Giáo trình Lí luận văn học (Tập 1: Bản chất và đặc trưng văn học): Phần 2 gồm có 3 chương với những nội dung cụ thể sau: Chương IV nghệ sĩ và quá trình sáng tạo văn học, chương V tiếp nhận, thưởng thức và phê bình văn học, chương VI chức năng của văn học. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1Chương IV NGHỆ Si VA QUA TRINH SANG TAO VAN HOC
Mục tiêu:
- Hiểu được nội dụng tài năng của nghệ sĩ
- Hiểu được quá trình sáng tạo uăn học uà những yếu tố của nó
- Nam được thực chất của có tính sáng tạo uà uat trò của nó trong 0iệc đốt mới uăn học thường xuyên
1 CHỦ THỂ NGHỆ SĨ VĂN HỌC
Văn học là sản phẩm sáng tạo của con người Nhưng không phải ai cũng sáng tạo được tác phẩm văn học Phải là người nghệ sĩ có những phẩm chất và tài năng đặc biệt mới có thể làm dược diều đó
Theo tâm lí học hiện đại, tài năng là những tiểm lực tỉnh thần, là những khả năng và phẩm chất thông thường nhất, nhưng tập trung và phát triển mạnh mẽ, tạo ra năng lực thực hiện tốt một công việc nào
đó hơn hẳn những người khác Có thể nhắc đến những phẩm chất cơ bản của người nghệ sĩ như năng lực quan sát và trí nhớ, năng lực thẩm
mi, tinh cam và trực giác, năng lực tưởng tượng, năng lực biểu hiện nghệ thuật
1.1 Năng lực quan sút 0ê trí nhớ
Đối với người nghệ sĩ, năng lực hàng đầu thể hiện ở tài quan sắt Cơ
sở để xây dựng hình tượng đã là vốn sống, chất liệu đời sống, thì năng lực quan sát có một ý nghĩa quan trọng đối với nghề văn Mỗi người hàng ngày trong đời sống đã nhìn thấy biết bao hiện tượng và sự kiện lớn nhỏ trong xã hội, song phần nhiều họ đã để chúng trôi qua một cách vô ích
mà chẳng có một cảm xúc 8ì: Thể nhưng lại một số ít người thì nhìn thấy
123
Trang 2và năm bắt những biểu hiện đặc trưng của đời sống Đó là năng lực quan sát, Sáng tác có thành công hay không điều quyết dịnh không phải do có
để tài mới lạ, mà là do biết phát hiện những điều mới lạ sâu sắc trong những hiện tượng rất thông thường Những chuyện như Lão Hạc, 0
hiển, Tư cách mõ của Nam Cao có gì ]à tân kì đâu, thậm chí ở dâu cũng thấy Nhưng chỉ có Nam Cao nhìn ra và thể hiện thành những chủ đề sâu sắc Nhà điêu khắc Rodin nói: “Người đáng gọi bậc thầy là người biết dùng đối mắt của mình để nhìn những cái mà người khác cũng thấy, nhưng ở nơi mà người khác nhìn đã quá quen, không thấy gì nữa, lại phát hiện ra dược cái đẹp”1, Biêlnski nói: “Nhiệm vụ của nhà thở là rút tra chất thơ từ trong cái văn xuôi của đời sống”3 Muốn được như thé nha
thơ phải biết quan sát Sáng tác tiểu thuyết cũng vậy Nhà văn
Œ,Plaubert từng đạy học trò là nhà văn G.Maupassant rằng: “hi anh đi qua trước mặt một nhà buôn đang ngỗi trước cửa hàng tạp hoá của mình,
di qua trude mặt một nhân viên bảo vệ đang hút thuốc lá, đi qua trước
một trạm xe ngựa, anh hãy khắc hoạ cho tôi tư thế của ông nhà buôn hay
tay bảo vệ, dùng thủ pháp nghệ thuật vẽ ra điện mạo bề ngoài hàm chứa
bản tính đạo đức của họ, làm sao cho tôi không lẫn dược với anh nhà buôn khác và anh gác cổng khác Anh hãy dùng một câu mà làm cho tôi biết dược cái trạm có một con ngựa khác với cái trạm có õ0 con như thế nào” Tất nhiên đây là một bài tập của nhà văn bậc thầy, những nó cho
thấy tài năng chính là sự kiên nhẫn, “Đối với diều mà anh muốn biểu đạt anh phải quan sắt nó thật lâu, để phát hiện ra cái đặc điểm mà người
khác không phát hiện ra, Muốn tả một đống lửa trại hay một cái cây trên
thảo nguyên, ta phải đối điện với đống lửa và cái cây cho đến khi nhìn ra chỗ khác biệt của chúng so với đống lửa khác và cái cây khác”?, Nhà văn phải có tài quan sát như vậy mới có thể có khả năng diễn đạt một cách chính xác, súc tích đặc trưng của sự vật Nhà văn Tô loài cũng khẳng
1 Rodin bàn bê nghệ thuật, Nxb Mĩ thuật, Bác Ninh, 1987, tiếng Trung: tr,4
2, Biélinshi tuyển tập TL, Nxb Văn nghệ Thượng Hải 1963 tr.185
Ỷ " v «3# ae „ ` N o aa a 4 - ` a ”
3 G Maupassant Tibi thuyết trong sách ác nhà uăn cô điền Au My ban ve chu nghĩa hiện thực cà chủ nghĩa lãng mạn Nxb Khoa học Xã hội 1986 T.2 tr.237-238 tiếng Trung,
Trang 3sa, %Ẳđắ ete
nh Quan sát giỏi phải thấy va nét chính, thấy được tính riêng, móc
mm i g dac diém ma minh cam nhat, như: một cau nói lột tả tính nết, những đáng người và hình bóng, tiếng động ánh đèn nét mặt, một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ mới bật lên và khi thấy bật lên được thì thích thú, hào hứng, không ghi
“hông chịu được”1 Sự quan sát của nhà văn không chỉ dừng lại bể ngoài
mà còn phán đoán sâu vào bên trong, đặc biệt là nội tâm, nhìn nu su hên hệ bên ngoài và bên trong Ngoài ra nha van con tự quan s +, nhìn
rõ những xúc động trong tâm hồn mình, từ đó mà tích luỷ vốn sống
b.Hemingway nói: “Nếu một nhà văn ngừng quan sát, thế là xong dồi nhà văn Nhưng anh không cần phải cố ý quan sát, cũng không di ân phải
tìm cách quan sát như thế nào mới có ích Khi mới bắt đầu có lẽ là như
vay Nhưng về sau mỗi sự việc mà anh nhìn thấy đều đi vào cái kho tăng khống lỗ gồm những gì anh biết hay những việc mà anh thấy”?, Như vậy
quan sát đã làm nên vốn sống cần thiết cho mệt nhà văn
bộ phận trong nắng lực về trí tuệ
Vốn biến thức sâu rộng cũng là một
t từ văn hoá, nghệ thuật của nhà văn Có được một vốn kiến thức bao quá
đến triết học, lịch sử, kinh tế, xã hội, con ngudl
dựng lên được những bức tranh đời sống giàu màu §
giá trị tu tưởng cao Kiến thức có thể đến từ nhiều ng
an, tự học qua sách V ở, tài liệu Polstoi da
Ác CUỘC chiến tranh 1805, 1819 và
1 tranh va hot bình Hiến
nhà văn mới dủ sức
ắc thẩm mĩ, mang uốn: học vấn nhà
trường, nguồn văn hoá dân gì
phải bỏ nhiều năm để tìm hiểu VỀ ©€
phong trào Tháng Chạp ở Nga để viết nên Chiõi
thức chung sẽ góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm ưu chê) "Độc sách phá vạn Kien văn rộng
là lương thực giải cứu sự nghèo nàn” g
quyền, hạ bút như hữu thần” (Đỗ Phủ) là vì và
Vốn kiến thức sâu rộng còn là hết quả của cuộc dấn thân tích cực vao đời sống của nhà uấn Người ta gọi Tư Mã Thiên là “nhân vật văn hoá
1 Tô Hoài Sở tay viet săn Nxb TPM.H 1977 rô
2 Nhiều tác giả Nghiên cu Hemingway Nxb Khoa học Xã hội Trung Quốc, D1986 tr.72-78,
125
Trang 4
khổng lỗ của Trung Quốc cổ đại”, Đỗ Phủ là “thi thánh”, L.Tolstoi là “tấm
gương của cuộc cách mạng Nga”, M.Gorkli là “con chim báo bão của cách mạng vô sản” chính vì họ đã trải nghiệm qua một cuộc đời phong phú, mạnh mẽ với việc tham gia nhiều nghề nghiệp, đi qua nhiều vùng đất,
tiếp xúc đủ loại người, chứng kiến những biến cố lớn của lịch sử Và đặc
biệt, họ thường là những người tham gia vào trung tâm của những thay đổi lớn trong lịch sử dân tộc và thời đại với tư cách người tiên phong Những kinh nghiệm sống đó đều để lại trên từng trang văn mà không một trí tưởng tượng nào có thể thay thế nổi Về điều nay, Luc Du (nha
thơ đời Tống có nói: “Công phu của thơ chính là ở ngoài thơ”, còn các
nhà văn Việt Nam cũng phát biểu tương tự: “Tôi lại muốn nhấn mạnh
một điểu mà tôi đã nói nhiều là muốn viết văn, trước hết phải sống Đừng có cậy ở thiên tài Thiên tài chỉ cho ta nghệ thuật, sống mới cho
ta nội dung”,
Trí nhớ tố† là một năng lực không thể thiếu ở nhà văn Trí nhớ là
năng lực ghi nhớ các ấn tượng đời sống lâu bền, giúp nhà văn tích luỹ các kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm sách vở Đó là kho tàng tài liệu để
sáng tác Không có tài liệu để suy nghĩ, liên tưởng thì không thể viết lách
gì dược Trí nhớ tốt khiến nhà văn nhớ hết các sự kiện, lai lịch của hàng
nghìn, hàng trăm nhân vật để dựng nên những tác phẩm đồ sộ như Sử
hý của Tư Mã Thiên, Tgzn quốc diễn nghĩa cha La Quan Trung, Tan tro đời của Balzac Nếu trí nhớ không tốt thì mọi cảm giác, ấn tượng số trôi mất, nhà văn không còn tư liệu để tái hiện trong bất kì công việc hối
tưởng nào Nhà văn là người thường lưu giữ được các ấn tượng, cam xúc,
từ rất lâu, thậm chí từ tuổi ấu thơ Trong những trang sách của các nhà
văn: Tuốcghênhiep, Kôrôlencô, đorki, S Brônti, Lỗ Tấn, Tố Hữu, Tô Hoài, đều có những sự kiện đầu đời và những yếu tế thuộc về kinh
nghiệm cá nhân Điều đó làm cho trang văn luôn dầy ắp các ấn tượng, hồi ức, kinh nghiệm, kiến thức văn hoá, lịch sử tạo nên chiều sâu của những nhận thức và tình cảm văn học
—————
1 Nguyễn Công Hoan Đời viét vdn cia toi Nxb Van học Hà Nội 1971 tr 39-4 126
Trang 51.2 Năng lực thẩm mt, tình cảm 0à trực giác
Quan sát, tích luỹ vốn sống của nhà văn phải gắn với năng lực cảm thụ thâm mĩ, Đó là năng lực chủ thể sáng tạo chỗ nào cũng phát hiện dối tượng thẩm mĩ Có những người cảm giác trơ lì, dù cho đứng trước cảnh đẹp cũng không hề xúc động, họ không thể trở thành nghệ sĩ Có người
lại lí trí quá, họ phân tích về mặt lí tính các hiện tượng xã hội rất tài
nhưng lại thiếu năng lực xúc động Người ấy cũng không làm nhà văn được Nhà văn phải có một hệ thần kinh thật nhạy bén, hễ chạm vào một hiện tượng thẩm mĩ là toàn thân xúc động mãnh liệt, chủ quan và khách quan hoà hợp, như thế mới có thể sáng tác được Dichmun Phorớt nói nhà nghệ sĩ là một con bệnh thần kinh, dĩ nhiên là cách nói cực đoan Song Hàn Mặc Tw trong bai Twa tap tho Dién - “Dau thương" đã nói rõ năng
lực thẩm mĩ của nhà thơ: “Tôi làm thơ?- Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn,
bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sang
Anh sẽ thấy hơi đàn lả lướt theo hơi thổ của hồn tôi và chịu theo
những sóng diện nóng ran trút xuống bởi năm đầu ngón tay uyên
chuyển,
Ảnh run theo khúc ngân nga của tơ đồng, sẽ để mặc cho giai âm rên
rĩ suốt không ngừng”,
Trong lời tựa cho tập thơ Điêu tan Chế Lan Viên cũng nói: “Làm thở
là làm sự phi thường Thị sĩ không phải là Người, Nó là Người Mỡ, Người Say, Người Điên ”2 Trong cách nói cực đoan này nhà thơ nhấn mạnh
tối năng lực thẩm mĩ của nhà thơ Những Mơ, Say, Điện thực chất là trang thai tinh than rung động đến tột cùng, chỉ biết đi theo sự dẫn dắt của cái đẹp nghệ thuật Năng lực thẩm mĩ chẳng những €
cảm đặc biệt, mà còn đòi hỏi tính chủ quan mãnh hệt
161 bat 6 tinh cam Tinh cảm là một phản
ứng của não đối với thế giới khách quan, nó ba
không phải trì thức Dấu hiệu của nó là một th
đánh giá K.Marx nói: “Tình cảm, nhiệt tình là sứ
1 Hàn Mac Tủ Tác phẩm, phê bình tà tưởng miệm, Nxb Giáo dục, 1995, 0119,
2 Chế Lan Viên Điệu tàn, Tac pham va du ludn Nxb Van hoc H 2001,
1°:
Trang 6
con người khi mãnh Hệt khát khao đối tượng của mình”1, Vì thế tình cảm
có ý nghĩa cực kì to lớn trong đời sống Thiếu tình cảm thì con người không làm gì dược Tình cảm được bộc lộ qua các trạng thái yêu thương,
căm giận, buồn, vui Tình cảm thôi thúc con người làm việc có kết quả,
bởi nó có khả năng làm sinh ra một năng lượng mạnh mẽ và thúc đấy con người hoạt động tích cực Theo V.I.Lênin, không có cảm xúc của con
người thì không có sự tìm tồi nào về chân lí Nhưng tình cảm của nghệ
sĩ đặc biệt cần thiết cho sáng tac M.A, Sholokhov nói: “Tôi tần thành quan điểm cho rằng nhà văn phải có nhiệt huyết sục sôi mỗi khi viết, và
Lôi cũng tán thành là họ phải có thái độ lạnh lùng và lòng căm giận đang nung nấu với quân thù, mỗi khi họ viết về chúng Nhà văn phải biết cười
và khóc cùng với nhân vật mà họ yêu mến và gần gũi Chỉ có như thế họ
mới có thể tạo ra được một tác phẩm chân chính có tính chất nghệ thuật
thực sự, không một chút giả tạo”2, Tình cảm mãnh liệt là điều kiện để
nha van tự thực hiện mình trong sáng tác
Phẩm chất giàu tình cảm khiến nhà văn đễ rung động trước mọi sự
kiện, biến cố từ quá khứ đến biện tại Nhà văn có thể xúc cảm trước những sự kiện lớn lao của đất nước, dân tộc, nhưng cũng có thể động lòng
trắc ẩn, chia sẽ những mềm vui, nỗi buồn qua mọi hiện tượng đời sống
và những số phận nhỏ bé, bình dị Tấm lòng dễ rung dộng trước hiện thực
dy sẽ là động cơ, cội nguồn của sáng tạo Mà tình cẩm của nhà văn nhiều
khi trào đâng tới mức độ mãnh liệt Yêu thương cũng đến cực nồng nàn, dam thắm mà khát vọng cũng lớn lao bay bổng, để lại những vẫn thơ những trang văn đầy xúc cảm, Mộng Liên Đường chủ nhân da đánh giá
mức độ giàu tình cảm nay trong Truyén Kiểu của Nguyễn Du: “Hỏi văn
Là ra như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên td gIẤY, khiên
ai doc dén cũng phải thấm thía ngậm ngùi, dau đớn như đứt ruột Nêu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cối, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”3 Phẩm chất giàu tình cảm còn Bóp phần
làm nên nội dung của văn học, bởi nhà văn, khi viết về bất kì nội dụng
1 Karl Marx Han thủo triết học - Ninh tế học 18L Toàn tập Lập 12:
2 Bảo Sự that Matxcova s6 25/10/1961
3 Nhiều tác giả Nguyễn Du, tễ tác giả, tác phdm Nxb Giáo dục Hà Nội: L999 tr 105, 128
Trang 7nào của đời sống cũng bộc lộ cảm xúc, thái độ và sự đánh giá của mình
theo một thiên hướng tình cảm xã hội và lí tưởng thẩm mĩ nhất định
Thiếu nội dung tình cảm này, không thể có nghệ thuật và văn chương
đích thực
Có người cho rằng đối với văn nghệ, đối với nhà văn chỉ cần có tình cảm và năng lực biểu hiện là đủ, nhưng họ quên rằng đó không phải là
tình cảm thông thường, tình cảm mau nước mắt, mà là tình cảm đã được
ý thức, tình cảm nảy sinh từ những tư tưởng lớn Khi nhà văn xúc cảm
họ không chỉ xúc cảm cho mình, mà cho cả nhân loại, nhân quần Goethe
có lần nói năng lực nghệ sĩ là năng lực nếm thử những đắng cay mặn nhạt của đời Victor Hugo bảo: Thật khở khao nếu anh tưởng tôi không
phải là anh Xuân Diệu hiểu nhà thơ như chú lái khở, rất giàu có nhưng
đem cho hết Người nghệ sĩ là người say đấm với những tư tưởng lớn
Biêlinxki nói nghệ sĩ là người yêu tư tưởng Thiếu tư tưởng lớn soi sáng tình cảm nhà văn không thể sáng tạo được
Cho nên năng lực thẩm mi, tình cảm của nhà văn gắn liển với năng lực trực giác Trực giác là một năng lực nhận thức lí tính bằng trực cảm, một sự nhận thức tức khắc không trải qua phân tích, suy lí Nhưng đó
không phải là năng lực thần bí, mà chỉ là sự tích luỹ dồn nén đến lúc thăng hoa Trực giác không phải là năng lực riêng của nhà văn Nhà
khoa học, nhà chính trị, nhà thương nhân đều có, nhưng nghề nghiệp
nhà văn không thể thiếu Nhà văn Nga Paustopskl có kể một câu chuyện, có lần trong một quần rượu 6 Béclin, M.Gorki, L.Andreev, I Bunin eting ngéi véi nhau Gorki ra cau đố, yêu cầu mọi người quan sắt người ngồi một mình ở bàn bên cạnh trong nửa phút rổi phán đoán xem
ai nói đúng M.Gorkl nhìn và nói một câu: “Anh ta mặc để xám và xanh
xao” Ông không nói nhiều vì ông là người ra câu đố Andreev nói: “Nó là
một thằng trời đánh!” Mọi người hỏi Bunhin, ông trả lời: “Theo tôi đây là một tên bợm quốc tế” Mọi người gọi chủ quán lại hỏi, Chủ quán nói: “Xin
các ngài nói khẽ cho Đó là một tên cướp quốc tế đến đây nghỉ ngơi” Cả
mấy nhà văn đều chứng tỏ một năng lực trực giác phi thường!!, Nhà văn
1 Trích từ Núi băng, đổi thoại va tiêm đối thoại Nxb Công nhần 1987, tiếng Trung,
Trang 8Turgenev khi chưa sáng tạo hình tượng “những con người thừa” đã gặp trên xe lửa một bác sĩ trẻ có những nét rất đặc biệt, và phát hiện ra loại
người thừa Ông nói: “Ấn tượng của tôi về người đó rất sâu, đồng thời lại không rõ rệt, lúc đầu tôi không hiểu được anh ta, thế là tôi tập quan sat xung quanh, kiểm tra ấn tượng của mình xem có thật hay không”
Năng lực thẩm mĩ kết hợp với năng lực tình cảm và năng lực trực
giác làm thành một nhân tố không thể thiếu trong tư chất người nghệ sĩ
Chính nhờ năng lực thẩm mị, trực giác mà nhà văn có thể viết những trang văn đẹp thấm đượm tình cảm và tư tưởng sâu sắc, tỉnh tế Đây là
đoạn văn trong truyện Hát tuéng ngày rước thần của Lỗ Tấn:
“Mùi thơm ngát của lúa, đậu hai bên bờ uè mùi thơm của có rong
dưới đáy sông, lẫn trong hơi nước, nhẹ đưa uào mặt Trong sương đêm,
mặt trăng trở thành mờ ảo Xa xa, dãy núi mau đen nhạt nhấp nhô, trông giống như lưng một con thú đúc bằng sắt đang chồm lên, cứ thế mà nhảy lui mai uề phía lái Ấy thế mà tôi uẫn cứ có cảm tudng là thuyền đi chậm
lắm Các anh bạn tôi thay tay chèo bốn lần mới trông thấy làng Triệu
thấp thoáng ở đăng xa Lại như có nghe cả tiếng sáo, tiếng hát nữa Còn
có mấy đống lửa lập loè, chúng tôi đoán là đèn đám hát, những có thể là
đèn của thuyền đánh cá cũng nên " Cả tâm hồn rộng mổ đón lấy những
tác động muôn về của đời sống Và đây là đoạn văn của Vũ Bảng trong Thương nhớ mười hai:
*Ở đời, thịnh thoảng ta lại có cằm giác như thế mỗi khi sung sướng
quá, mỗi khi yêu nhiều quá Yêu hoa sâu đâu bhông để uào đâu cho hết,
nhớ hoa sâu đâu ở quê hương ta không biết mấy mươi! Người mắc bệnh Hữu lì đã xa cách phần tử mấy chục năm, rồi mà lạ thay sao cứ dén thang
bœ, nhớ đến sầu đâu mình uẫn cảm như còn thấy thoang thoảng đâu đây một mùi thơm mát mẻ, dịu dàng, mát mẻ còn hơn cả hương cau, mà địu
dàng có hhi còn hơn cả mùi thơm hoa mộc! Mùi thơm huyền diệu đó hoà
vat mili của đất ruộng cầy vd ra, mui dau đã già mà người Nong phu di hát đã đem uề phơi nắng, mùi ma non lên sớm xanh màu hoa li va dep
nhì những bite tranh lap thé mui khoai sdn, mii rau can 0 cae MUONS
130
Trang 9xâm xấp nước đưa lên bao nhiêu thứ đó, bấy nhiêu thương yêu có phải
đã có một lúc anh cảm thấy như ngây ngốt, như nhức đầu, như say một
thứ men gì phải không? (Tháng ba, rét nang Ban)
Đây chính là năng lực thẩm mĩ, tình cam và trực giác giúp nhà văn
vẽ ra những bức tranh đầy sắc hương, chi tiết và tình cảm nồng nàn 1.3 Năng lực tưởng tượng oà lí giải đời sống
Nghệ thuật không thể thiếu được tưởng tượng, năng lực tưởng tượng
có phong phú hay không trực tiếp ảnh hưởng tới sức sang tao của nhà
văn Hegel nói: “Nếu muốn nói đến ban lĩnh nhà nghệ sĩ thì bản lĩnh
tuyệt vời nhất chính là sức tưởng tượng”, “tưởng tượng tức là sáng tạo”1,
Biêlinski cũng nói: “Trong nghệ thuật cái có vai trò chủ đạo và tích cực nhất chính là tưởng tượng, còn đối với khoa học, cái quan trọng nhất là
lí trí và năng lực tư duy.”
Sở đĩ tưởng tượng có vai trò quan trong như thế là do nghệ thuật là
sự sáng tạo bằng hư cấu, bằng những hình tượng mới mẻ, lạ lùng, hấp
dẫn Nhà văn Pháp George Sand nói: “ Trong văn học, cho di một sự hư cấu giản đơn nhất cũng phải nhờ đến tưởng tượng, nhờ đó mà đem các
sự vật rời rạc nối liền lại với nhau, bổ sung, thêm thắt, làm cho đẹp”
Vai trò của tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật chủ yếu thể hiện
ở hai mặt: một là liên kết, tổ hợp và hai là cải tạo, biến đổi Theo Chu
Tác Nhân, người anh em ruột của Lỗ Tấn kể, thì hình tượng AQ đã két
hợp hình tượng của rất nhiều người: Chang hạn bi kịch tình yéu cua AQ
vốn là sự việc của ông chú họ của Lỗ Tấn, gia cảnh sa sút, có lần quỳ xin
tình yêu của người ở Chuyện A@ làm cách mạng là sự việc của một ngươi
làng tên là A Quế Khi cách mạng Tân Hợi đến anh ta ra đường vung tay
"hô: “Thời của ta đến rồi” Chuyện bắt cướp cũng có that, am Tinh Tu cũng có thật Nhưng Lỗ Tấn lắp ghép, nhào nặn lại, đúng như ông nói:
1 Hegel Mi hoc T1 Tldd tr 357,
2 Biélinsky Nhin qua van hoc Nga 1847
3 Nhiều tác giả Nhà uăn nổi Hếng nước ngoài bàn 0ê sáng tác Bắc Eñnh, 1980 tr Bỏ
131
Trang 10“Mặt ở Triết Giang, áo quần ở Sơn Tây, là một nhân vật tập hợp” Chí
Phéo cua Nam Cao cũng có một nguyên mẫu ở làng Đại Hoàng quê
hương nhà văn, nhưng số phận mờ nhạt Nhà văn đã thêm vào mối tình với nhân vật Thị Nở và cái kết thúc dữ dội gây ấn tượng mạnh mẽ Sự
tổ hợp và biến đổi gắn liển với nhau Paven Vlaxép trong tiểu thuyết Người Mẹ cũng có nguyên mẫu, nhưng nhà văn đã biến đổi Ví dụ nhà nguyên mẫu có nhiều con nhưng người mẹ Pélaghé chỉ có một con để tình
yêu của bà đều dồn vào đấy Nhà văn lại thêm người chồng nat rượu hành hạ bà và chết vì rượu M Gorki nói: “Tưởng tượng gắn liên với suy đoán nhằm bổ sung những khâu còn trống trong chuỗi sự kiện của cốt truyện”
Vai trò khác của tưởng tượng là bổ sung 8o với sự tích truyện Kiểu
lúc đầu, nhà văn Thanh Tâm tài nhân đã bổ sung rất nhiều Nhà văn đã
thêm cho Kiều một người em gái là Thuý Vân và người em trai Vương Quan, thêm người yêu Kim Trọng, người tình Thúc Sinh và cuộc đánh ghen của vợ anh ta là Hoạn Thư, lại thêm đoạn tự tử chết được cứu để
sau này đoàn tụ Sự bổ sung làm cho hình tượng toàn vẹn, hoàn chỉnh, nói được điều nhà văn muốn biểu hiện Tất nhiên sự tổ hợp bổ sung,
thêm thắt phải phù hợp với lôgích cuộc sống hoặc lôgích tình cam, phù
hợp với tính cách nhân vật được nhà văn lí giải quy định, chứ không phải
là tuỳ tiện
Nhà văn phải có một năng lực lí giải rất sâu sắc mà Balzac gọi là năng lực thấu thị Ông nói: “ở nhà thơ hay nhà văn có tầm cỡ là nhà tư tưởng thường thấy một hiện tượng tỉnh thần phi thường, không thể giải
thích, ngay cá khoa học cũng khó bề làm rõ Đó chính là nắng lực thấu
thì, nó giúp nhà văn trong bất cứ tình huống nào có thể xảy ra anh ta
đều có thể đoán ra chân tướng Hoặc nói cho đúng hơn là anh ta có một sức mạnh khó nói rõ đưa anh ta đến đúng nơi anh ta cần đến”! Balzae
chính là một nhà văn có năng lực lí giải rất sắc sào Một người bạn của ông là Darvin viết lời Tựa cho bộ Tấn trò đời đã nói: “Balzac mỗi lần đến một gia đình, đến bên một lò sưởi, qua những sự việc y hệt nhau, những
1 Balzac ban vé van hoc tr.95
132
Trang 11con người bình yên vô sự ông đều phát hiện được những tính cách vừa tự
nhiên vừa mới lạ, đến nỗi mọi người ngạc nhiên, tại sao những câu chuyện quen thuộc đến thế, chân thực đến thế, mà phai dén Balzac thi mới có được! Đó là vì trước ông, các nhà tiểu thuyết chưa biết khai thác
chi tiết và chuyện vặt như ông, lại chưa biết lựa chọn và dùng tài nghệ
của người thợ kim hoàn đem chúng kết hợp lại, khiến chúng trở thành
được thằng ngốc thực sự”? là để nói đến khả năng tưởng tượng, thể
nghiệm này của nhà văn Nhà văn Phơlôbe nói, khi miêu tả nhân vật
imma uống thạch tín tự tử, ông còn cảm thấy mùi vị thạch tín ở trong
mom minh
Trí tưởng tượng đưa đến những phán đoán bằng hình tượng mang
tính chất độc đáo, bất ngờ, không lặp lại: ba sợi tốc vàng của quỷ, các
hình tượng trong Liêu trai, cuộc phiêu lưu của Guylivơ, cuộc đời chìm nổi
đầy bí hiểm của bá tước Môngtê Critxtô Thiếu trí tưởng tượng, một
“phẩm chất có giá trị vĩ đại nhất” (Lénin) thì không thể có sự khái quát
hoá đơn giản nhất Mà khái quát hoá là một đặc thù của tư duy nghệ
thuật, đó là việc nhìn từ các hiện tượng, cụ thể, cá biệt để nhìn ra, phán
đoán về cái chung, cái phổ biến Lê Anh Xuân tự hào chiêm ngưỡng
“đáng đứng Việt Nam” qua dáng hy sinh của người chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhất, Chế Lan Viên trầm tư trước vòng cườm trên cô chim
cu như biểu tượng về sức sống bất diệt của con người Việt Nam thời chống Mỹ Ở đây trí tưởng tượng thấm đượm tình cảm chủ quan cua nghệ sĩ bởi vì sức tưởng tượng chịu sự chỉ phối mãnh liệt của tinh cam Cũng giống như một người đang yêu, đấm đuối với người yêu, nhìn dâu cũng thấy bóng dáng người yêu của mình
dich lí luận uăn học cổ điển Tập 10 Bac Kinh, 1965
1 Tua Tan tra doi Xem Ttì sách
tư liệu NI 1961 tr.316 (tiếng Nga)
2 V.Lénin va M.Gorki Thv từ, hồi tưởng,
133
Trang 121.4 Năng lực biểu hiện
Nhà văn nếu có đủ mọi năng lực mà thiếu năng lực biểu hiện, vẫn không thể có được tác phẩm Năng lực biểu hiện là năng lực viết ra tác
phẩm văn học, bao gồm nhiều nội dung
Trước hết là năng lực cấu tứ Cái gọi là cấu tứ là năng lực tổ chức bố
cục, xây dựng hình tượng nghệ thuật thành một chỉnh thể có ý nghĩa khái quát, tức là năng lực tổ chức chỉnh thể của tác phẩm, bao gồm nội
dung nào và hình thức gì Đây là một năng lực phức tạp, tuỳ theo mỗi ngành nghệ thuật, mỗi thể loại văn học mà có năng lực cấu tứ khác nhau
Cấu tứ thơ khác hoạ, truyện ngắn khác tiểu thuyết, kịch khác tần văn, thơ trào phúng khác thơ trữ tình Nhà văn phải biết viết cái gì, bắt đầu
từ đâu, kết thúc ở đâu Đối với thơ, nhà thơ phải chọn hình ảnh nào làm trung tâm để biểu đạt được cảm xúc Lấy ví dụ hội hoạ Ngày xưa người
ta thường lấy câu thơ làm đầu đề cho học trò tập vẽ Ví dụ cầu the “Tham sơn tàng cổ tự” (Núi sâu ẩn chùa xưa) Chọn hình ảnh nào để thể hiện ý đó? Người cấu tứ thành công là người không vẽ chùa, mà chỉ vẽ một dòng suối trong núi sâu, có chú tiểu xuống kín nước Hoặc như câu thơ “Dã độ
vô nhân chu tự hoành” (Bến đò giữa đồng vắng không có người, chiếc
thuyền tự nằm ngang), có người vẽ bến sông vắng vẻ, một chú lái đồ năm trong thuyền thổi sáo Nghĩ và vẽ như vậy là cấu tứ
Nhà viết kịch Tào Ngu, muốn viết vở kịch Lôi Vi, chi diễn một tối,
trong khoảng thời gian ba tiếng đồng hồ, vậy phải chọn cái gì, bỏ cái gì Ông phải suy nghĩ mất năm năm để bố trí sự việc diễn ra trong một ngày đêm, từ một buổi sáng đầu mùa hạ đến hai giờ sáng hôm sau, kế lại những mâu thuẫn chẳng chit phức tạp chất chứa trong ba mươi năm Có
người nói cấu tứ là nháp trong bụng, có người viết hắn để cương Nhà văn
Nguyễn Công Hoan trong sách Đời oiết uăn của tôi đã kể cái cách ông xây
dựng truyện ngắn Đó chính là cấu tứ, không có năng lực cấu tứ không
thể có văn được
Thứ hai là năng lực khắc hoạ, miêu tả hình tượng nhân vật Ở đây
dòi hỏi nhà văn phải có năng lực tạo hình Đây là lúc nhà văn huy vốn sống, kí ức về các hiện tượng đời sống, các biểu tượng, quan niệm để xây dựng hình tượng Thiếu năng lực này thì các ấn tượng ddl sống rời
động
Trang 13rạc, phân tán không thể được sử dụng để tạo thành một hình tượng nghệ
thuật hữu cơ, không làm cho hình thức có được sự sống Ở đây đòi hỏi
năng lực lựa chọn chỉ tiết, tổ chức kết cấu, lựa chọn góc độ, giọng điệu, chọn từ ngữ, màu sắc để tạo ra bức tranh văn học Đó là một năng lực tổng hợp Hégel nói: “Năng lực cấu tạo nên hình tượng của nhà nghệ sĩ
không chỉ là một năng lực tưởng tượng hư cấu, cảm giác có tính nhận thức, mà còn là một năng lực cảm giác thực tiễn, tức là năng lực tạo
thành tác phẩm trong thực tế Hai phương điện này đã kết hợp nhuần
nhuyễn ở nhà nghệ sĩ đích thực”)
Thứ ba là năng lực biểu hiện hình thức đẹp Đó là phạm vi sử dụng
thành thạo các thể loại văn học, năng lực sử dụng ngôn ngữ D6 1A kha
năng thấu hiểu uà sử dụng linh hoạt các phương thúc, phương tiện nghệ
thuật truyền thống, uận dụng ngôn ngữ, hình ảnh, uần nhịp hình hoạt,
có tài thể hiện moi sac thdi tinh vi của đời séng va thé gidi tam hon
Những áng văn chương kiệt xuất thường được gọi là “tấm thảm ngôn ngữ kì diệu” chính là vì vậy Đánh giá phong cách ki thuật cao vời của
6 tinh cam va niém oán
Khuất Nguyên, Tống Ngọc, Lưu Hiệp viết: “Bộc Ì
thần thì đổi đào, lưu loát mà dễ làm người xúc cảm; khi nói điều li biệt thì đau xót khôn cầm, khi tả núi sông thì nghe theo thanh âm có thể
hình dung được điều miêu tả; khi nói đến mùa màng, thời tiết thì xem văn có thể thấy thời tiết biến đổi”2 Các từ nhập thân, xao điệu, hoá
kĩ xảo nghệ thuật nhà vẫn Có
công thường để chỉ chất lượng của
người cho rằng, thơ Trung Quốc nhập thần, xao diệu cùng cực chỉ có Ở thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ Còn Tây svong ký là tác phẩm tự nhiên như là hoá
công, nghĩa là hoàn mĩ như trời đất sinh ra, không có dấu vết của công
phu, trau đổi, kĩ thuật
Năng lực biểu hiện, tức kĩ thuật viết văn luôn luôn phải được rèn luyện Theo Gorkl, “Can hoc cach thể hiện có hình khối, có góc cạnh với
những hình tượng hầu như có thể cảm giác được một cách nhục thể của L.Tolstoi Chưa ai vượt được nhà văn này trong nghệ thuật xây dựng
những hình tượng thật đến nỗi người La cú muốn lấy ngón Lay chọc thu’,
1 Hegel Mi hoc Tap 1 T1dd tr.363
2 Luu Hiệp Văn tam diéu long Nxb Van hoc H 1999 tr.147.
Trang 14
Còn muốn học ngôn ngữ thì phải học L.Tolstoi, Gégél, Leskép, Bunin,
Chekhov, Prisvin! Xuan Diéu đã tu ran mình khi lựa chọn từ ngữ: “Thơ
đi quặng thải bao lần, Biết bao giờ mới ra vần kim cương”
Tầm quan trọng của năng lực biểu hiện là nó tạo ra phẩm chất nghệ
thuật của hình thức Nói nghệ thuật phải nói tới hình thức đẹp, “hình thức có ý vị” như nhà lí luận Cláp Bel đã nói Vì thế việc trau dồi năng
lực biểu hiện là một yêu cầu không thể thiếu đối với nghệ sĩ, một phương
diện trong tài năng của nghệ sĩ
2 QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO VĂN HỌC 2.1 Khái niệm chung uề quá trình sáng tác
Nghiên cứu quá trình sáng tác gặp nhiều khó khăn Nhà tâm lí học Nga Dôgôslovsky cho rằng: “Con người ta không thể miêu tả quá trình
sáng tác của mình và quá trình hình thành hình tượng của mình bởi vì
sự chú ý của người ta hoàn toàn tập trung vào khách thể sáng tạo”,
A.Lêônchiev viết lời tựa cho sách Tâm lí học nghệ thuật của L.Vugốtsky
cho rằng: Quá trình sáng tạo này chẳng những nhà nghiên cứu không
nhìn thấy được mà nhà nghệ sĩ cũng không nhìn thấy Trước mắt nhà nghiên cứu không có quá trình ấy, mà chỉ có thành quả của sáng tạo, tức
là tác phẩm nghệ thuật, quá trình ấy kết tinh trong tác phẩm ”2 Mặc dù
vậy các nhà nghiên cứu vẫn tìm tòi về quá trình sáng tạo Nhà văn
A.Phadeev chia quá trình sáng tạo làm ba giai đoạn: tích luỹ tài liệu,
thai nghén, cấu tứ và biểu hiện nghệ thuật, Gần đây một số nhà nghiên
cứu lại chia làm ba giai đoạn khác: rung động nghệ thuật, thai nghen -
cấu tứ và thực hiện biểu đạt, lại có người chia thành: quan sắt, cấu tứ,
biểu hiện, lại có người chia thành: rung động, cấu tứ, vật hoá Nhìn
chung các cách chia đều có sự gặp gỡ nhau, đại đồng tiểu đi
1 M.Gorki Ban ué vén hoc T.2 Nxb Van hoe 1970 tr 36
2 Xem Lời nói đầu viết cho Tâm li học nghệ thuật Nxb Nghệ thuậ
(tiếng Nga)
t M 1981 tr 8
136
Trang 1539.2 Sự rung động nghệ thuật uà cảm hứng sáng tạo
Giai đoạn tích luỹ gồm quan sát, nhận thức, ghi nhớ.v.v có thể nói
là rất lâu đài Nhiều kinh nghiệm, kí ức tuổi thơ chôn sâu trong lòng nhà văn đã là tích luỹ cho nên khó xác định giai đoạn tích luỹ của nhà văn
bắt đầu từ đâu Có người cho rằng giai đoạn sáng tác bắt đầu từ nhu cầu
giải thoát những đồn nén trong lòng đã chất chứa đến mức không trút xả
không được Nhưng đấy thuần tuý là xem xét về cơ chế tâm lí Sáng tác
văn học là hoạt động phi vụ lợi, không như các hoạt động thực dụng khác,
do đó rung động nghệ thuật là một khát vọng muốn biểu đạt, muốn tác động tới tỉnh thần người khác, muốn gửi thông điệp Đó là một rung động
vô tư, phi cá nhân mà mang nội dung xã hội và nhân loại Nhà thơ Tố
Hữu nói: “Thơ là một điệu hồn đi tìm các hồn đồng điệu” Còn nha van Nga K.Paustovski thì nói: “Người nghệ sĩ luôn luôn muốn truyền đạt một
cách hào phóng nhất tất cả những cái phong phú của tư tưởng và tình
cảm đang tràn ngập trong tâm hồn mình”
Rung động tức cảm hứng sáng tạo nghệ thuật bắt đầu như thế nào? Nói chung nó có hai điều kiện Một là phải có một kích thích của thế giới
bân ngoài Đó có thể là môt nhân vật, một sự tích, một câu chuyện nghe
được, như câu chuyện về một suất sưu người chết đã khởi đầu cho tiêu thuyết Tốt đèn của Ngô Tất Tố, hay câu chuyện về một chàng quí tộc
phát hiện người tình cũ của mình bị xử án đã khởi đầu tiêu thuyết Phục
sinh cha L.Tolstoi Đất nước đứng lên của Nguyên Ngoc bat dau tu cau chuyện của anh hùng Núp Kích thích bên ngoài có thể là một tư tướng, một cảnh vật, có khi là một âm điệu, một bản tin, một cuỗn phim.v.v
Các kích thích ấy làm xôn xao tâm hồn, cảm thấy có một cá! gì trong đó đang kêu gọi, đang loé sáng Su rung động loé ra như ánh chớp, như điện
giật, thế là kích thích sáng tạo Điều kiện thứ hai là sự nung nấu trong tâm hồn Nhà văn bao giờ cũng nuôi trong đầu óc mình những suy nghĩ
về đời và người Suy nghĩ về phép thắng lợi tỉnh thần đã nung nấu trong
đầu Lỗ Tấn nhiều năm như ma ám Gặp lúc ông bạn Vị Tố Viên làm báo
đặt bài, giục viết thế là viết ra Cảm xúc về những con người bất khuất
vì nước đã sẵn có từ lâu trong tâm hồn Tố Hữu, gặp lúc chị Trần Thị Lý
1 K.Paustovski Bong hong vang Nxb Van hoc 1982 tr 25
Trang 16người con gái đất Quảng bị bọn nguy quyền tra tấn đã man được dưa ra miền Bắc, thế là bật ra bài thơ Người con gái Việt Nam Phải có sự gặp g0, va chạm của hai yếu tố khách quan và chủ quan thì rung động nghệ
thuật - khát vọng biểu đạt - mới bắt đầu
Cảm hứng là trạng thái tâm lí then chốt và bao trùm trong quá trình sáng tạo văn học
Nhu cầu bộc lộ, giải thoát tình cảm cộng với năng lực tưởng tượng
dẫn đến trạng thái sẵn sàng sáng tạo của nhà văn, được gọi là cảm hứng,
Cảm hứng sáng tạo là một trạng thái tâm lí căng thẳng về ý chí và
trí tuệ, nhưng đổi dào về cảm xúc và niềm say mê mãnh liệt khiến nhà văn làm việc có hiệu quả cao Khi tất cả trí tuệ và cảm xúc đã đạt đến sự hài hoà, kết tỉnh sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn
đắt nhà văn đến những mục tiêu nghệ thuật bằng con dưỡng gần như trực giác, bản năng,
Cảm hứng sáng tạo rõ ràng không xuất hiện tự nhiên mà được chuẩn
bị bởi quá trình làm việc căng thang của tư tưởng đo tính tích cực của trí
tưởng tượng được nung nấu, dồn nén những ấn tượng quan sát cụ thể, những kinh nghiệm đã có trong tiểm thức, đến một lúc nào dé loc sáng
như một tia lửa điện mà Pautốpski gọi là tia chớp sang tao
Cảm hứng sáng tạo có lúc cũng cần một số điều kiện bên ngoài nào đó: Andersen thích nghĩ ra những câu chuyện thần tiên trong khu rừng
Chỉ ở chốn thôn quê thanh vắng thì nguồn thơ của Puskin mới tuôn trào Còn Dickens nếu phải rời phố xá Luân Đôn ổn ào sẩm uất sẽ không
viết được một dòng Đó là những thới quen gợi cảm hứng cho nghệ sĩ Ngoài ra, còn có những tác nhân đặc biệt, bất ngờ cũng khơi nguồn cam
hứng sáng tạo: bông hoa nhỏ ép trong sách (Puskin) tiéng chày dập val,
Liếng sáo trong tù, ánh trăng ngoài cửa sổ (Hồ Chí Minh), giọng nói quê
nhà (Dante) Tuy nhiên, đấy chỉ là những tác nhân mang tính be
ngoài, ngẫu nhiên, còn thực chất của cẩm hứng vẫn là đô nhay cam cua
con tim và kho tích luỹ cao độ các ấn tượng và kinh nghiệm dời sống, để
một phút bất ngo nào đó, toàn bộ năng lực tỉnh thần của người sáng tạo
được kết tình, nấy nở và cho kết quả,
Trang 172.3 Cấu tứ nghệ thuật
Giai đoạn quyết định trong quá trình sáng tác là cấu tứ, xác định
chủ để Đây là giai đoạn khó khăn, lâu dài mới giải quyết được Kể về
trường hợp viết truyện ngắn Chiếc lược ngò, Nguyễn Quang Sáng cho
biết ông đã gặp hai trường hợp có thật, con ra căn cứ thăm cha nhưng
gặp cha thì không nhận Có em còn không cho cha ngủ chung, đuổi đi Nhưng chỉ tiết đó chưa thành chủ đề Trường hợp xúc động thứ hai là ông
gặp cô giao liên Đồng Tháp Mười, mới 22 tuổi mà đã góa hai đời chồng, đều là liệt sĩ Ông định viết về nỗi đau thương, nhưng lúc ấy chưa tiện Sau ông phát hiện chủ đề về ý chí kiên cường, dám nhìn thẳng vào nỗi mất mát nên cốt truyện hình thành rất nhanh và viết rất chóng Trường
hợp cấu tứ tác phẩm Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thì thì lâu hơn Nhà văn
chứng kiến nạn đói khủng khiếp năm 1945 và có ý định viết về nó Năm
1948 đã có ý định viết, đến năm 1953 đã viết thử được 70 trang mãi đến
những năm 60 mới dàn dựng được một bộ tiểu thuyết, lúc đầu định ba
tập, nhưng kết quả chỉ có hai Như vậy cấu tứ là một quá trình có nhiều
biến động, thay đổi cho đến khi nào có dược chủ để sâu sắc và hệ thống
nhân vật hoàn bị!
Quá trình cấu tứ cũng là quá trình đào sâu vào tư tưởng tác phẩm
Ví dụ, viết Chiến tranh uà hòa bình, lúc đầu L Tolstoi có ý định việt theo
tỉnh thần phê phán xã hội gay gắt Ông đã kể về bá tước Béncénski tan nhẫn với cô hầu gái như thế nào, miêu tả chàng sĩ quan Rostop hành hạ
binh lính như thế nào, ông cũng kể về một số cuộc bình lính Nga nôi loạn chống lại các sĩ quan Nhưng sau đó ông thay đổi chủ đề, ông muốn ca
ngợi tỉnh thần nhân dân, sức mạnh doàn kết đã đưa đến thắng lợi trong cuộc chiến tranh 1813 chống quân xâm lược Napôlôông, ông đã xóa bọ hết các yếu tố phê phán nói trên, biến tiểu thuyết Chiến tranh uà hòa
bình thành một tiểu thuyết tâm lí - sử thì dé sd
gốc (archetype), các môtip truyền
ác động rất mạnh Mẫu gốc là
a đân tộc tồn tại trong vô thức
Trong quá trình cấu tứ, các mẫu
thống, thần thoại, các kí ức tuổi thơ cot
những kí ức tập thể của nhân loại hay củ
1 Theo Nguyễn Công Hoan Hỏi chuyện các nhà oăn Nxb TPM Hi 1977
139
Trang 18cá nhân Nó cung cấp những chủ để, những mẫu hình tư duy mà người
sau sử dụng một cách vô thức Chẳng hạn các cuộc lên trời, vào địa ngục,
cô bé lọ lem bị hành hạ, cùng một bọc trứng nở ra.v.v Một nhà phê bình
MI nghiên cứu cho thấy mẫu gốc Narkisos, một chàng trai trẻ đẹp trong
thần thoại Hy Lạp, được mọi người yêu, nhưng hắn chẳng yêu ai cả, mà chỉ yêu chính mình, đã đi vào rất nhiều sáng tác của Chekhov nhu Ba công tước, Quyết đấu, Hỏi âu, trong kịch Ba chị em có mẫu gốc nhân vật
Mácbét phu nhân Một truyện Từ Thúc gặp tiên của Nguyên Dữ trong
tập Truyền ki mạn lục đã sử dụng không biết bao nhiêu mẫu gốc trong
kho tiên thoại Trung Quốc Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình
Chiểu đã sử dụng rất nhiều mẫu gốc của chuyện dân gian và truyện kì, truyện dã sử Trung Quốc
Trong quá trình cấu tứ, tuy là ý thức đóng vai trò chủ đạo song tiem thức cũng có vai trò không nhỏ Mối xung đột giữa ý thức và tiểm thức
(vô thức) ở con người là hết sức nguyên thuỷ Bị ý thức ức chê, kìm hãm,
vô thức chỉ bộc lộ ra dưới dạng tượng trưng hoặc ngụy trang Ÿ đồ sáng tác ban đầu thường đều do ý thức chi phối Song trong quá trình thực
hiện ý đồ nhà văn có thể xa rời ý định lúc nào không biết, ở đó có vai trò của vô thức Đó là trường hợp Balzac miêu tả những người quí tộc thân
yêu của ông một cách chế nhạo, vì nơi sâu thẳm ông tự thấy họ không
xứng đáng có một số phận khác hơn Hoặc khi nhà văn dịnh cho nhân
vật chết mà rút cuộc nó không thể chết hoặc ngược lại
Trong nghệ thuật phương Tây hiện đại nổi lên trào lưu phi lí tính,
trong đó yếu tố vô thức được quy cho một vai trò rất lớn Điều đó một
phan do hoc thuyét Phrét đã làm cho lĩnh vực vô thức được thừa nhận và kéo theo đó người ta có thể khám phá lĩnh vực này một cách có ý thức hơn Nếu thuần tuý lí trí, không thể sáng tác các tac phẩm nhu Vu an,
lâu đài, Dylixơ, Trăm năm cô don
2.4 Sự hình thành uăn bản
Sau giai đoạn cấu tứ là giai đoạn lấp sơ đồ (đề cương) nhà ầm hệ thong hoá, liên kết những điều quan sát và thu thập được, những ấn tượng, hình ảnh, cảm xúc vào một chỉnh thể Thường khi viết các tác phẩm vự
sự lớn, các nhà văn đều phải lập sơ đồ trước Nhà văn Nguyễn Dinh Thi
Trang 19khi viết Vỡ bờ đã phải vẽ sơ đề phả hệ của một số gia đình, vẽ sơ đồ không
gian xê dịch và hoạt động của các nhân vật Tuy nhiên, đối với việc làm
thơ, đặc biệt là thơ trữ tình với cảm xúc và tâm trạng đạt dào, mãnh liệt
là động lực chính thì khó khuôn theo một dàn bài định trước Tố Hữu nói:
“Tôi làm thơ không có dàn bài, tôi không biết trước được bài thơ đến bao
giờ thì hết, không biết bao giờ nó dừng lại”
Sang giai đoạn viết, nhà văn phải vật lộn từng chữ, từng cách diễn
đạt một cách khó khăn như người xưa nói “ba năm mới nghĩ được một
chữ, mười năm mới nghĩ được một bài” Giai thoại đã từng kể chuyện
Giả Đảo mãi tập trung suy nghĩ nên dùng (hôi hay xao trong thơ của mình đến nỗi đâm đầu vào xe của quan lớn Hàn Dũ Nhà văn phải thật
sự sống với thế giới hình tượng, thật sự “nhập vai” với hình tượng của mình để suy nghĩ, cảm xúc, nói năng, ứng xử hệt như nhân vật đang
sống Đó là lúc kết tình cao độ của óc tưởng tượng phong phú với một
tấm lòng đồng cảm mãnh liệt Nguyên Hồng đã từng khóc khi nhân vật của mình chết Flaubert kể lại: “Từ hai giỏ chiều tôi ngôi viết Đè Bôuari Tôi miêu tả cuộc đi chơi bằng ngựa tôi đã sống qua một trong những ngày hiếm có nhất trong đời tôi, đấy là những ngày suốt từ đầu đến cudl được sống bằng ảo ảnh Hôm nay cùng một lúc tôi vừa là dan ông, vừa
là đàn bà, vừa là tình quân, vừa là tình nương Tôi vừa là những con
ngựa, những chiếc lá, là làn gió, vừa là những lời thổ lộ giữa những người yêu nhau, lại vừa là mặt trời đỏ rực làm nhíu lại những cặp mắt
chan chứa tình yêu”]1,
Cuối cùng, đến giai đoạn sửa chứa Lúc này, nhà văn co co hội nhìn bao quát thành quả của mình, hoàn thiện nó để đạt đến tính tư tướng và
tính nghệ thuật theo ý đồ ban đầu Nhiều nhà văn đã sửa chữa nhiều lần
bản thảo của mình Nguyễn Đình Thí trò chuyện về lúc viết Ve bờ:
“Nhiều lần phải sửa đi sửa lại, hoặc viết đi viết lại một chương, một trang hoặc một đoạn, tôi cũng không tiếc công"”2 Về cuốn Miệng da lừa được
2 Theo Nguyễn Công Hoan Chán dung
1992 tr 113
van học Trường viết văn Nguyễn Du H
141
Trang 20sửa chữa đến bản ïn thử lần thứ mười hai Balzac nói: “Tôi sửa chữa cuốn
tiểu thuyết này để làm cho nó trở nên không thê chê trách được” Hoàn thành tác phẩm, một niềm hạnh phúc dạt dào trào dâng đến nhà văn nhưng với một tâm trạng khó tả, buồn vui lẫn lộn Vui vì đã đưa
lại cho đời một tác phẩm như mình mong muốn Buồn vì chia tay với
những con người mình gắn bó da điết như máu thịt suốt thời gian dài
Nguyễn Đình Thi tâm sự: “Khi viết xong cuốn thứ hai (Võ bờ), tôi thấy nhơ nhớ những vai trong truyện, như vừa có cuộc chia lí không bao giờ gặp lại nhau nữa Tôi cứ bang khuâng, buồn buồn, ra ngẩn vào ngơ” Và một quá trình sáng tạo mới lại bắt đầu Cứ như thế , bất kì nhà vấn nghiêm túc nào cũng sẽ nghĩ như Hugo rằng tác phẩm hay nhất của đời mình còn ở phía trước
3 CÁ TÍNH SÁNG TẠO VÀ SỰ ĐỔI MỚI KHÔNG NGỪNG CỦA
VĂN HỌC
J.1 Khái niệm cá tính sáng tạo
Một nhà văn thực thụ chủ yếu không phải do anh ta sáng tác it hay
nhiều mà là do anh ta có hình thành được một cá tinh sang tao nói bật
của mình, khác hẳn với các nhà văn khác Cá tính sáng tạo là dấu hiệu chứng tỏ nhà văn đã trưởng thành và được thừa nhận
Cá tính vốn là một phạm trù của tâm lí học, còn gọi là đặc trưng tâm
lí, đặc trưng tâm lí cá tính Nó tổng hoà các đặc trưng ổn định, có khuynh
hướng rõ rệt của một con người về các mặt hứng thú, thị hiệu, khí chất, thiên phú, năng lực, tính cách Cá tính mỗi người có cơ sỞ của tâm sinh
lí cá nhân song chịu ảnh hưởng sâu sắc của đời sống xã hội và truyền
thống văn hoá Cá tính hình thành trong sự tương tác với các dõi hol xa hội Cho nên có thể nói cá tính là sản phẩm xã hội hoá cá nhân rong quá trình hình thành cá tính, cá nhân vừa là khách thể của xã hội vụa
là chủ thể xã hội hoá Tuy điều kiện văn hoá xã hội, cá tính con người cũng thay đổi
1 Theo Arnaudép Tam Uf hoc sdng tao vdn hoc Nxb Van hoa, H 19%
142
Trang 21HH Hiến 0t mắn Han Hà —_— ‹ phẩm không phải là sự thể hiện giản đơn cá tính của nhà văn, bởi cá tính sáng tạo là cá tính
trong lĩnh vực sáng tạo F.Rabelais là con người tự kiểm chế, nhưng
ha tac pham Gacgdngchuya va Pangtagruyen thi ông phóng túng
nhện TH nha SỈ m.hnttim
Boalô là nhà văn khiêm nhường mà thơ ca thì tran day lời châm biếm táo
bao Do đó cá tính sáng tạo là đặc sắc nổi bật của nhà văn trong thị hiếu
hứng thú nghệ thuật, trong tài năng, sở trường về sáng tác văn học, là
dấu hiệu phân biệt nhà văn này với nhà văn khác Karl Marx gol cá tính
Sang tạo là “tính cá thể về tinh thần”, ông nói: “Chân lí là phổ biến, nó
không thuộc về cá nhân, mà thuộc về mọi người Chân lí chiếm hữu tôi,
chữ không phải tôi chiếm hữu nó Tôi chỉ là cái hình thức tạo thành cá
tính tỉnh thần của tôi”! M.Khrápchencô cho rằng: “Bản thân nhà văn
chính là cá tính sáng tạo độc lập” Ông nói: “Nhà văn không phải là một cải máy vi tính, làm việc theo mệnh lệnh và theo một chương trình lập sản, Anh ta là một cá tính sáng tạo độc lập, và với tư cách đó anh ta tham gia vào quá trình văn học Cá tính sáng tạo của nhà văn là cá nhân nhà văn bao gầm các đặc điểm xã hội và tâm lí quan trọng, đó là cách nhìn
về thế giới và cách thể hiện nghệ thuật; cá tính sáng tạo là cá nhân nhà văn bao gồm thái độ thẩm mĩ đối với xã hội, bao gồm ca ngôn ngữ và lởi
kêu gọi nội tâm đối với công chúng, đối với những người mà anh ta sáng tác cho họ”? Tóm lại cá tính sáng tạo bao gồm tính chủ thể của nhà văn trong nghệ thuật, kinh nghiệm và sở trưởng đặc thù trong nghệ thuật, là con người mà xã hội và thời đại yêu cầu
Các nhà văn xưa nay đều rất coi trọng cá tính sáng tạo Nhà văn Nga Turgenov nói: “Trong thiên tài văn học
tôi gọi là tiếng nói riêng Đúng thế, điều
riêng, có giọng điệu đặc thù của riêng mình,
cái quan trọng nhất là cái mà quan trọng là phải có tiếng nói
là cái giọng điệu mà cô họng
1 K.Marx Bình luận lệnh biểm duyệt báo chí gần đây của nhà nước Phố Toàn tập
tập 1 tiếng Trung Văn tr 7
2 M.B Khorapchencé Ca tinh sang tao va su phat trién cua van hoe.
Trang 22người khác không thể phát ra được”1- L.Tolstoi cũng nói: Khi tôi đọc hay suy nghĩ về một tác phẩm của một nhà văn mới, câu hỏi đầu tiên tôi
thường đặt ra cho mình là: “Chà, anh ta là người như thế nào? Anh ta
khác với những người mình đã biết ở đâu, liệu anh ta có nói được điều gi
méi?”2, Nha van Zola nói về những nhà văn viết khéo, mùi mẫn mà thiếu
cá tính như sau: “Cái bất hạnh của họ là thiếu cá tính, đó là cái làm cho
họ rơi vào sự tầm thường, họ uống công viết những tác phẩm tràng giang đại hải, họ lạm dụng uống phí cái sức lực phong phú của họ, vì tất cả điểu
đó không làm nên sức sống cho tác phẩm của họ, mà ngược lại ngợi dọc cũng không xem họ là gì Không có cá tính thì coi như không có gi ca”? Như vậy, điểu cơ bản trong cá tính sáng tạo là tạo nên được cái riêng
trong nghệ thuật Tiếng thơ của Bà huyện Thanh Quan và Hồ Xuân
Hương cất lên cùng một thời đại, nhưng là kết quả của hai cá tính sáng tạo khác hắn: Nếu như hình ảnh, ngôn ngữ của Bà huyện luôn mực
thước, tĩnh tại, ước lệ, đẹp đẽ, hướng về quá khứ, nhiều điển cố, nhiều tù
Hán Việt, trang trọng, cổ kính, xa xôi bao nhiêu thì hình ảnh và ngôn
ngữ của Hồ Xuân Hương lại là sự phá cách, phi chuẩn mực, hướng về dời
sống thực tại, bình dị, nhiều từ nôm, vận dụng nhiều lời ăn tiếng nổi đân gian bấy nhiêu Trong thơ mới, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận đều là những nhà thơ hoàn toàn khác nhau Trong thơ ca hiện đại, Chế Lan Viên và Tế Hữu hoàn toàn sức
nhau Khác với Xuân Diệu sáng tác rất nhiều, Chính Hữu lại sáng tác
rất ít mà dấu ấn riêng lại rất nổi bat
VỀ vai trò của cá tính sáng tạo, có thể nói, nó đã trực tiép tao ra
phong cách văn học cá nhân, góp phần dựng nên tính phong phú, da
dạng, giàu bản sắc của các nền văn học, bởi mỗi cây bút, với tong nói riêng sẽ tạo thành bản hoà ca nhiều bè, lắm âm thanh, sắc thái dánh
dau những cái nhìn đặc sắc trong lịch sử văn học dân tộc
1 Chuyển dẫn từ sách trên của Khrápeheneô,
hi Chuyển dẫn từ sách trên của Khrápchencô g3
.Tài liệu tham khảo lí luận ăn học Nxb Xuân Phong 1983 tr
144
Trang 233.9 Sự đổi mới không ngừng của uăn học
Sự nối tiếp, thay thế của cá tính sáng tạo dựng lên trước người đọc bức tranh toàn cảnh của văn học và sự vận động trong lịch sử của nó Văn học phát triển uù đổi mới không ngừng trên sự đổi mới không ngừng của cá tính sáng tạo
Trên cơ sở phát huy cá tính sáng tạo, nhà văn để lại dấu ấn trong lịch
sử văn học bằng những giá trị thẩm mĩ độc đáo riêng biệt Nhưng mọi sáng tạo, đổi mới đều ít nhiều không tách rời truyền thống Tô Đông Pha
khi bàn về văn chương đã chú trọng đến sự đổi mới trên cơ sở truyền
thống của nhà văn: “Thủ pháp của Nhan Lỗ Công khoẻ đẹp độc đáo, thay
_đổi hẳn phép cổ Còn như thơ Đã Tử Mỹ, cốt cách tung hoành, tiếp thu
được những cái hay của những nhà thơ Hán Ngụy Tấn Tống mà những
nhà thơ đời sau cũng không bằng được” Còn tác phẩm Li tao cha Khuat
Nguyên, cũng theo Tô Đông Pha, sở đĩ “tranh được vẻ sáng với mặt trăng
và mặt trời” và “biến đổi cả thể phong và nhã” là vì có sự đổi mới và phát
Sang tao trên cơ sở truyền thống là sự tiếp nối các yếu tố nội dung
và hình thức của văn học đã mang tính ổn định như hệ théng dé tai, chủ
đề, hình tượng và các biện pháp nghệ thuật Ví như các chủ đề phổ biến
trong thơ ca cổ Trung Quốc và Việt Nam, Ít nhiều trở thành công thức: lên núi cao ngắm cảnh, nhớ bạn; con người vui vầy giữa thiên nhiên,
mượn thiên nhiên để tổ bày tâm hồn và khí phách |
Còn sự đổi mới không ngừng của văn học luôn diễn ra trên khắp mọi thời đại, mọi đân tộc, mọi không gian thời gian với mọi cá tính sáng tạo
Có thể kể đến sự đổi mới những hình thúc khái quát nghệ thuật Lịch
sử văn học thế giới đã từng chứng kiến sự thay thế, kế tiếp và nd rộ các
hình thức khái quát hiện thực như thần thoại, lãng mạn, cô điển, hiện
thực, tượng trưng, biện thực phê phán, siêu thực, hiện thực xã hội chủ nghĩa, hiện thực huyền ảo Mỗi bước đi của lịch sử văn học nhân loại
1 Theo Khâu Chấn Thanh Lý luận uăn học, nghệ thuật cổ điển Trung Quốc Nxb
Giáo dục H 1994, tr 332, 335
“
Trang 24được đánh dấu bằng sự xuất hiện các trường phái, trào lưu, mà trong đó
cá tính sáng tạo nhà văn nằm chung trong những đặc điểm lớn của văn học thời đại
Song song với những hình thức khái quát hiện thực là sự đổi mới nội
dụng đời sông được mô tả thông qua hệ thống đề tài, chủ đề với các vấn
để được đặt ra mang tính thời sự của thời đại mình Ví như sự bùng nổ
của một loạt những chủ để ca ngợi niểm vui và sức sống trần thế giai
đoạn Phục Hưng ở phương Tây Vấn để cá nhân ở phương Đông chỉ được đặt ra bức thiết vào cuối thời kì trung đại Văn học lãng mạn phương Tây
đã bỏ qua một loạt đề tài mô phỏng cổ đại như văn học cổ điển để hướng
tới những đề tài gần gũi với đời sống hàng ngày mang tính lịch sử - dân
tộc Nếu thời kì 1945 - 1975, văn học Việt Nam mang đậm nội dung sử
thì thì đến giai đoạn sau 1975, nội dung thế sự và đời tư được tập trung chú ý
Quan niệm nghệ thuật uề thế giới uà con người như là nguyên tac chi phối việc xây dựng thế giới nghệ thuật cũng luôn luôn vận động như những bước tiến của lịch sử văn học Từ quan niệm về một thế giới tĩnh tại, điều hoà, ít nhiều cố định qua những hình ảnh ước lệ, công thức trong thơ cổ điển đến một thế giới sinh động, cảm tính, tràn đày sắc màu, thanh âm và nhịp điệu của sự sống trong thơ lãng mạn; từ thế giới phân cực (lung linh, rực rỡ và u sầu, mồ mit) của văn học lãng mạn đến những
không gian - thời gian mang tính lịch sử - thời đại của văn học cách
mạng, từ con người thần thoại, con người mang tầm vóc vũ trụ trong thơ
cổ điển đến con người lãng mạn, con người hiện thực cách mạng là cả một chiều đài của sự phát triển và đổi mới không ngừng văn học:
Đổi mới còn là việc tạo ra những hình thúc nghệ thuật mới Nhà vẫn luôn có ý thức vượt qua những hình thức cũ bằng cải tạo, vay mượn, sáng
tạo Nét “phân vân” trên đôi cánh con cò trong thơ Xuân Diệu, dáng
“ngân ngơ” của lũ chuồn chuồn nhớ nắng của Anh Thơ, điệu “ngơ ngác” của con nai vàng trong thơ Lưu Trọng Lư là những hùuh ảnh mới trong cách cảm thụ thế giới đây cảm giác cá thể của thơ lãng mạn Nét tâm
tình mang hơi thở thời đại luôn đi sát những biến động lớn lao của cách
mạng, của lịch sử là giọng điệu mới của tho ca thời chống Mỹ, Sự mở rộng những giới hạn miêu tả, từ góc nhìn “khoảnh khác”, “tát cắt” đến sự bao
146
Trang 25quát hiện thực cả đời người; từ sự tổng hợp các chất liệu, trữ tình, đến
chất tiểu thuyết là những đổi mới của thể loại của truyện ngắn Việt Nam
hiện đại so với truyền thống
Những bước đi chung của cá tính sáng tạo thời đại càng phong
phú, đa dạng bằng sự đóng góp của từng cá tính sáng tạo Thí dụ cảm quan hiện thực nghiêm ngặt và quy mô biện thực rộng lớn của Balzae,
“phép biện chứng tâm hồn” của L Tolstoi, tính chất đối thoại, ý thức
của F Dostoievsky là những nét độc đáo trong dòng văn học hiện thực
phê phán thế kỷ XIX Diện mạo độc đáo của văn học từng thời đã được
đánh dấu bằng những đỉnh cao của phong cách và cá tính sáng tạo
147
Trang 26HƯỚNG DAN HOC TAP
1 Ndm vitng các khúi niệm: Các năng lực của nghệ sĩ, các giai đoạn của quá trình sáng tạo văn học, cảm hứng sáng tạo, câu tứ, trực giác, cá tính sáng tạo của nhà văn
2 Câu hỏi suy nghĩ
1 Nhà nghệ sĩ có những năng lực đặc biệt nào? Vì sao nói nghệ sĩ là
người thể nghiệm cái đẹp và sáng tạo nghệ thuat?
2 Hoạt động sáng tạo văn học là một quá trình như thê nao: Những
yếu tố nào tạo nên hoạt động sáng tạo ấy?
3 Cá tính sáng tạo là gì? Nó đóng vai trò như thế nào trong quả
trình đổi mới không ngừng của văn học?
3 Giải thích khái niệm
© Các năng lực của nghệ sĩ: Tài năng nghệ sĩ thé hiện ở các năng lực đặc biệt của họ Đó là năng lực quan sát, trí nhớ, năng lực thẩm
mĩ, trực giác, năng lực tưởng tượng sáng tạo, năng lực biểu hiện
nghệ thuật
« Các giai đoạn của quá trình sáng tạo uăn học: Quá trình sang tao
văn học khởi đầu tích luỹ vốn sống, nhưng thực sự bắt dâu tư cảm
hứng, sự rung động trước thời cuộc, tức là sự bắt gặp một kích thích
khách quan, kết hợp với niểm nung nấu trong tâm hồn tạo thành
khát vọng biểu đạt, từ đó diễn ra quá trình cấu tứ, nâng cao chu dé, hoàn thiện hình tượng, kết cấu và viết thành văn bản Quá trình
sáng tạo văn học là quá trình phát huy cao độ mọi năng lực tình than của nhà văn, từ cảm hứng, tưởng tượng, trực giác, khái quát, ý thức
và vô thức, cả kinh nghiệm trực tiếp lẫn kinh nghiệm gián H€P:
Trang 27được phát huy toàn diện và cao độ Cảm hứng sáng tạo là sức mạnh
thúc đẩy nhà văn vượt qua mọi trở ngại để hoàn thành tác phẩm
e Cấu tứ nghệ thuật: Là quá trình diễn ra trong tâm trí nhà văn nhằm tổng hợp, gia công tư liệu, đào sâu chủ đề xây dựng hình
tượng, trật tự trình bày, thể hiện Nội dung cấu tứ bao gồm: tổng hợp tư liệu sống, làm nổi bật chủ để, làm sang tỏ các mối quan hệ
một cách giản dị, biến đổi các chất liệu, tìm cách lạ hoá về hình thức
Cấu tứ là một quá trình đa đạng, mỗi người có một kiểu riêng, phụ
thuộc vào cá tính, thể loại, sở trường
e Trực giác: Trực giác là sự hiểu biết và phơi bày bản chất sự vật,
hiện tượng một cách trực tiếp mà không qua hoạt động phân tích, suy lí Nó là sự thăng hoa của năng lực nhận thức tổng hợp của con người Trực giác cần cho mọi hoạt động của con người, nhưng trong
nghệ thuật nó đặc biệt quan trọng, giúp nhà văn nắm bắt chỉ tiết,
hiện tượng và ý nghĩa đời sống một cách nhanh chóng trong quá
trình sáng tạo đầy hưng phấn Trực giác gắn liền với cảm hứng
sáng tạo
e Có tính sáng tạo: Là cá tính nghệ sĩ, phân biệt với cá tính thông
thường của con người, được biểu hiện tập trung trong sáng tác Cá
tính sáng tạo là tổng hợp những đặc trưng trong cách nhìn, cách miêu tả, trong giọng điệu, thị hiếu làm cho sáng tac nhà văn này
khác hẳn nhà văn khác Cá tính sáng tạo đem lai cai mdi cho van
học, góp phần làm cho văn học đa dạng và không ngừng đôi mới
149
Trang 28TRÍCH YẾU TƯ LIỆU
e Từ ý đồ đến tác phẩm (Qua một số sáng tác của L.Tolstoi, M.Gorki, M.Schlokhov)
Trong việc nghiên cứu lịch sử sáng tạo tác phẩm thì tìm hiểu ý đồ tư
tưởng nghệ thuật của tác giả có một ý nghĩa quan trọng bậc nhất, bởi vì
nếu không hiểu đúng được ý đổ thì cũng không thể hiểu đúng được kết
quả sáng tạo Hiển nhiên ý đồ sáng tạo không phải là tĩnh tại, cứng nhắc,
mà vận động, biến đổi trong quá trình suy tư, tính toán của tác giả
Chẳng hạn, theo bà L.Mưskovxcaia, tìm hiểu được ý đổ của tác giả sẽ
giúp ta hiểu đúng hơn tư tưởng của tiểu thuyết Chiến tranh uùà hòa bình Khi tác phẩm xuất hiện, báo chí cấp tiến đương thời đã trách cứ L.Tolstoi
là trong tác phẩm đồ sộ ấy thiếu hẳn đấu vết của hiện thực thảm khốc
của chế độ nông nô, một đặc trưng nổi bật của thời đại mà nhà văn mô
ta trong tác phẩm Dưỡng như là nhà văn vào thời kì sáng tác chín muổi
nhất lại hóa ra có xu hướng tô hồng hiện thực Thực ra xét theo cá tính sáng tạo của Tolxtoi thời trẻ, nhà văn đã có khuynh hướng miêu tả hiện thực theo lối phơi bày sự thật xã hội một cách nghiệt ngã Chẳng hạn như Buổi sáng của một trang chủ là một ví dụ Nghiên cứu bản nháp của
Chiến tranh uà hòa bình người ta lại càng xác nhận điều đó Trong các
dị bản đầu tiên của tác phẩm, L.Tolstoi đã chú ý miêu tả nhiều cảnh
tượng tình tiết thể hiện các phương diện đen tối của đời sống hiện thực
gắn liền với chế độ nông nô Những cảnh ấy vừa xảy ra với các nhân vật
tôi tệ thấp hèn lẫn với eáe nhân vật lớp trên có thể diện Chúng bộc lộ quan hệ giai cấp giữa địa chỉ và nông nộ, sĩ quan và binh lính, thê hiện
một chủ dé không có trong văn bản cuối cùng Đó là các tình tiết nói về công tước Bonconxki sau khi géa vo tu thông với cô hầu phòng
Alexandra, lần lượt dé ra năm đứa con, mỗi lần để xong đều gửi vào trại
mồ côi, và ngoài mặt làm ra như không có quan hệ gì ca Cảnh bá tước 150
Trang 29Bezukov bắt cô nông nô Acxiusa về làm tì thiếp, cô bỏ trốn và bị bắt lại
Pie bênh vực cô liền bị người cha đuổi thẳng cánh Hoặc đó là cảnh các
sĩ quan ngược đãi, hành hạ lính tráng một cách tàn bạo, vô cớ, cảnh bình
lính nổi loạn chống lại sĩ quan, như cảnh Đoron chống lại Nicolas Các nhân vật như Ple thì có tư tưởng cách mạng, từng phát biểu rằng hiến
pháp và quyền dan chủ không thể do ai ban phát mà phải giành lại
Những chỉ tiết ấy về sau đều bị tước bỏ hết, chỉ để lại có cảnh nổi loạn yếu ót của Bogutrarov mà thôi Cảnh này không thể bỏ đi được là vì nó
gắn với sự phát triển quan hệ giữa Maria vA Nicolai Roxtov! Vi sao như
vậy? Có thể vì tư tưởng nhà văn ở những năm 80, vẫn còn hy vọng xây
đựng quan hệ có đi có lại giữa hai giai cấp Nhưng cái chính là khuynh
hướng và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo của Chiến tranh uà
hòa bình, chất xi măng kết đính toàn tiểu thuyết, cái tư tưởng chì phối
sự vận động cốt truyện và miêu tả số phận các nhân vật là niềm tin say đấm của tác giả vào tư tưởng cho rằng thời đại mà ông miêu tả là thời đại nảy nổ cao nhất của đạo đức nhân dân, là thời kì phục hưng của toàn dân Nga, đã đưa họ tới chiến công cứu nước Theo nhà nghiên cứu, đổi với Tolstoi, nhiệm vụ quan trọng nhất của tiểu thuyết là thê hiện tư
tưởng về nhân dân, về sức mạnh của họ, lòng dũng cảm và chiến công
của họ trong cuộc chiến tranh vệ quốc 1812 Việc miêu tả sâu đậm sự dau khổ của nhân dân dưới chế độ nông nô sẽ làm phương hại cho tư tưởng
về sự thống nhất của nhân dân, nên phải lùi xuống hàng thứ yếu Đó là
một sự hy sinh cho chủ đề quan trọng nhất của nhà văn Di nhiên là trong toàn tác phẩm vẫn thấm nhuần tỉnh thần dân chủ và dân tộc đậm
đà, bởi vì tác giả đã đặt nhân dân ở một vị trí rất cao Như vậy nghiên
cứu quá trình sáng tạo cho thấy khuynh hướng tư tưởng nhà văn và sự
chọn lựa bắt buộc của ông Yếu tố phê phán vốn là đặc điểm chủ yêu của
tư duy nghệ thuật của L Tolstoi trong tac phẩm này mặc dò cũng tạo nén
một tuyến thế sự, nhưng không có địa vị nổi bật hàng đầu
Quá trình nảy sinh, phát triển và thể hiện ý đồ thưởng bộc lộ rõ cách
lí giải và hình thức khái quát nghệ thuật của tác gia Chang han, qua
trình sáng tạo tác phẩm Sự nghiệp dong ho Actamonov cua M.Gorki Theo V.A Macximova, trên cơ sở các tư liệu khách quan cho biết, y đồ
tiểu thuyết bộc lộ đầu tiên vào năm 1904 trong một cuộc trò chuyện với
Lol
Trang 30L.Tolstoi: Gorki muốn viết tiểu thuyết về lịch sử ba thế hệ, về quy luật
thoái hóa của các nhân cách cá nhân tư sản, dựa trên cơ sở quen biết và tìm hiểu một gia đình tư sản gồm ba thế hệ có thật Tolstoi đã nhiệt tình khuyến khích Tới 1907, trong một bức thư Gorki bày tổ muốn thể hiện
“cái chết của thế giới cũ và sự ra đời của thế hệ mới” Đó là một bước tiến
mới trong ý đề Thời này, ông viết thiên tiểu luận Sự sụp đổ của cá nhân
(1908), và xác định rõ chủ đề “ba thế hệ của gia đình tư sẵn” Trong một
lan gặp Lênin ở dao Capri, M.Gorki lại nói với Lênin ý để mơ ước của
mình Lênin tán thưởng, khuyến khích, nhưng lại lo ngại không biết sẽ
kết thúc tiểu thuyết như thế nào, bởi vì hiện thực chưa cung cấp được cái
kết cho nó Bản thân Lênin cũng chưa thấy nó Lênin khuyên, tiểu
thuyết đó chỉ nên viết sau khi cách mạng thành công, còn lúc bấy giờ chỉ
nên viết cái gì tựa như Người mẹ Theo tài liệu năm 1914 nhà văn bắt
đầu khởi thảo và dự báo sẽ in tiểu thuyết Actamonov vào các số đầu của
tạp chí Biên niên năm 1917, Nhưng cũng không thành Quyển sách của
Lênn xuất bản 1917 Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn mới nhất của chủ nghĩa tư bản (Về sau gọi là “Giai đoạn tột cùng” đã ảnh hưởng quan
trọng tới ý đồ của tác giả, đưa vấn để lịch sử thế hệ vào vấn đề lịch sử
giai cấp và kết hợp tư tưởng đấu tranh giai cấp vào tư tưởng thế hệ, trong
đó sự tiếp nối của các thế hệ trong gia đình người thợ dệt Marozov là
trung tâm kết cấu cuả tác phẩm Mỗi thế hệ tượng trưng cho một giai
đoạn phát triển về ý thức chính trị của giai cấp vô sản Nga Người ông
Borix thần phục và vâng phục chủ Người con đã bất mãn, nhưng kìm
nén Người cháu Zakha thì căm thù, muốn đổi thay địa vị xã hội) Tiểu
thuyết viết trong một năm, từ mùa xuân 1924 đến mùa xuân năm sau
và tháng 10 năm 1925 thì sửa chữa xong tại Xorento (Italia) Toàn bộ
quá trình sáng tác thể hiện sự hình thành tư tưởng về lịch sử giai cấp và
đổi sánh giai cấp Gia đình tư sản bình yên, ngọt ngào, thịnh vượng, xí
nghiệp mở rộng, làm ăn phát tài, nhưng cuộc sống bóc lột làm họ giảm
sút đần năng lực sáng tạo, năng lực lao động và mơ ước tương lai Trước
sự khoẻ khoắn của những người công nhân, họ dự cảm thấy mối nguy hiểm Nhà văn thay đối tình tiết và bổ bớt dần các tuyến phụ để làm nổi
bật tư tưởng đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản Trong di ban dau
người đại diện cách mạng là anh thợ lò Vaxili Trong bản cuối cùng,
152
Trang 31người đó là Zakha, cháu nội của Borix Marozov, làm cho tư tưởng tiến
hóa giai cấp nổi bật hơn Trong di bản đầu khi Ple hỏi ai là chủ, Tikhon
trả lời là Zakha nhưng trong bản cuối cùng, câu trả lời là giai cấp công nhân Ở đây quan niệm diển hình giai cấp được thể hiện trong dạng thuần tuý và sáng rõ một cách cổ điển
Nghiên cứu sự hình thành tác phẩm, nhất là tác phẩm lớn, cần phải nêu bật vai trò bản lĩnh của tác giả Quan niệm duy vật tầm thường lập luận rằng tác phẩm được tạo ra không phải do một mình tác giả mà còn do.cuộc sống, đo thời đại, từ đó cho rằng cái quan trọng không phải là tác
giả nhằm vào đâu mà là xem anh ta rơi vào đâu, ngả về phía nào Nghĩa
là tác phẩm không do con người sáng tạo, mà là do thời đại sáng tạo, ít
nhất là về phương diện tư tưởng, khuynh hướng Thực ra đó chỉ là quan
niệm xem nhẹ yếu tố con người, bản lĩnh con người Lịch sử sáng tao Sông Đông êm đềm của Sholokhov có thể nói là lịch sử của một bản lĩnh lớn Theo L.Iakimeneo, chuyên gia về M Sholokhov cho biết thì tiểu
thuyết được bắt đầu sáng tác từ 1925, khi M.Gorki vừa kết thúc tiểu thuyết Sự nghiệp dòng họ Actamonov và bắt đầu sáng tác sử thi Cuộc đời Clim Samghim Van hoc X6 Viết những năm 20 cũng vừa hình thành những phong khí của nó Mọi vấn đề - Tổ quốc và cách mạng, con người
và lịch sử, tự đo và tất yếu, nhân đạo và nghĩa vụ, giai cấp và nhân loại đều mang nội dung lịch sử cụ thể và mất đi tính chất vĩnh hằng, đều để cập tới các vấn đề chính trị có tính chất bùng nổ Các nhà văn tập trung
ca ngợi cách mạng, ngợi ca nhân dân cách mạng (tự phát hoặc tự giác),
ngợi ca nhân vật quần chúng, r rồi những anh hùng nổi lên từ quần chúng theo một phong cách lãng mạn, ước lệ Tiếp tục chủ đề “nhân dân va cách mạng” đương thời, nhưng M Sholokhov không chỉ ca ngợi mà muốn phát hiện các quy luật của cách mạng, trình bày ảnh hưởng của cách mạng tới
số phận mọi mặt của đời sống nhân dân Nhưng ý đồ đó không hình thành tức khắc và được khẳng định một cách đễ dàng Thoạt đầu ông định viết một tiểu thuyết miêu tả việc dân Côdắc tham gia cuộc phiến
loạn phần cách mạng của tướng Cornilov về sau tạo thành quân đoàn kị binh số 3, lay tén 1a Dan sông Đông, trong đó các đẳng viên cộng sản tuyên truyền ngoài mặt trận, có sĩ quan vô chính phủ, có các cảnh chiến
đấu như phần đông tiểu thuyết đương thời Nhưng ông mới viết được chừng 3 - 4 td in (khoảng 50 - 60 trang) thì bỏ đở vì nhận thấy người ta
153
Trang 32sẽ không hiểu vì sao phần lớn dân Côdắc lại tham gia đấu tranh chống lại cách mạng Tác giả phải trở về với cội nguồn lịch sử của nó, với thời
kì trước chiến tranh và tìm được Grigorl và gia đỉnh Melekhov Tiểu thuyết được dự định thành sử thi 4 tập về Cách mạng tháng Mười, về nội
chiến và về số phận lịch sử của người Côdắc sông Đông và lấy tên là Sông Đông êm đêm Tập IĨ in vào cuối năm 1928 đã gây chấn động lớn vì sự miêu tả sự kiện lịch sử đã kết hợp thoải mái với việc miêu tả cuộc sống
riêng tư và sinh hoạt hàng ngày của nhân vật Nhất là nó kết thúc với
việc những người lãnh đạo uỷ ban Xô Viết nhân dân sông Đông bị hãm hại, Grigori đi theo quân bạch vệ Chỉ nhờ sự can thiệp của Xerafimovich
mà nó mới được in Từ năm 1929 đến đầu những năm 30, tác giả phải
chịu đựng sự tấn công, phê bình từ nhiều phía Các nhà phê bình thuộc Hiệp hội các nhà văn vô sản Nga (RAPP) chỉ trích tác giả đã xa rời xã hội
Xô Viết, bảo vệ bọn Culắc Có người lên án “hệ tư tưởng Culắc” của nhà
văn, phê bình việc lấy một trung nông làm nhân vật trung tâm, gọi nhà văn chỉ là “bạn đường”, quy ông vào tầng lớp giàu có của dân Côdắc, không công nhận tác phẩm là văn học vô sản Ngay cả Phadeev bên cạnh những đánh giá đúng đắn vẫn chê tác phẩm “mang tính chất địa
phương”, sa vào “mô tả sinh hoạt hàng ngày” Các cơ quan Đảng và báo
Sự thật nhiều lần phát biểu ý kiến bảo vệ tác giá, nhưng điều đó hoàn
toàn không làm cho việc sáng tác được dễ đàng Cuối năm 1929 người ta
đưa tin Sholokhov đang hoàn thành tập HII Sông Đông êm đêm Việc in
cuốn này gặp khó khăn lớn, là vì phần 6 kể về cuộc khởi nghĩa của dân
vùng Thượng sông Đông năm 1919 Đó là cuộc khởi nghĩa có tới ba vạn rưỡi người tham gia với 25 đại bác và hơn 100 súng máy
Các nhà lịch sử chưa nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của sự kiện đó Tác giả nhận định nguyên nhân của nó là do chính sách đối với trung nông quá đáng và do bọn phản động ĐêmIn lợi dụng Trong phê bình có ý định phủ nhận là có sai lầm đó Nhà văn Phadeev để nghị sửa
chữa nhiều, cắt bỏ tới 3/4 cuốn sách, Sholokhov không chấp nhận, Thêm
vào đó là có dư luận cho rằng Sông Đông êm đêm la tac pham An cap Quả là có một người tên là X.GolouseV viết tác phẩm ký sự lấy tên là
Sông Đông êm đêm kể về sinh hoạt vùng sông Dong, có nhắc tên
Cornilov, Kaledin vì vậy mà có tin đồn kia Nhà văn rất đau khổ Nếu
không in được tap II], ngudi ta càng có cớ cho là ông ăn cắp tác phẩm
Trang 33người khác, nay hết vốn, không viết tiếp được Ông phải viết thư nhờ
Gorki can thiệp mới in được (1933) Nhưng cái chính là tác giả không
thay đổi khuynh hướng tái hiện sự thật lịch sử, kiên trì một phong cách nghiêm ngặt chống lại cách hiểu thô thiển về khuynh hướng xã hội chủ
nghĩa của tác phẩm Chẳng hạn có đoạn Solokhov miêu tả các kỊ sỹ hồng quân ngồi ngất ngưởng dị dạng trên những chiếc yên của đội kị binh đã
bị giới phê bình dung tục bắt bẻ: “Ai? Hồng quân mà ngồi dị dạng à? Sao
lại có thể miêu tả Hồng quân như thế” Tác giả im lặng trước các chi
trích kiểu đó Báo Tửn tức tháng 3 - 1935 đưa tin tập IV đã hoàn thành,
nhưng tác giả sửa chữa mãi, cái chính là nội dung dé cương về sự phát
triển của số phận các nhân vật Dư luận phê bình từ cuối những năm 20
đã khá nhất trí về cái kết tương lai của tiểu thuyết là Grigori cần phải
chạy theo Hồng Quân Năm 1935 tác giả khẳng định: “Số phận Melekhov
rất cá biệt, tôi không hể xem anh ta là hiện thân của tầng lớp Côdắc bậc
trung Tôi phân biệt anh ta với bọn bạch vệ, nhưng cũng không biến anh
ta thành bônsêvích” Thậm chí có bài báo nhân danh độc giả viết: “Người đọc không muốn tin Melekhov là hư cấu Họ tin anh ta sống thực sự, làm
việc ở nông trang, anh ta vào Hồng quân, tham gia tập thể hóa nông
nghiệp ở Thượng sông Đông” Lập trường cua nha van trái lại: “Tôi muốn
có một cái kết chân thực” (1935) Cho đến 1-1939 thì bản thảo tập IV được sửa chữa xong, đầu năm 1940 được công bố trên tạp chí Thế giới
mới Trong khoảng 1940 - 1941 trong giới phê bình vẫn có ý kiến đánh giá nhân vật Melekhov qua ba giai đoạn: ban đầu là điển hình, khoảng giữa là cá biệt, và cuối cùng là không điển hình! Theo họ, muốn cho điền hình thì Melekhov phải hoặc là trở thành bônsêvich, hoặc là trở thành sĩ quan bạch vệ Rõ ràng là tác giả phải tự đấu tranh rất nhiều để kiên trì cái kết của ông, quan niệm của ông
Lịch sử sáng tạo Sông Đông êm đêm không chỉ là lịch sử sáng tạo
một thế giới nghệ thuật mới, phong cách mới, mà còn là lịch sử khắc phục
những sự trì trệ trong cảm thụ nghệ thuật, khắc phục những quan niệm giản đơn về quá trình lịch sử, những công thức cứng nhắc, là quá trình khẳng định tư tưởng viết sự thật trong văn học Xô Viết Lịch sử sáng tạo
tác phẩm như vậy trước hết không phải giản đơn chỉ là vấn để “lao động”,
“trau đổi”, không chỉ là công việc “bếp núc”, mà còn là sự đấu tranh, va
=
155
Trang 34chạm của các quan niệm sáng tác và quan điểm thẩm mĩ Nó phải tính
đến mọi tác động của đời sống tư tưởng xã hội, nhất là của môi trường văn học đương thời
(Trần Đình Sử Nghiên cứu lịch sử sáng tạo tác phẩm như là một uấn đề khoa học
Trong tập Văn học uà thời gian Nxb Văn học Hà Nội 2000)
156
Trang 35TÀI LIỆU THAM KHẢO
A,Xâytlin Lao động nhà oăn Hoài Lam, Hoài Lä dịch Nxb Văn
học Hà Nội 1968 2 tập
M.Arnaudov Tâm lí học sáng tạo uăn học Hà Nội 1978
Khâu Chấn Thanh Lí luận uăn học cổ điển Trung Quốc Mai
Xuân Hải dịch Nxb Giáo dục Hà Nội 1994
M.B.Khrápcheneô Cá tính sáng tạo của nhà uăn uà sự phát triển
của uăn học Nxb Tác phẩm mới Hà Nội 1978
.LLVưgốtski Tâm lí học nghệ thuật Phan Vĩnh Cư dịch Nxb Trường viết văn Nguyễn Du Hà Nội 1992
Nguyễn Công Hoan Chân dung van hoc Nxb Hội nhà văn Hà Nội 1992
Tô Hoài Sổ ¿ay uiết uăn Nxb Tác phẩm mới Hà Nội 1997
Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên Các nhà uăn bàn uề uăn (2 tập)
Nxb Tác phẩm mới Hà Nội 1992
15i
Trang 36Chương V
TIẾD NHẬN, THƯỜNG THỨC VÀ DHÊ BÌNH VĂN HỌC
Mục tiêu:
- Hiểu các uấn đê tiếp nhận, thưởng thức, phê bình uăn học Phân biệt
ba khái niệm trên uới nhau
- Có ý thức uề uai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của người đọc đối
UỚI Uăn học
- Hiểu được uai trò của phê bình uăn học trong đời sống, tiêu chuẩn, phê bình uăn học uà phương pháp phê bình uăn học nói chung
1 NGƯỜI ĐỌC VÀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC
1.1 Vai trò, ý nghĩa của tiếp nhận 0uăn học
Tiếp nhận văn học là hoạt động “tiêu dùng”, thưởng thức, phê bình văn học của độc giả thuộc nhiều loại hình, nhiều trình độ khác nhau Có
sáng tác văn học thì đĩ nhiên có tiếp nhận văn học và chính sự tiếp nhận
dã tác động ngược trở lại sáng tác, khiến cho cả hai thực sự góp phần
làm thỏa mãn nhu cầu tỉnh thần, nhu cầu thẩm mĩ của con người trong
cuộc sống
Để hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của tiếp nhận văn học, cần phải đặt nó
vào hệ thống đây chuyển sản xuất - tiêu dùng các sản phẩm tỉnh thần, các giá trị văn hóa thẩm mĩ và trước hết phải nhìn ra đặc trưng riêng của
tác phẩm văn học - đối tượng của sự tiếp nhận Tác phẩm văn học là một
qua trinh (hay nói cách khác là một hiện tượng động), không nhất thành
bất biến, có sự mở rộng ý nghĩa hầu như vô tận nhờ độc giả Đầu tiên, tác phẩm “tượng hình” trong cõi tỉnh thần của nhà văn Nhờ hoạt động tích
cực của các năng lực tư duy và các cơ chế tâm lí, bằng vào việc tìm kiếm
159
Trang 37ráo riết các phương thức và phương tiện biểu hiện tối ưu, nhà văn đã cho
ra đời những sản phẩm có thể phản ánh được “sự thật” cuộc đời theo
quan niệm nghệ thuật của anh ta, hơn nữa, phần ánh được trọn vẹn mội
ý thức mang sẵn tình thần đối thoại, mời gọi sự đối thoại (tức là mời gọi
sự cảm thông, chia sẻ, tán đồng, phản bác nhằm đạt tới chân lí Sản
phẩm sáng tạo này thường được gọi là tác phẩm, mà theo các nhà lí luận tiếp nhận, để đảm bảo tính chặt chẽ trong việc dùng khái niệm, nên gọi
là văn bản Văn bản không trùng khít với tác phẩm Nó mới chỉ là một giai đoạn tôn tại của tác phẩm, hay nói cách khác, nó là tiền để, điểu kiện
khách quan của sự tổn tại của tác phẩm Văn bản có thể hiện hữu bằng
âm thanh hay bằng một tập hợp những ký tự, bằng cuốn sách có trọng lượng, thể tích riêng mà người ta có thể cm lên, giở ra, xem và đọc _Nhưng điều quan trọng hơn cả, nó là một cấu trúc ký hiệu đa tầng ý
nghĩa, một “sơ để” chứa đựng nhiều “điểm không xác định” (các thuật
ngữ của R, Ingarden), một “đề án tiếp nhận” (thuật ngữ của H là Jauss), một “kết cấu vẫy gọi” (thuật ngữ của W Iser), một “mã nghệ thuật”
(thuật ngữ của M Markov) Văn bản ra đời có nghĩa là một giai đoạn
tn tại của tác phẩm được khép lại để một giai đoạn tổn tại mới bắt đầu
Từ đây, tác phẩm bước vào cuộc phiêu du đầy thú vị mà không thiếu
phần oái oăm, trong sự tiếp nhận của người đọc, bất chấp ý muốn tác giả,
vượt ngoài tầm kiểm soát của tác giả Tất nhiên, đó mới là một khả năng
có thể xảy ra, vì nếu không có sự tiếp nhận văn học đích thực, "y nghĩa”
của tác phẩm rất dễ b1 khuôn lại ở khía cạnh vật chất: một tiếng ồn lẫn
vào muôn tiếng ồn khác (nếu đó là văn bản nói), một vật thể có thể được
dùng để gối đầu, gói hàng, làm chất đốt (nếu văn bản được 1n thành
sách hoặc trên báo) Như vậy, nguy cơ những ý nghĩa, những gia tri
phong phú tiểm phục trong văn bản bi bd phi, bi lang quên luôn luôn
xuất hiện trong lịch sử, khiến cho vận số của tác phẩm rất có thể trở nên
hấm hiu một cách đáng buồn
ân biệt với việc sử dụng
Tiếp nhận văn học có những nét đặc thù, ph : ¬~
tế học, ca hai các sản phẩm vật chất, mặc dù, dưới góc nhìn của kinh
cùng thuộc phạm trù “tiêu dùng” hoặc “tiêu thụ”, có ý nghĩa chung là
kích thích nhu cầu sản xuất, hoàn tất hoạt động sản xuất và chứng mình
giá trị có thật của sản phẩm Khi sử dụng các san phẩm vật chất, người
160
Trang 38ta chu yếu (chứ không phải chỉ có) quan tâm đến các thuộc tính sẵn có
của tự nhiên được bảo tổn, được “khai thác” một cách thông minh trong
đó (như vẻ trơn, mát, mồng, nhẹ của lụa tơ tầm, vẻ ấm, mềm của bông vai ) hoặc khả năng chúng làm thỏa mãn nhu cầu vật chất của con
người (như khả năng dùng để ở của ngôi nhà, khả năng giúp người ta đi
lại thuận tiện của chiếc ô tô ) Ngược lại, khi đến với tác phẩm văn học
- một sản phẩm tình thần, cái được người tiếp nhận chú ý hơn hết là thế
giới tỉnh thần được hàm chứa, biểu lộ thông qua những “chất liệu” cảm
tính, cụ thể, đồng dạng mà không đồng nhất với những thuộc tính của
thế giới tự nhiên, và cuối cùng là thông qua các phương tiện vật chất nghe thấy, nhìn thấy và cầm nắm được Chính nét đặc thù này của tiếp
nhận văn học được xác lập trên cơ sở của một sự “thỏa thuận” lâu đơi giữa người đọc với tác phẩm cùng toàn bộ các dấu hiệu khu biệt của nó Như vậy, một sự tiếp nhận văn học đích thực đồng nghĩa với việc làm
sống dậy khách thể tỉnh thần của tác phẩm, biến nó thành năng lực tư duy, cảm nhận, xúc cảm của chính người tiếp nhận, thành một yếu tố của
đời sống ý thức xã hội Chừng nào người ta chưa nhìn ra cái gì Ấn chứa
bên trong cái vỏ “vật chất” của hình tượng văn học hoặc chỉ biết khai thác
ở hình tượng các bằng chứng về dân tộc học, lịch sử, kinh tế học, xã hội
học thì chừng ấy sự tiếp nhận chưa xảy ra hay mới chỉ đạt tới một trình
độ r rất thấp, chưa thực sự tạo được môi trưởng sống cho tác phẩm
Nói tóm lại, tiếp nhận văn học có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn tất quá trình sáng tác - giao tế của văn học Nhờ tiếp nhận, hoạt động sáng tạo nghệ thuật trở nên có ý nghĩa, có mục đích và những giá trị chân chính của tác phẩm được bảo tồn, được phát triển phong phú thêm lên, trở thành một yếu tố hiện thực, một nhân tố tích cực của đời sống tỉnh thần con người
1.9 Tính tích cực, sáng tạo của người đọc va tỉnh khách quan
của tác phẩm
Nói đến vai trò của tiếp nhận văn học tức cũng là nói đến vai trò của
người đọc Người đọc g1úp tác phẩm di hết vận số của mình và với chức
năng này, anh ta trở thành một nhân tố không thể thiếu được của quá
trình văn học Tất nhiên, muốn trở thành nhân tố của quá trình văn học,
Trang 39
người đọc phải tiếp nhận tác phẩm bằng tất cả tính tích cực, sáng tạo của
mình và tính tích cực, sáng tạo ấy lại chỉ có thể được khởi động, phát huy
trên một nền tảng nhất định Không phải cứ biết chữ là đọc được tác
phẩm Để đọc được nó phải có vốn sống và những kinh nghiệm nghệ
thuật nhất định, bao hàm trong đó sự hiểu biết về tính đặc thù của ngôn
từ văn học, hình tượng văn học, cấu trúc riêng của từng thể loại, đặc
điểm phong cách, thi pháp của từng nền văn học, từng trào lưu, từng tác
giả Hơn thế, kinh nghiệm nghệ thuật không phải là cái gì cố định mà
nó có sự mở rộng, phát triển không ngừng theo dòng chảy sống động của
văn học và theo mức độ tự đổi mới mình của độc giả (xin lưu ý đây là yêu
cầu đối với phạm trù người đọc nói chung, chứ đối với từng người đọc cụ
thể, sự đòi hỏi cao như thế nhiều khi là chuyện không thô)
Khi đã có được một nền tảng hiểu biết về văn học như vừa nêu,
người đọc có điều kiện thuận lợi thể hiện tính tích cực, sáng tạo cùng bản lĩnh, nhân cách của mình trong tiếp nhận Người ta thường nói ngươi đọc
là người đồng sáng tạo với tác giả Thực ra, theo M.B Khrachenko, đồng sáng tạo chỉ là “một ấn dụ thi vị hơn là một khái niệm được luận chứng
về mặt khoa học”1, bởi bản chất của sự sáng tạo ở tác giả và người doc la khác nhau Sáng tạo ở người đọc là sáng tạo trong tiếp nhận, sáng tạo trên nền của một sáng tạo khác nhằm mục đích hiểu, thưởng thức, lí giải, bình giá tác phẩm, khai thác từ tác phẩm những giá trị tinh than có ích
cho mình và cho đời sống ý thức xã hội, và bằng cách đó, làm cho tác
phẩm thực sự sống một, cuộc sống đầy ý nghĩa
Đầu tiên, tính tích cực, sáng tạo của người đọc thể hiện ở chỗ: trong khi tiếp nhận tác phẩm anh ta đã lấp đầy những “khoảng trống” mà nhà văn có ý thức hoặc vô tình tạo nên (bởi hoạt động sáng tác luôn có sự chì phối của yếu tố vô thức) Người đọc, bằng hoạt động liên Lưởng, tưởng
tượng của mình, đã cụ thể hóa cấu trúc ký hiệu tác phẩm, làm phát lộ
những hàm ngôn, những ấn ý tiểm tại trong “mạch lạc” của nó, làm dậy lên tiếng nói của những khoảng lặng, tìm ra cái lôgích của những kết nối
1 M.B Khrapchenko Sdng tạo nghệ thuật, hién thie, con ngUuor- NXB Khoa hoc xa
hội HN 1984 tr 297
162
Trang 40bất ngờ Ở cấp độ cao hơn, người đọc phát hiện ra những ý nghĩa mới
của tác phẩm cùng những mối liên hệ chỉnh thể tương ứng với chúng Sự
phát hiện này, dù khi làm sửng sốt chính người đã đẻ ra tác phẩm, vẫn
có giá trị và không dễ bác bỏ Cấp độ sáng tạo này trong hoạt động tiếp nhận chính là yếu tố then chốt tạo nên sức sống trường cửu của tác phẩm văn học, của hình tượng văn học Tại sao người đọc lại có thể cố được
những phát hiện mới về tác phẩm như trên vừa nói? Đó là vì khi tiếp
nhận văn học, người đọc đã đưa tác phẩm vào ngữ cảnh riêng của mình, tức là một môi trường được tạo lập nên bởi rất nhiều yếu tố có mối quan
hệ qua lại ràng rịt: kinh nghiệm cá nhân, kinh nghiệm tập thể (cả về đời
sống lẫn nghệ thuật), tính đặc thù của thời điểm tiếp nhận hay chiều
hướng tiếp nhận mà người đọc cùng thời đại khi đồ mong muốn Ngữ
cảnh luôn luôn biến đổi trong thời gian và không gian theo sự biến đổi
của từng trường hợp đọc, do vậy, không có gì khó hiểu khi ta thấy tác
phẩm luôn được phát hiện lại, có thêm chiều kích, tầm vóc, ý nghĩa mới
Cơ hội sáng tạo của từng người đọc cụ thể luôn còn đó, chẳng sợ bị ai (trừ
chính anh ta) tước đoạt Dĩ nhiên, từng tác phẩm cũng có ngữ cảnh riêng của mình (tức là mạng lưới những “giải trình ngôn ngữ”, những văn bản
có trước, chỉ phối sự xuất hiện của nó với tư cách là một tiểu hệ thống mới - J Kristeva) đồi phải được tôn trọng Thêm nữa, ngữ cảnh này lại hình thành trong mối quan hệ phối thuộc, tương tác với ngữ cảnh của tác giả (được tạo nên trên cơ sở những đữ kiện đời sống và nghệ thuật riêng)
ở từng trường hợp sáng tác cụ thể Như vậy, cần nhấn mạnh thêm rằng sáng tạo, phát hiện của người đọc chỉ thực sự có ý nghĩa, thực sự làm giàu cho tác phẩm và cho chính đời sống tỉnh thần anh ta trong trường
hợp có cuộc đối thoại nghiêm túc giữa ngữ cảnh của tác phẩm (bao hàm trong đó ngữ cảnh tác giả) và ngữ cảnh của người đọc, tức cũng là giữa các nhân cách, các cá nhân, các chủ thể (hiểu theo tư tưởng của M.M Bakhtin)
Nhấn mạnh tính tích cực, sáng tạo của người đọc, như phần nào đã
nói, không có nghĩa là coi thường fính khách quan của lác phẩm Đã tôn
tại một số quan niệm thiên lệch, cực đoan (bị trộn lẫn với những phân tích đúng đắn) về vấn để này như quan niệm cho tác phẩm chỉ là một cái bình dùng để đựng và chuyển đổi những chất chứa khác nhau (A.G
163