lớn của con người thời Đông A

3/ NT Cả bài thơ:

- Hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời

đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng

- Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc

III/ Kết bài : Kết luận về nội dung, nghệ thuật bài thơ Nêu cảm nghĩ về bài thơ,

võ song toàn, đã để lại một số thơ văn, trong đó có bài thơ Thuật hoài :

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tu thính nhân gian thuyết Vũ HầuDịch thơ tiếng Việt :

Múa giáo non sông trải mấy thu .

Trang 2

Luống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu.

Bài thơ Tỏ lòng được sáng tác vào khoảng những ngày cuộc khởi nghĩa lần

thứ hai chống Mông – Nguyên đã đến rất gần Bài thơ làm theo thể Đường luật,nội dung khắc hoạ hình ảnh con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cảmang khí thế hào hùng của thời đại

Hai câu thơ đầu là vóc dáng hùng dũng của người tráng sĩ thời nhà Trần:

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thuTam quân tì hổ khí thôn Ngưu

(Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

So sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy hai từ

"múa giáo" chưa thể hiện được hết ý nghĩa của hai từ "hoành sóc" "Hoành sóc"

là cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông Từ ý nghĩa lẫn âm hưởng, từ

"hoành sóc" đều tạo ra cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn.

Trong câu thơ đầu này, con người xuất hiện trong bối cảnh không gian vàthời gian đều rộng lớn Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lêntheo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm Thời gian không phải đo bằng ngày

bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi ( cáp

kỉ thu) Con người cầm cây trường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non

sông), lại được đặt trong một không gian, thời gian như thế thì thật là kì vĩ Conngười hiên ngang ấy mang tầm vóc của con người vũ trụ, non sông

Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có hai cách hiểu : Thứ nhất, ta có thể hiểu là “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” Nhưng cũng có thể giải thích theo

cách khác, với cách hiểu là: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu Có thể nóiquân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những có được đầy đủ binh hùngtướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: TrầnQuốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…) Vì thế thậtkhông quá khoa trương khi nói: cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm đổi thay trời đất

Tam quân tì hổ là một ẩn dụ so sánh nghệ thuật nêu bật sức mạnh vô địch của quân đội nhà Trần Khí thôn ngưu là cách nói thậm xưng để tạo nên một hình

tượng thơ kì vĩ, mang tầm vũ trụ

Hai câu tứ tuyệt mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gianmột bức tượng đài tuyệt đẹp về người tráng sĩ quả cảm lồng trong hình ảnh "baquân" mang ý nghĩa khái quát, gợi ra hào khí dân tộc thời Trần - "hào khí ĐôngA"

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Trang 3

sau (Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu)

Tỏ lòng là bài thơ nói chí Đó là cái chí của những bậc nam nhi trong thiên hạ

Chính vì thế, món "nợ công danh" mà nhà thơ nói đến ở đây vừa là khát vọng lập

công, lập danh, mong để lại tiếng thơm, sự nghiệp cho đời, vừa có ý "chưa hoànthành nghĩa vụ đối với dân, với nước" Theo quan niệm lí tưởng của trang nam nhithời phong kiến thì công danh được coi là một món nợ đời phải trả Trả xong nợcông danh mới hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước

Ở phần cuối của bài thơ, tác giả vẫn "thẹn" vì mình chưa được như Vũ Hầu

Gia Cát Lượng, nghĩa là vẫn muốn lập công lập danh để giúp nước giúp đời Nỗi

"thẹn" đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng Phạm Ngũ Lão "thẹn"

vì chưa có được tài năng mưu lược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng (Khổng Minh đời Hán) để giúp dân cứu nước, thẹn vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm

-vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá bộn bề Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lãocũng là những day dứt của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Khuyến sau này Đó lànhững nỗi thẹn có giá trị nhân cách - nỗi thẹn của những con người có tráchnhiệm với đất nước, non sông

Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước Cảm xúc hào sảng banđầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình cho nên âmhưởng thơ thâm trầm, da diết

Nghệ

thuật

bài thơ

Cả bài thơ, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, hình ảnh thơ hoành tráng,

thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướngcủa người anh hùng Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảmxúc.Bài thơ là một bức tranh kì vĩ, hoành tráng bởi vẻ đẹp của hình tượng ngườianh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao

Kết

bài

Tóm lại, Tỏ lòng là một bài thơ ngắn nhưng lại mang đậm dấu ấn của cả

một thời (dấu ấn về âm hưởng của hào khí Đông A) Bài thơ là vẻ đẹp của thời đạivới khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến và quyết thắng Đọc những dòngthơ hào hùng khí thế, ta có thể cảm nhận rât rõ vẻ đẹp sức vóc và ý chí của nhữngtrang nam nhi thời đại nhà Trần Âm hưởng anh hùng ca của thời đại do nhữngcon người ấy tạo nên và cũng chính âm hưởng ấy tôn lên vẻ đẹp anh hùng của họ

Họ đã từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, để sẵn sàng chiến đấu và hy sinh cho sựnghiệp cứu nước, cứu dân Tinh thần và ý chí ngoan cường của những con người

ấy sẽ vẫn mãi là lí tưởng cho nghị lực và sự phấn đấu của tuổi trẻ hôm nay và maisau

Đề 2: Anh (chị) hãy phân tích bài thơ “Tỏ lòng” của nhà thơ Phạm Ngũ

Lão để làm rõ ý kiến: “Bài thơ khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức

mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.”

* Lập dàn ý:

Trang 4

I/ Mở bài:

- Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ “Tỏ lòng”

- Nhận định : Ghi lại ý kiến

II/ Thân bài:

1/ Khái quát về bài thơ:

- Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác

- Tóm tắt nội dung, nêu bố cục bài thơ

- Giải thích ý kiến: “vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại”-

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ:

a/ Hai câu đầu: Vóc dáng hùng dũng “trích thơ”

- Hình ảnh tráng sĩ qua tư thế : “cầm ngang ngọn giáo” (Hoành sóc)

- Hình ảnh “ba quân” : biện pháp so sánh -> đội quân sục sôi khí thế quyếtchiến thắng

- Hình ảnh tráng sĩ lồng vào hình ảnh “ba quân”: có ý nghĩa khái quát, gợihào khí Đông A

b/ Hai câu cuối: Khát vọng hào hùng “trích thơ”

Khát vọng lập công danh để thỏa “chí nam nhi”, cũng là khát vọng đượcđem tài trí “tận trung báo quốc” – thể hiện lẽ sống lớn của con người thời Đông A

- Bài thơ đã làm rõ được ý kiến.

- Liên hệ giáo dục: Bồi dưỡng nhân cách sống có lí tưởng cao đẹp, có ý chí,quyết tâm thực hiện lí tưởng

III/ Kết bài : Kết luận bằng cách đánh giá lại ý kiến Nêu cảm nghĩ về bài

thơ, tác giả

* Bài văn tham khảo:

Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) là anh hùng dân tộc, có công lớn trong côngcuộc chống xâm lược Mông – Nguyên Người đọc không chỉ biết đến Phạm NgũLão với tư cách là một danh tướng văn võ toàn tài thời Trần mà còn biết đến ôngvới tư cách là một nhà thơ tài ba Thơ của ông là những vần thơ mang đậm hào khíĐông A, tiêu biểu phải kể đến là bài thơ “ Tỏ Lòng” Nhận xét về bài thơ có ý kiến

cho rằng: “Bài thơ khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.”

“ Múa giáo non sông trãi mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Công danh nam tử còn vương nợ

Trang 5

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

Bài thơ “ Tỏ Lòng” ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng giặcMông – Nguyên lần thứ hai của vua tôi nhà Trần Bài thơ được viết theo thể thơthất ngôn tứ tuyệt Đường luật bằng chữ Hán, có bố cục hai phần: phần tiền giải(hai câu đầu) là vóc dáng hùng dũng của con người thời Trần và hậu giải (hai câu

cuối) thể hiện khát vọng hào hùng của tác giả Bài thơ khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại Đúng vậy, nói tới lí tưởng của đấng nam nhi đầu đội trời, chân đạp

đất, khát vọng đem tài năng, sức lực để xây dựng đất nước chính là nói đến vẻ đẹp

lí tưởng của con người thời trung đại

Mở đầu bài thơ là vóc dáng hùng dũng của con người thời Trần :

“Múa giáo non sông trãi mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.”

Câu thơ đầu tiên thể hiện vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hànhđộng lớn lao, kì vĩ Hai chữ “ Múa giáo” trong lời dịch chưa thể hiện được hết vẻđẹp, tư thế hùng dũng của tráng sĩ, câu thơ trong nguyên tác dựng lên hình ảnh

tráng sĩ thời Trần cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ đất nước (Hoành sóc) Con

người xuất hiện với một tư thế hiên ngang, lẫm liệt, có tầm vóc lớn lao ngang tầm

vũ trụ, vẻ đẹp kì vĩ như át cả không gian bao la, rộng lớn của vũ trụ Hình ảnh conngười kì vĩ nổi bật trong không gian, thời gian kì vĩ, không gian như được mở rộngtheo chiều rộng của núi sông, thời gian được trải dài cùng chiều dài của lịch sử

“kháp kỉ thu”

Câu thơ thứ hai hiện lên hình ảnh của “ ba quân” : “Ba quân khí mạnh nuốttrôi trâu” Là hình ảnh quân đội nhà Trần sục sôi khí thế quyết chiến, quyết thắng –tượng trưng cho sức mạnh dân tộc Ở đây tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh rấttài tình, đã làm nổi bật khí thế mạnh ngút trời có thể lấn át cả sao Ngưu, có thểnuốt trôi cả trâu, câu thơ vừa cụ thể hóa sức mạnh vật chất của “ba quân” vừahướng tới khái quát hóa sức mạnh tinh thần của quân đội nhà Trần

Như vậy, ở hai câu thơ đầu hình ảnh tráng sĩ lồng vào hình ảnh “ba quân”mang ý nghĩa khái quát, vẻ đẹp kì vĩ của con người và khí thế hào hùng của thờiđại gợi ra hào khí dân tộc thời Trần – “hào khí Đông A”

Hai câu cuối thể hiện khát vọng hào hùng của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão:

“Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.”

Khát vọng lập công danh để thỏa “chí nam nhi”, đã là nam nhi thì phải cóđược công danh, sự nghiệp, để lại tiếng thơm cho đời “Chí nam nhi” được nói đến

ở đây cũng chính là chí làm trai mang tinh thần, tư tưởng tích cực, quan niệm lậpcông danh đã trở thành lí tưởng sống của trang nam nhi thời phong kiến : lập công

Trang 6

để lại sự nghiệp, lập danh để lại tiếng thơm cho muôn đời Sau này nhiều tác giảcũng đã khẳng định:

“Làm trai phải lạ ở trên đời,

Phải có danh gì với núi sông.”

“Chí làm trai” cỗ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ để sẵn sàng

hi sinh chiến đấu cho sự nghiệp lớn lao – sự nghiệp cứu nước, cứu dân Đó khôngchỉ là thứ “ Công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân mà là “nợcông danh” – một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xươngmáu và lòng dũng cảm

Bằng cách gợi dẫn hình ảnh “Vũ hầu”, tác giả tự thấy hổ thẹn trước tấmgương tài – đức lớn lao ấy vì mình vẫn chưa trả được nợ công danh cho đất nước,cho đời Cái thẹn đầy khiêm tốn và cao cả, cái thẹn làm nổi bật cái tâm trong sáng

và chân thành của người anh hùng Phạm Ngũ Lão Phía sau hào khí vững mạnh làmột con người còn nặng nợ công danh, nặng tình, nặng nghĩa, luôn suy nghĩ , đắn

do vì nước vì dân Bởi thân nam nhi “ làm trai cho đáng nên trai”, cho đáng với đấtnước ngàn thu này, cho đáng với Vũ Hầu Gia Cát Lượng Để những chiến tích đócòn lưu vang mãi ngàn đời, để người đời sau còn nhớ mãi đến một người anh hùnghết mình hi sinh vì dân vì nước

Hai câu cuối là khát vọng lập công danh để thỏa “chí nam nhi” và cũngchính là khát vọng lớn lao, hào hùng muốn được đem tài trí “tận trung báo quốc” –thể hiện lẽ sống lớn của con người thời đại Đông A

Cả bài thơ sử dụng hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khíthế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng Ngôn ngữ côđọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc

Như vậy, từ vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao

cả cùng khí thế hào hùng được thể hiện trong bài thơ, đã góp phần không nhỏ vào

việc bồi dưỡng nhân cách sống có lí tưởng, có ý chí, quyết tâm thực hiện lí tườngcủa tuổi trẻ trong xã hội hiện nay

Tóm lại, “bài thơ khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có

lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại” Với hình ảnh

thơ hoành tráng, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, bài thơ đã thể hiện thành công lítưởng cao cả của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão, khắc ghi dấu ấn đáng tự hào vềmột thời kì oanh liệt, hào hùng của lịch sử dân tộc Đây mãi là khúc tráng ca củacác anh hùng đời Trần, khúc ca mang âm hưởng “ hào khí Đông – A”

CẢNH NGÀY HÈ

( Bảo kính cảnh giới – bài 43 )

Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi.

Trang 7

Mở

bài

Nguyễn Trãi có những đóng góp rất lớn đối với lịch sử văn hoá, văn học, đặc biệt

là đóng góp về thơ văn Nguyễn Trãi để lại nhiều bài thơ Nôm có giá trị Thơ của ông thể hiện một tấm lòng suốt đời vì dân vì nước, một nhân cách cao đẹp, một tâm hồn trong sáng, luôn dành cho con người và thiên nhiên một tình cảm tha thiết Thơ của Nguyễn Trãi còn là nỗi niềm tâm sự của một con người tài năng, đức độ, hết lòng vì nước vì dân nhưng luôn bị bọn gian thần ghen ghét, ám hại

Thơ Nguyễn Trãi luôn trĩu nặng tình đời Điều đó được thể hiện qua bài thơ

“Cảnh ngày hè” ( chép bài thơ vào )

Quốc âm thi tập có một cấu trúc chỉnh thể với 4 phần Trong đó phần vô đề

gồm toàn bộ những bài thơ không có tựa đề, được chia thành các nhóm : ngôn chí,mạn thuật, trần tình, thuật hứng, tự thán, bảo kính cảnh giới… Chùm thơ Bảo kínhcảnh giới (Gương báu răn mình) có 61 bài Những câu thơ trong Bảo kính cảnh giới, nhất là bài 43 luyến láy du dương, có chút vui điểm vào cuộc đời đầy u uất của thi nhân Nguyễn Trãi Bài thơ viết bằng chữ Nôm, thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, câu thất ngôn xen lục ngôn, diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên và niềm khát khao cao đẹp của nhà thơ

Rồi/ hóng mát/ thuở ngày trường

Khởi hứng bằng một tâm thế của một con người an nhàn hưởng thụ (thiên nhiên) Bài thơ có lẽ được làm trong một lần Nguyễn Trãi về ở Côn Sơn Rũ sạch bụi lầm của chốn phồn hoa đô hội, con người đến với thiên nhiên tự do, tự tại, giản dị không gò ép Phải chăng, vì thế mà câu thơ cũng vuột ra khỏi cái khuôn khổ của thơ luật để giản dị, nhẹ nhàng như chính con người và cuộc sống chốn

sơn lâm Từ rồi (có bản chép là rỗi) kết hợp với ngày trường cộng hưởng với nhịp

thơ kéo giãn thời gian của một ngày Cảm giác thư thái cũng theo đó mà ngân nga

Trang 8

một điều cuộc sống đâu phải cứ giàu có thì sang trọng :

Hoè lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Tán hòe tỏa bóng mát, che rợp sân, ngõ, vườn nhà, “giương” lên như chiếc ô,

chiếc lọng căng tròn Mỗi từ ngữ là một nét vẽ màu sắc tạo hình gởi tả sức sống

của cảnh vật đồng quê trong những ngày hè: lục, đùn đùn, tán, rợp giương Ngôn

ngữ thơ bình dị, hàm súc và hình tượng Cây hòe vốn được trồng nhiều ở làng quê: vừa làm cảnh, vừa cho bóng mát Hòe nở hoa vào mùa hè, màu vàng, làm dược liệu, làm chè giải nhiệt Trong văn học, cây hòe thường gắn liền với điển tích

“giấc hòe” (giấc mộng đẹp), “sân hòe” (chỉ nơi cha mẹ ở ) Truyện Kiều có câu:

“Sân hòe đôi chút thơ ngây – Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình”

Câu 3 nói về khóm thạch lựu ở hiên nhà trổ hoa rực rỡ: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ” Thức tiếng cổ chỉ màu vẻ, dáng vẻ Trong cành lá xanh biếc, những đóa hoa lựu như chiếc đèn lồng bé tí phóng ra, chiếu ra, “phun” ra những tia lửa đỏ chói, đỏ rực Chữ “phun” được dùng rất hình tượng và thần

tình.“Truyện Kiều” cũng có câu: “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” - Từ hoa lựu “phun thức đỏ”, đến hình ảnh “đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” là cả một quá trình sáng tạo ngôn ngữ thi ca của các thế hệ thi sĩ dân tộc qua 5 thế kỷ từ

“Quốc âm thi tập” đến “Truyện Kiều” Vẻ đẹp ngôn ngữ thi ca được trau chuốt như ngọc quý sẽ ánh lên màu sắc huyền diệu là như thế đó!

Câu 4 nói về sen: “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” “Tiễn” là ngát (tiếng

cổ) Sen hồng nở thắm ao làng, hương thơm tỏa ngát Sen là biểu tượng cho cảnh

sắc mùa hè làng quê ta Sen trong ao làng đã “tiễn mùi hương” gợi không cảnh

làng quê thanh bình, không khí thanh cao thoát tục Nguyễn Trãi đã chọn hòe, thạch lựu, sen hồng (hồng liên) để tả và đưa vào thơ Cảnh sắc ấy đẹp và bình dị Nhà thơ đã gắn tâm hồn mình với cảnh vật mùa hè bằng một tình quê đẹp và cảm nhận vẻ đẹp của nó bằng nhiều giác quan

Phân

tích

câu

5-6

Hè rất đẹp, rộn ràng trong khúc nhạc làng quê Ngoài tiếng cuốc, tiếng chim

tu hú, tiếng sáo diều còn có tiếng ve, tiếng cười nói “lao xao” của đời thường:

Trang 9

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Sau khi tả hòe màu “lục”, lựu “phun thức đỏ”, sen hồng đã “tiễn mùi hương”, nhà thơ nói đến âm thanh mùa hè, khúc nhạc đồng quê Tiếng “lao xao” từ một

chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời dân dã đầy muối mặn và mồ

hôi Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui “Lao xao” là từ

láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp Hòa điệu với tiếng lao xao chợ cá là

tiếng ve vang lên rộn rã, nhịp nhàng “Cầm ve”, hình ảnh ẩn dụ, tả âm thanh tiếng

ve kêu như tiếng đàn cầm “Dắng dỏi” nghĩa là inh ỏi, âm sắc tiếng ve trầm bổng,

ngân dài vang xa Ngôi lầu buổi xế chiều trở nên náo động rộn ràng Nhà thơ lấy tiếng ve để đặc tả khung cảnh một chiều hè làng quê lúc hoàng hôn buông dần xuống mái lầu (lầu tịch dương) là một nét vẽ tinh tế đầy chất thơ làm nổi bật cái không khí êm ả một chiều hè nơi thôn dã

Trở về “Côn sơn quê cũ” Ức Trai đã từng bồi hồi “trong tiếng cuốc kêu xuân đã

muộn”, giờ đây ông lại thả hồn mình trong khúc ca dân dã “cầm ve” buổi chiều tà

cuối hè Tiếng ve lúc hoàng hôn thường gợi nhiều bâng khuâng, vì ngày tàn, màn

đêm đang dần dần buông xuống Nhưng với Ức Trai, nó đã trở thành “cầm ve”

nhặt khoan trầm bổng, dắng dỏi vang xa, làm cho khung cảnh làng quê một buổi chiều tà bỗng rộn lên bao niềm vui cuộc đời

Phân

tích

câu

7-8

Làm theo thể thất ngôn bát cú nhưng kết cấu đề, thực, luận, kết xem ra không phải

là lựa chọn hợp lí để tiếp cận bài thơ này Bài thơ có thể được chia theo bố cục

6/2 Trên là vẻ đẹp của thiên nhiên và âm thanh cuộc sống, dưới là ước vọng của nhà thơ :

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương

Ở đây, tác giả đã mượn điển tích để nói lên khát vọng của mình Câu thơ cuối sáu chữ ngắn gọn, nhịp 3/3 thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài – tác giả khát khaođem tài trí thực hành tư tưởng yêu nước, thương dân, và đó cũng chính là tưởng chủ đạo của bài thơ Tuy tác giả đón nhận cảnh ngày hè với tư thế ung dung trong một ngày nhàn rỗi nhưng ông vẫn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nhân dân, cho đất nước Cảm nhận cảnh ngày hè nhưng tác giả vẫn quan tâm tới cuộc sống của nhândân Thế nên ông nghe thấy âm thanh tấp nập, lao xao của làng chài Ông quan

Trang 10

tâm tới nhân dân, lo cho dân cho nước Chính vì vậy, ông ước mong mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn Với cây đàn đó, Nguyễn Trãi có thể mang tới cuộc sống

ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đất nước Không có một lòng yêu quê hương, đất nước sâu đậm, ông không thể có một ước muốn như vậy Không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể cảm nhận được hết vẻ đẹp mùa hè nơi một làng chài quê hương thanh bình Và, không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể viết nên bài thơ “ Cảnh ngày hè” làm xúc động lòng người như vậy.Câu thơ cuối cùng tương ứng với câu đầu, vượt ra khỏi luật Đường Nhịp thơ 3/3 ngắn gọn, dứt khoát, thể hiện ước vọng chân thành của Nguyễn Trãi, mong sao ở mọi nơi, cuộc sống thanh bình no ấm sẽ đến với mọi người

Câu nói của người xưa "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ) thật hợp với cuộc đời Nguyễn Trãi Một cuộc đời trọn tình, vẹn nghĩa với nước với dân

Nghệ

thuật

bài thơ

Bài thơ thành công ở nghệ thuật sử dụng từ ngữ: Miêu tả cảnh ngày hè,

tác giả đã sử dụng các động từ, tính từ, từ láy giàu sức gợi hình tượng và cảm giác

ở câu 2, 3, 4, 5, 6 là các từ : đùn đùn, giương, phun, đỏ, tiễn, lao xao, dắng dỏi Dưới cái nhìn của tác giả, những sự vật vốn tĩnh trở nên động Chuyển tĩnh thành động, sự cảm nhận cảnh ngày hè của nhà thơ bộc lộ rõ tình yêu sự sống sinh sôi,

cái động của thiên nhiên, cảnh vật phản ánh cái động trong lòng người Nhịp điệu

và tiết tấu bài thơ giàu sức gợi tả: Bức tranh ngày hè sinh động không những

được gợi tả bằng hình ảnh màu sắc, âm thanh, sự chuyển động tinh tế của sự vật

mà còn thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu Với đặc điểm về số câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8), lối đối ngẫu ở hai liên giữa (cặp câu 3 – 4, 5 – 6) thì vẫn thấy đây là bài thơ thất ngôn bát cú Nhưng bài thơ có một số điểm khác sovới thất ngôn bát cú Đường luật : Câu 1 và câu 8 chỉ có sáu chữ nên chúng thành những câu độc lập, không gắn với câu 2 và câu 7 thành liên như thể thơ Đường

luật Bài thơ còn đa dạng hơn về nhịp điệu : Câu 1 : 1 / 2 / 3;Câu 2 : 4 / 3; Câu 3

: 3 / 4;Câu 4 : 3 / 4;Câu 5 : 2 / 2 / 3;Câu 6 : 2 / 2 / 3;Câu 7 : 3 / 4;Câu 8 : 3 / 3

Mạch cảm xúc của bài thơ: từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có

phần chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn

Kết

bài

Tóm lại, có thể thấy cảnh và tình trong bài thơ được kết hợp hài hoà Tả cảnh

ngày hè, bài thơ là một bức tranh tràn đầy sức sống Sức sống của sự vật trong trong bức tranh tả cảnh mùa hè cũng thể hiện cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ Cảnh gợi cảm xúc, cảm xúc chi phối cái nhìn và tái hiện cảnh vật

Ngày đăng: 10/06/2022, 09:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w