1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

hệ thống kiến thức lịch sử Đảng

46 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống kiến thức lịch sử Đảng
Tác giả Đào Châu Anh
Trường học Trường Đại học Lao động Xã hội - Cơ sở 2
Thể loại tóm tắt
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 330,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu tóm tắt những kiến thức lịch sử Đảng được trình bày hệ thống theo các mốc thời gian thứ tự lần lượt để giúp các bạn sinh viên, người học dễ dàng học tập, ôn luyện cho kỳ thi và mục tiêu của mình.

Trang 2

04 Đào Châu Anh

 Năm 1917, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác -Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người; là ánh sáng soi đường cho các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

 Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát triển mạnh

mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sảnViệt Nam

b Bối cảnh trong nước

 Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập bộ máy thống trị,

biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc

nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác” Chính sách thống trị của

thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi

 Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối

nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là một chính sách chuyên chế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do bị cấm Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành

ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng

 Về kinh tế, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách bóc lột tàn

bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa

 Về văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, chúng bưng bít, ngăn cản ảnh

hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu

 Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt.Phần lớn giai cấp địachủ cấu kết với thực dân Pháp ra sức bóc lột nông dân; một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau Các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước

và đều bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép nên đều căm phẫn thực dân Pháp Do đó, mẫuthuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này, không chỉ là mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ

Trang 3

yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, mà đã nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược.

 Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của quần chúng chống thực dân Pháp xâm lược diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường lối cách mạng

 Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra liên tục và mạnh mẽ Tuy nhiên do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại Phong tràoyêu nước theo ý thức hệ phong kiến như phong trào Cần Vương đã chấm dứt với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896); phong trào nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc Cuộc khởi nghĩa Yên Bái

do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại,…Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước

Câu 2 Phong trào yêu nước trước khi thành lập Đảng?

 Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Támthập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám

1945 thành công, xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam); đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc

 Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại chúng Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống Pháp đã nổ

ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học lãnh đạo Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và đều thất bại

 Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh là do những người đứng đầu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam Cách mạng nước ta đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước Việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn,phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ

 Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm con đường cứu nước Người đã qua nhiều nơi trên thế giới, vừa lao động, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Mỹ), tích cực tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp

Từ ngày 6-l đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam;

Trang 4

thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng.

 Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của

sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn

bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu

là đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

Câu 3: Vai trò của Nguyễn Aí Quốc đối với sự thành lập ĐCS?

Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc triệu tập thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản

Nửa cuối năm 1929, đầu năm 1930, ở Việt Nam xuất hiện 3 tổ chức cộng sản là Đông DươngCộng sản Đảng (thành lập tháng 6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (thành lập tháng 10/1929) vàĐông Dương Cộng sản Liên đoàn (thành lập tháng 1/1930) Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản đãchứng minh sự thắng thế của xu hướng cộng sản trong phong trào cách mạng Việt Nam

Ba tổ chức cộng sản ra đời tiếp tục thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước pháttriển mạnh mẽ Các chi bộ của các tổ chức cộng sản đã trực tiếp lãnh đạo các cuộc đấu tranh củaquần chúng ở nhiều xí nghiệp, đồn điền Từ tháng 4/1929 đến tháng 4/1930 có 43 cuộc bãi côngcủa công nhân Phong trào đã có sự phối hợp hành động thống nhất giữa các cuộc đấu tranh, giữacác địa phương trong cả nước

Tuy nhiên, 3 tổ chức cộng sản lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, không cólợi cho cách mạng Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam,ngày 5/3/1930, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Khoảng tháng 5/1929, Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên họp hội nghị toàn quốc Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức ngay một Đảng Cộng sản.Các đại biểu khác đề nghị sau này hãy tổ chức Nhóm Bắc Kỳ bỏ hội nghị ra về và tổ chức mộtđảng (Đông Dương) Một số khác, sau đó đã tổ chức một đảng khác (An Nam) Đó là mối bấthoà đầu tiên Nhóm Bắc Kỳ tìm hết cách để phá hoại Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vì họcho rằng: hội đó quá đông và cơ hội chủ nghĩa nên nó có thể làm lu mờ ảnh hưởng và công táccủa Đảng Cộng sản trong quần chúng Nhóm An Nam ra sức giữ cho Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên tiếp tục hoạt động vì họ cho rằng: Hội có thể lợi dụng để tập họp tầng lớp trí thức vàgiai cấp tiểu tư sản Đó là mối bất hoà thứ hai Cả hai đều cố thống nhất nhau lại, nhưng càng cốgắng bao nhiêu thì càng hiểu lầm nhau bấy nhiêu và hố sâu ngăn cách ngày cũng rộng ra bấynhiêu”(1)

Sự chia rẽ, mất đoàn kết đã làm phân tán sức mạnh chung của phong trào, điều này nếu để lâu sẽkhông có lợi cho cách mạng Yêu cầu của cách mạng Việt Nam lúc này phải thành lập ngay mộtĐảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam để tiếp tục đưa cách mạng tiến lên

Nắm được tình hình của cách mạng Đông Dương, với vai trò là một tổ chức lãnh đạo phong tràocộng sản và công nhân quốc tế, Quốc tế Cộng sản đã chỉ thị cho những người cộng sản ở ĐôngDương về việc phải thành lập ngay một Đảng Cộng sản Thư gửi những người cộng sản ĐôngDương ngày 27/10/1929, Quốc tế Cộng sản nêu rõ: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả nhữngngười cộng sản Đông Dương là thành lập một Đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp

Trang 5

vô sản, nghĩa là Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương Đảng đó chỉ có một và

Tài liệu nói trên của Quốc tế Cộng sản là một văn kiện chính trị rất quan trọng đối với nhữngngười cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ Tuy nhiên, tài liệu này được bí mật gửi qua đường liên lạccủa Đảng Cộng sản Pháp nên mãi đến tháng 2/1930 mới đến được Sài Gòn, chuyển cho Xứ ủyNam Kỳ

Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động tại Xiêm Người vẫn thường xuyên theo dõitình hình của cách mạng Việt Nam Sau khi nhận được tin tức về sự chia rẽ của cách mạng ViệtNam, mặc dù chưa nhận được Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, song Nguyễn Ái Quốc đã chủ độnglên đường đi Trung Quốc, viết thư gửi các tổ chức cộng sản để bàn về vấn đề hợp nhất Trong báocáo gửi Quốc tế cộng sản ngày 18/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết: “tôi đi Trung Quốc, tới đó vàongày 23/12 Sau đó, tôi triệu tập các đại biểu của 2 nhóm Đông Dương và An Nam, chúng tôi họp

Nhận được thư triệu tập của Nguyễn Ái Quốc, các đại biểu của 2 tổ chức lập tức lên đường Cácđại biểu đều rất vui mừng vì nghĩ sẽ được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc, người mà tất cả đã

“biết từ lâu nhưng chưa từng gặp mặt… Từ lâu, chúng tôi vẫn ao ước có một người mà ai cũngphải thừa nhận là vô tư, là hiểu biết sâu rộng về cách mạng hơn hẳn chúng tôi, để nhận xét vàgiúp chúng tôi giải quyết mọi vấn đề phức tạp Người đó chính là đồng chí Vương….Chúng tôi

Như vậy, mặc dù chưa nhận được Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, song Nguyễn Ái Quốc bằngnhãn quan chính trị nhạy bén của mình đã chủ động triệu tập thành công Hội nghị hợp nhất các tổchức cộng sản Sự thành công này không phải chỉ xuất phát từ cái danh là đại diện của Quốc tếCộng sản, có quyền quyết định mọi vấn đề của cách mạng Đông Dương mà còn xuất phát từchính uy tín của bản thân đồng chí Nguyễn Ái Quốc Triệu tập thành công hội nghị là thắng lợibước đầu để Hội nghị hợp nhất được diễn ra tốt đẹp

Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc chủ trì thành công Hội nghị hợp nhất

Việc hợp nhất là vấn đề phức tạp, bởi lẽ các tổ chức cộng sản trước đây đã nhiều lần họp bàn đểhợp nhất nhưng đều không thành công Các vấn đề như hợp nhất như thế nào? tổ chức nào còn, tổchức nào mất? tên Đảng là gì? Đường lối ra sao? đều là những vấn đề rất nhạy cảm mà bản thâncác tổ chức cộng sản không thể giải quyết được Hội nghị hợp nhất cần phải có người đủ cả tâm,tầm, trí chủ trì để đưa hội nghị đi đến thành công

Thực tế là Hội nghị hợp nhất đã diễn ra rất sôi nổi với sự tranh luận gay gắt giữa cả 2 nhóm đạibiểu Đông Dương và An Nam Theo đồng chí Nguyễn Thiệu- đại biểu của An Nam Cộng sảnĐảng tham dự Hội nghị hợp nhất thì những ý kiến đầu tiên của cả hai nhóm “cũng chỉ luẩn quẩn

Khi bàn đến vấn đề hợp nhất thì cũng không bên nào chịu bên nào Bên này thì cho rằng bênkia tổ chức quá phức tạp, bên kia lại bảo bên này tổ chức vô nguyên tắc, hẹp hòi Ngay tên Đảng

là gì cũng xảy ra bất đồng chính kiến, “các đại biểu nhóm Đông Dương đề nghị giữ lại cái tênĐông Dương Cộng sản Đảng Các đại biểu nhóm An Nam không đồng ý như vậy, cho rằng đó là

có lúc gay gắt tưởng chừng như lại tan vỡ đến nơi

Trang 6

Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, trên cương vị là người chủ trì Hội nghị, bằng tàitrí và kinh nghiệm hoạt động chính trị của mình, Người đã khéo léo tháo gỡ từng bất đồng,đưa Hội nghị đi đến thành công.

Về vấn đề hợp nhất như thế nào, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn chỉ ra những sai lầm,khuyết điểm của cả hai bên Đồng chí cho rằng: “Thực ra nhóm nào cũng có cái đúng, cũng cócái sai, nhưng mục đích của cuộc họp này không phải là để chỉ trích lẫn nhau… mà mục đích duynhất của cuộc họp này là hợp nhất… Muốn thu hút hết thảy những người, những nhóm ngườitình nguyện chiến đấu cho chủ nghĩa cộng sản vào một tổ chức cộng sản thống nhất thì bây giờphải thành lập một Đảng Cộng sản mới, theo đúng đường lối, chủ trương của Quốc tế Cộng sản,

Về vấn đề tên Đảng, trước sự tranh luận gay gắt giữa hai bên, đồng chí Nguyễn Ái Quốc lại từtốn phân tích: “Đông Dương là cái tên chỉ những nước ở trên bán đảo giữa Ấn Độ và TrungQuốc, như thế gồm có Miến Điện, Xiêm La, Mã Lai, Miên, Lào và ba kỳ của nước chúng ta; chonên thường người ta muốn chỉ Miên, Lào và nước chúng ta thì dùng cái tên “Đông Dương thuộcPháp” (Indochine Française); nhưng không ai dại gì mà dùng cái tên “Đảng Cộng sản ĐôngDương thuộc Pháp” An Nam là cái tên người Trung Quốc vẫn quen dùng từ lâu để gọi nước ta;nhưng hiện tại đối với người Pháp và thế giới, trên bản đồ, An Nam chỉ là Trung Kỳ Rốt lại chỉ

có cái tên Việt Nam là đúng hơn hết và thích hợp nhất Đối với người Trung Quốc, cái tên ViệtNam cũng quen chẳng kém gì cái tên An Nam; đối với thế giới thì dần dần người ta cũng quen.Nước ta đang bị bọn đế quốc chiếm cứ, nhân dân ta phải có nhiều hành động quật khởi thì rồingười ta mới biết đến tên tuổi Cái tên “Đảng Cộng sản Việt Nam” không còn lẫn vào đâu được,

Đồng chí còn phân tích thêm: Dầu sao cái tên Đảng vẫn không phải quan trọng hàng đầu, màquan trọng hàng đầu chính là đường lối, chính sách, chủ trương và thành phần của Đảng Nhưng

vì rằng, mọi người dự cuộc họp đều tha thiết tìm cho Đảng một cái tên thật thích hợp, nên sau ýkiến đưa ra của các đại biểu quốc tế, các đại biểu hãy suy nghĩ thêm xem có tìm ra một cái tênnào tốt hơn không, và hôm sau sẽ tiếp tục bàn bạc

Có thể nói rằng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc không chỉ đúng đắn khi đặt tên Đảng mà ngay cả cáchchủ trì Hội nghị của Người cũng rất tinh tế, rất dân chủ Người không lấy cái danh cấp trên là đạibiểu của Quốc tế Cộng sản, cũng không lấy uy tín của người bề trên, tức là người thầy sáng lập raHội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để quyết định các vấn đề Người chỉ phân tích, gợi ý, đểcho các bên cùng thảo luận Chính cách điều hành hội nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã gópphần tạo nên sự thành công của Hội nghị hợp nhất Sau ý kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, cácđại biểu không ai còn ý kiến gì khác nữa Tất cả đều nhất trí với đề xuất của Người

Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc là người trực tiếp soạn thảo những văn kiện quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam

Thống nhất về tên Đảng là một vấn đề quan trọng song cũng chưa quan trọng bằng việc thốngnhất về đường lối chính trị của Đảng Trong bối cảnh cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ, sự thốngnhất về đường lối chính trị cấp thiết hơn sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức Hội nghị hợp nhất

đã thống nhất thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ

vắt tắt và Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Đặc biệt, nội dung

của Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được Hội nghị thông qua đã trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trang 7

Nội dung cơ bản của Cương lĩnh đầu tiên đã bao quát được những vấn đề chiến lược và sách lược

đối với cách mạng Việt Nam Cương lĩnh xác định: phương hướng chiến lược của cách mạng Việt

Nam là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản Nhiệm

vụ cơ bản của tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng là đánh đổ đế quốc, phong kiếngiành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, sớm hình thành tư tưởng phân hóa giai cấp địa

chủ phong kiến, tập trung đánh đế quốc và Việt gian tay sai, giải phóng dân tộc Về lực lượng

cách mạng, trên cơ sở lấy giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng chính do giai cấp công

nhân lãnh đạo, mở rộng đoàn kết với các giai cấp, các tầng lớp và toàn thể dân tộc Về phương

pháp cách mạng đó là sử dụng sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân để lật đổ ách thống

trị của đế quốc, tay sai, lập nên chính phủ cộng hòa Về mối quan hệ với cách mạng thế giới, Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới Về

vai trò của Đảng lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách

mạng Việt Nam

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng tuy vắn tắt nhưng đã xác định đúng đắn những vấn đề cơ bản vềđường lối cách mạng Việt Nam Cương lĩnh đã giải quyết nhuần nhuyễn vấn đề dân tộc và giaicấp trên lập trường của giai cấp công nhân Độc lập dân tộc và tự do là tư tưởng cốt lõi củaCương lĩnh này

Nếu như Quốc tế Cộng sản đặt nặng vấn đề đấu tranh giai cấp, coi giai cấp tư sản và phong kiếnnói chung đều là cừu địch của cách mạng, Đảng phải là đảng chung của 3 nước Đông Dương, tênĐảng phải là Đảng Cộng sản Đông Dương Thì Nguyễn Ái Quốc lại cho rằng, ở Việt Nam, nhiệm

vụ giải phóng dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, cách mạng chỉ chủ trương đánh đổ bọn tư sản

và phong kiến tay sai phản động, còn lại phải “hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung

An Nam mà chưa rõ phản cách mạng thì cũng phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trunglập Đối với vấn đề tên Đảng, Người tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, vẫn giúp đỡ cáchmạng Lào và Campuchia song chỉ chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Những sự khác biệt trên đây giữa Nguyễn Ái Quốc và Quốc tế Cộng sản xuất phát từ nhiều lý dokhác nhau Song điều đặc biệt ở chỗ những tư tưởng của Người luôn là nhất quán trước, trong vàsau Hội nghị hợp nhất, chứ không phải là do Nguyễn Ái Quốc vì chưa nhận được Chỉ thị củaQuốc tế Cộng sản mà có sự khác biệt trên Nguyễn Ái Quốc là đại diện của Quốc tế Cộng sản,Người không chỉ nắm rõ đường lối của Quốc tế Cộng sản mà còn hiểu rất rõ những khó khăngặp phải khi những quyết định của mình khác biệt với đường lối của Quốc tế Cộng sản Tuynhiên, Nguyễn Ái Quốc vẫn chủ trương như vậy, bởi lẽ Người hiểu rằng những nội dung trên đều

là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến việc thành bại của cách mạng Việt Nam Nguyễn ÁiQuốc chấp nhận sự phê phán thậm chí là kỷ luật của cấp trên, bởi đối với Người “Tự do cho đồngbào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đó là tất cả những gì tôi biết, đó là tất cả những gì tôi hiểu” SauHội nghị hợp nhất, “do sự hạn chế về nhận thức lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam lúc bấygiờ, nên trong một số văn kiện của Đảng đã có những ý kiến nhận xét không đúng về tư tưởng vàhoạt động của đồng chí Nguyễn Ái Quốc Thực tế lịch sử sau này đã cho thấy, những quan điểm

Như vậy có thể thấy rằng, vai trò của đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị hợp nhất các tổchức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (6/1 đến 7/2/1930) là hết sức to lớn Hơn 90năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được rất nhiềunhững thành công to lớn Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tổng Phú Trọng đã khẳng định

“Chưa bao giờ chúng ta có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay” Chứng

Trang 8

kiến sự phát triển của đất nước, chúng ta lại càng thấy được vai trò to lớn của Đảng, tầm quantrọng của sự kiện Đảng ra đời và công lao to lớn của của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tại Hộinghị hợp nhất này./

Câu 4 So sánh cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930) và Luận cương chính trị (10/1930)

 Giống nhau

- Cả Cương lĩnh chính trị và Luận cương chính trị đều

 Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê nin đề ra đường lối cách mạng vô sản

 Xác định tính chất của cách mạng trong giai đoạn trước mắt Chủ trương làm tư sảndân quyền cách mạng, bỏ qua giai đoạn chủ nghĩa Tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa

Đảng lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Đông Dương

Giai cấp công nhân, nông dân

Câu 5 Tìm hiểu chủ trương của Đảng trong 3 cao trào cách mạng năm 1930 –

1931, 1936 – 1939, 1939 – 1945?

Năm 1930 – 1931

Trang 9

 Ðỉnh cao của phong trào 1930 - 1931 là Xô-viết - Nghệ-Tĩnh Quần chúng cách mạng đãvùng dậy, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, trừng trị bọn cường hào, phản động, tay sai thựcdân Pháp, thành lập chính quyền cách mạng ở một số nơi theo hình thức Xô-viết thựchiện các chính sách tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Xô-viết - Nghệ-Tĩnh làcuộc tổng diễn tập cách mạng đầu tiên.

 Cao trào cách mạng 1930 - 1931 tuy bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt nhưng nó đãkhẳng định trên thực tế đường lối cách mạng Việt Nam do Ðảng đề ra là đúng đắn và đểlại những bài học quý báu về xây dựng liên minh công-nông, về xây dựng mặt trận dântộc thống nhất, về phát động phong trào quần chúng đấu tranh giành và bảo vệ chínhquyền Trong lúc cao trào cách mạng diễn ra sôi sục ở trong nước thì Hội nghị lần thứnhất BCH T.Ư Ðảng được triệu tập tại Hương Cảng (Trung Quốc) từ ngày 14 đến 31-10-

1930 do đồng chí Trần Phú chủ trì Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về tình hình vànhiệm vụ cần kíp của Ðảng, Luận cương chính trị của Ðảng do đồng chí Trần Phú khởithảo, thông qua Ðiều lệ Ðảng và Ðiều lệ các tổ chức quần chúng Theo chỉ thị của Quốc

tế Cộng sản, Hội nghị quyết định đổi tên Ðảng Cộng sản Việt Nam thành Ðảng Cộng sảnÐông Dương; bầu BCH Trung ương chính thức của Ðảng Ðồng chí Trần Phú được bầulàm Tổng Bí thư

 Luận cương chính trị được Hội nghị BCH T.Ư Ðảng thông qua đã phân tích sâu sắc tìnhhình thế giới, trong nước và nhận định chủ nghĩa tư bản đã chấm dứt thời kỳ tạm ổn định

và chuyển sang thời kỳ tổng khủng hoảng Cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa đãphát triển tới trình độ cao Phong trào cách mạng thế giới ảnh hưởng rất mạnh đến phongtrào Ðông Dương Vì vậy, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Ðông Dương phảiliên hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới

 Luận cương chính trị của Ðảng khẳng định: "Ðiều cốt yếu cho sự thắng lợi của cáchmạng ở Ðông Dương là cần phải có một Ðảng Cộng sản có một đường lối chánh trịđúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải đấu tranh màtrưởng thành Ðảng là đội tiền phong của giai cấp vô sản lấy chủ nghĩa Các Mác và Lê-nin làm gốc"

 Với việc thông qua Luận cương chính trị, Hội nghị Trung Ương Ðảng lần thứ nhất đãkhẳng định những vấn đề căn bản về chiến lược cách mạng Việt Nam

Năm 1936 – 1939

 Chủ trương: Thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương Tháng3/1938, đổi thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận Dân chủĐông Dương

 Từ đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra những phong trào đấu tranh đòi các quyền tự

do, dân sinh, dân chủ

 Trước tình hình thế giới và Việt Nam có nhiều biến đổi, tháng 7/1936, Hội nghị BanChấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong chủ trì, đã họptại Thượng Hải để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh mới, đưa phong trào cáchmạng Việt Nam tiếp tục phát triển Hội nghị đã xác định mục tiêu chủ yếu trước mắt củacách mạng Việt Nam là đấu tranh chống chế độ thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh,đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình Để tập hợp rộng rãi quần chúng nhân dân nhằmthực hiện được mục tiêu đó, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dânphản đế Đông Dương (từ tháng 3-1938 được đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương) Năm 1939 – 1945

Trang 10

- Thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh hội (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) (5/1941).

 Thời kỳ 9/3/1945 -13/8/1945:

- Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

- Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước

- Thành lập khu giải phóng Việt Bắc (6/1945)

- Đẩy mạnh đấu tranh vũ trang mạnh hơn, lập Ủy ban quân sự Bắc Kỳ (4/1945)

- Thế giới: Sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, cục diện khu vực và thế giới có những sự

thay đổi lớn có lợi cho cách mạng Việt Nam Liên Xô trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội.Nhiều nước ở Đông Trung Âu, được sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô đã lựa chọn con đườngphát triển theo chủ nghĩa xã hội Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa châu Á,châu Phi và khu vực Mỹ Latinh dâng cao

- Trong nước: Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô

lệ, bị áp bức trở thành chủ nhân của chế độ dân chủ mới Nhân dân có niềm tin mãnh liệt vàoĐảng Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước Hình thành

hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống nhất từ cấp Trung ương đến cơ sở Chủ tịch

Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của nền độc lập, tự do, là trung tâm của khối đại đoàn kết toàndân tộc Việt Nam

Trang 11

- Trong nước :

 Kinh tế - xã hội đối mặt với “giặc đói, giặc dốt”: Hậu quả của chế độ cũ để lại hết sứcnặng nề, tài chính kiệt quệ Ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt khiến cho nạn đói năm 1945vẫn kéo dài và rất nghiêm trọng (2 triệu người dân chết đói) Nhà nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xơ xác, tiêu điều, công nghiệp đình đốn, nôngnghiệp bị hoang hóa, 50% ruộng đất bị bỏ hoang; nền tài chính, ngân khố kiệt quệ, khobạc trống rỗng; các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội chưa được khắc phục,95% dân số mù chữ

 Chính trị nằm trong tình cảnh “thù trong, giặc ngoài”: Hệ thống chính quyền cách mạngmới được thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt

Bắc vĩ tuyến 16, hơn 20 vạn quân đội của Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa dân quốc) trànqua biên giới kéo vào dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân đội Đồng minh vàogiải giáp quân đội Nhật, kéo theo là lực lượng tay sai Việt Quốc, Việt Cách với âm mưu thâm độc

“diệt Cộng, cầm Hồ”, phá Việt Minh

Nam vĩ tuyến 16, quân đội Anh- Ấn đưa 2 vạn quân đổ bộ vào Sài Gòn để làm nhiệm vụgiải giáp quân đội Nhật thua trận ở phía Nam Việt Nam Bên cạnh đó, hơn 1 vạn quân Pháp núpdưới danh nghĩa quân Anh kéo vào, ngang nhiên nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn-Chợ Lớn(Nam Bộ) vào rạng sáng ngày 23-9-1945, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 của thựcdân Pháp ở Việt Nam

Trên cả nước còn khoảng hơn 6 vạn quân Nhật chưa được giải giáp chống cự quyết liệt, lựclượng phản động trong nước liên kết với những lực lượng nước ngoài ngóc đầu chống phá cáchmạng

Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam trước tình thế

“như ngàn cân treo sợi tóc”, cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt và bọn thù trong,giặc ngoài

Trang 12

Câu 2: Chủ trương xd và bve chính quyền CM của Đảng 1945 – 1946?

Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ ChíMinh đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt, là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại

xâm Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc,

nhận định tình hình và định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành đượcchính quyền Chỉ thị phân tích sâu sắc sự biến đổi của tình hình thế giới và trong nước, nhất làtình hình Nam Bộ và xác định rõ:

 Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranhvào chúng

 Mục tiêu của cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là “dân tộc giải phóng” và đề rakhẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”; Xác định “kẻ thù chính của ta lúc này làthực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”; Nhiệm vụ chủyếu, trước mắt “là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản,cải thiện đời sống cho nhân dân”

Biện pháp:

+ Nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập Chính phủ chính thức, lập raHiến pháp, động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn bị kháng chiến lâu dàinhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiếnpháp, động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn bị kháng chiến lâu dài

+ Kiên định nguyên tắc độc lập về chính trị; về ngoại giao phải đặc biệt chú ý “làm chonước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”

+ Đối với Tàu Tưởng nêu chủ trương “Hoa-Việt thân thiện”, đối với Pháp “độc lập về chínhtrị, nhân nhượng về kinh tế”

Những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong bản Chỉ thị khángchiến, kiến quốc đã giải đáp trúng, đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam lúcbấy giờ; có tác dụng định hướng tư tưởng, trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dânPháp ở Nam Bộ; xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn đầy khó khăn, phứctạp này

Tổ chức thực hiện:

+ Chính trị:Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng Ngày 6-1-1946, cả

Trang 13

nước tham gia cuộc bầu cử, bầu ra 333 đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội vào ngày 2-3-1946

và lập ra Chính phủ chính thức, gồm 10 bộ và kiện toàn nhân sự bộ máy Chính phủ do Hồ ChíMinh làm Chủ tịch Quốc hội đã nhất trí bầu Ban Thường trực Quốc hội do cụ Nguyễn Văn Tốlàm Chủ tịch

+ Kinh tế: Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói là một nhiệm vụ lớn, quan trọng, cấp bách lúc

bấy giờ Động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào lớn, các cuộc vận động, như:thực hành tiết kiệm với khẩu hiệu tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa; lập hũ gạo tiếtkiệm, tổ chức Tuần lễ vàng, gây Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng, Quỹ Nam Bộ khángchiến v.v Chính phủ bãi bỏ thuế thân và nhiều thứ thuế vô lý của chế độ cũ, thực hiện chính sáchgiảm tô 25%, tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian, đất hoang hóa chia cho nông dân nghèo Đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân được ổn định, tinh thần dân tộcđược phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam Bộ

+ Văn hóa - xã hội: Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt

coi trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, góp phần tích cực xây dựng hệ thống chính quyềncách mạng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân.Đảng và Hồ Chí Minh chủ trương phát độngphong trào “Bình dân học vụ”, toàn dân học chữ quốc ngữ để từng bước xóa bỏ nạn dốt Vậnđộng người dân thực hiện lối sống mới, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan Đến cuối năm

1946, cả nước đã có hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ Đời sống tinh thầncủa một bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới, nêu caoquyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng

Câu 3: Phân tích chủ trương của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1946 – 1954) ?

Hoàn cảnh lịch sử :

Tháng 11/1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng cả thành phố Hải Phòng và thị

xã Lạng Sơn, cho quân đổ bộ lên Đà Nẵng và gây nhiều cuộc khiêu khích, tàn sát đồngbào ta ở Hà Nội, Trung ương Đảng đã chỉ đạo tìm cách liên lạc với phía Pháp để giảiquyết vấn đề bằng biện Pháp đàm phán thương lượng.Ngày 19/2/1946, trước việc Phápgửi tối hậu thư đòi ta tước vũ khí của tự vệ Hà Nội, kiểm soát an ninh trật tự Thủ đô, BanThường vụ Trung ương Đảng đã họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì củaChủ tịch Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó Hội nghị đã cử phái viên đi gặp

Trang 14

phía Pháp để đàm phán, song không có kết quả.

Qúa trình hình thành đường lối chống thực dân Pháp :

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) của Đảng được hình thành, bổsung, hoàn chỉnh qua thực tiễn Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã chỉ đạo kết hợp đấutranh quân sự, chính trị với ngoại giao để làm thất bại âm mưu của Pháp định tách Nam

Bộ ra khỏi Việt Nam

Thường vụ Trung ương Đảng mở Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ nhất diễn ra vàongày 19-10-1946 do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì Hội nghị đề ra nhận định “Khôngsớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”

Cũng tại hội nghị Đảng ta đã đề ra những biện Pháp, chủ trương cụ thể cả về tổ chức và tưtưởng Hồ Chí Minh đã nêu lên chỉ thị Công việc khẩn cấp bây giờ (5-11-1946) nhữngviệc có tầm toàn cục khi bước vào cuộc kháng chiến toàn cục và khẳng định lòng tin vàothắng lợi cuối cùng

– Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng được thể hiện trong các văn kiện:

+ Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (12/12/1946).+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (19/12/1946)

+ Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh (9/1947)

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp 1946 – 1954 :

– Nội dung của đường lối kháng chiến là: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánhsinh và tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế

– Mục đích kháng chiến: kế tục và phát triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, “đánh phản độngthực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập”

– Tính chất kháng chiến: trường kì kháng chiến, toàn diện kháng chiến

– Nhiệm vụ kháng chiến: “Cuộc kháng chiến này chính là một cuộc chiến tranh cách mạng cótính chất dân tộc độc lập và dân chủ tự do…nhằm hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc vàphát triển dân chủ mới”

– Phương châm tiến hành kháng chiến: tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện khángchiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính

+ Kháng chiến toàn dân: “Bất kì đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kìngười già, người trẻ Hễ là người Việt Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp”, thực hiện mỗingười dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài

+ Kháng chiến toàn diện: đánh địch về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao.Trong đó:

Về chính trị: thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thểnhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình

Về quân sự: thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch,giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh chính quy,

là “triệt để dùng du kích, vận động chiến Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài… vừa đánh vừa

võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ”

Về kinh tế: tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cấp, tập trung phát triển nền nông nghiệp,thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng

Về văn hóa: xóa bỏ văn hóa thực dân phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ theo ba nguyêntắc: dân tộc, khoa học, đại chúng

Về ngoại giao: thực hiện thêm bạn, bớt thù, biểu dương thực lực “Liên hiệp với dân tộc Pháp,chống phản động thực dân Pháp”, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập,…

Trang 15

+ Kháng chiến lâu dài (trường kì): là để chống âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, để cóthời gian phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” của ta, chuyển hóa tương quan lực lượng

từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch

+ Dựa vào sức mình là chính: “phải tự cấp, tự túc về mọi mặt”, vì ta bị bao vây bốn phía Khinào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.+ Triển vọng kháng chiến: mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn song nhất định thắng lợi

Câu 4: Phân tích chủ trương của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ( 1954 – 1975) ?

Cách mạng VN sau Hiệp định Gionevo 1954 :

– Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miềnBắc và cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc Đây làđặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng Việt Nam thời kỳ 1954 – 1975

Thứ hai: Tình hình nước ta sau khi ký hiệp định Gionever (1954)

Với việc ký và thực hiện Hiệp định nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hao chế độchính trị khác nhau

– Miền Nam, 05/1954 Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương tổngtuyển cử thống nhất hai miền Nam – Bắc Mỹ vào thay chân Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên nắmquyền, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới vàcăn cứ quân sự của Mỹ

– Miền bắc hoàn toàn được giải phóng, ngày 10/10/1954 bộ đội Việt Nam tiến vào tiếp quản Thủ

đô Ngày 15/05/1955, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà Cuộc cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân đã hoàn thành, tạo điều kiện cho miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội

Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1954 :

– Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 (11/1963) ngoài việc xác định đúng đắn quan điểm quốc

tế, hướng hoạt động đối ngoại vào việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đánh

Mỹ và thắng Mỹ Đi đến quyết định nhiều vấn đề quan trọng về cách mạng miền Nam Hội nghịkhẳng định đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và cả hai đều có vai trò quyết định cơ bạn.Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu mới của đấu tranh vũ trang Miền Bắc, Hội nghị tiếp tục xác địnhtrách nhiệm căn cứ địa, hậu phương đối với cách mạng miền Nam, đồng thời nâng cao cảnh giác,triển khai mọi mặt, sẵn sàng đối phó với âm mưu đánh phá của địch

– Trước những cuộc chiến ở miền Nam “Chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại miền Bắccủa đế quốc Mỹ, Hội nghị trung ương lần thứ 11 (3/1965) và lần thứ 12 (12/1965) đã nếu rađường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước như sau:

+ Quyết tâm và mục tiêu chiến lược: Nêu cai khẩu hiệu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâmlược”, “ Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống

Trang 16

nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhândân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.

+ Về nhận định tình hình và chủ trương chiến lược: Trung ương Đảng cho rằng cuộc “Chiếntranh cục bộ” mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam vẫn là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới,buộc phải thực thi trong thế thua, thế thất bại và bị động cho nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫnchiến lược Từ sự phân tích và nhận định đó, Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc khángchiến chống đế quốc Mỹ xâm lược trong toàn quốc, coi chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêngliêng của cả dân tộc từ Nam ra Bắc

+ Phương châm chỉ đạo chiến lược: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân chống chiếntranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam, đồng thời phát động chiến tranh nhân dân chống chiến tranhphá hoại của Mỹ ở miền Bắc, thực hiện kháng chiến lâu dài, dựa và sức chính mình, càng đánhcàng mạnh, cố gắng đến mức độ cao

+ Nhiệm vụ và mối quan hệ giữa cuộc chiến đấu ở hai miền: Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ,cứu nước, miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn Bảo vệ miền Bắc là nhiệm

vụ của cả nước vì xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.+ Tư tưởng và phương châm đấu tranh ở miền Nam: Giữ vững và phát triển thế tiến công, kiênquyết tiến công và liên tục tiến công “Tiếp tục kiên trì phương châm: Kết hợp đấu tranh quân sựvới đấu tranh chính trị, triệt để thực hiện ba mũi giáp công”, đánh địch trên cả 03 vùng chiếnlược

+ Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm tiếp tục xâydựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều kiện có chiến tranh, tiến hànhcuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để bảo vệ vững chắc miềnBắc xã hội chủ nghĩa, động viên sức người, sức của ở mức cao nhất để chi viện cho cuộc chiếntranh giải phóng miền Nam

Thống kê các đại hội đảng toàn quốc từ năm 1975 đến nay?( Nội dung

và bối cảnh)

Trải qua 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 12 kỳ Đại hội Mỗi

kỳ Đại hội Đảng là một mốc lịch sử quan trọng ghi nhận, đánh dấu những thắng lợi, thành tựu của cách mạng Việt Nam

Hoanh tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam diễn ra từ ngày 6/1 đến 7/2/1930 tại Hồng Công (Trung Quốc), mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 17

Hội nghị đã hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản ở Việt Nam là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, với mục tiêu lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam tiến hành giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tiến lên chủ nghĩa xã hội

Hội nghị đã đề ra Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt, trong đó, Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt phản ánh nội dung cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hội nghị cũng ban hành Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột

Đại hội I: Khôi phục tổ chức, thống nhất các phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo

của Đảng

- Thời gian: từ 27 đến 31/3/1935

- Địa điểm: Ma Cao (Trung Quốc)

- Số lượng đảng viên: 600

- Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 13

- Tổng Bí thư do Đại hội bầu: Đồng chí Lê Hồng Phong

- Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 13 đồng chí

- Nhiệm vụ chính: Củng cố hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước đến nước ngoài

- Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị của Đảng; các nghị quyết về vận động công nhân, vậnđộng nông dân, vận động thanh niên, phụ nữ, binh lính, về mặt trận phản đế, về đội tự vệ, về các dân tộc ít người ; Điều lệ của Đảng; Điều lệ của các tổ chức quần chúng của Đảng

Đại hội cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm đại diện của Đảng Cộng sản Đông Dương bên cạnh Quốc tế Cộng sản

 Tháng 7/1936, đồng chí Hà Huy Tập được cử làm Tổng Bí thư

 Tháng 3/1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được cử làm Tổng Bí thư

Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh gìn giữ và khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ trung ương đến cơ sở Đây là một điều kiện cơ bản và cần thiết để Đảng bước vào một thời kỳ đấu tranh mới với một đội ngũ cán bộ đã được tôi luyện

Đại hội II: Đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn

- Thời gian: Từ 11 đến 19/2/1951

Trang 18

- Địa điểm: Xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang

- Số lượng đảng viên trong cả nước:766.349

- Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 158

- Chủ tịch Đảng được bầu tại Đại hội: Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Trường Chinh

- Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 29

- Ủy viên Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 7

- Ủy viên Nhiệm vụ chính: Đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn

Đại hội đã tổng kết 21 năm Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, 5 năm lãnh đạo chính quyền non trẻ và công cuộc kháng chiến kiến quốc

Do sự phát triển và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến, Đại hội quyết định xây dựng ở mỗi nước Đông Dương một đảng cộng sản riêng Ở Việt Nam, Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam

Đại hội thông qua Điều lệ của Đảng Lao động Việt Nam Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam

Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và xây dựng Đảng theo nguyên tắc một Đảng vô sản kiểu mới, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt căn bản của Đảng; phê bình, tự phê bình là quy luật phát triển của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu hoạt động của Đảng Đại hội đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn

Đại hội III: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà

- Thời gian: Từ 5 đến 10/9/1960

- Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

- Số lượng đảng viên trong cả nước: 500.000

- Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 525

- Chủ tịch Đảng được bầu tại Đại hội: Chủ tịch Hồ Chí Minh

- Bí thư thứ nhất được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

- Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 47 uỷ viên

- Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 11 uỷ viên

- Nhiệm vụ chính: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam

Trang 19

Đại hội đã tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng, nêu lên những bài học có ý nghĩa lý luận và thựctiễn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đại hội xác định nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta Cách mạng miền Nam có nhiệm vụ giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước 2 nhiệm

vụ có mục tiêu chung là thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và tay sai của chúng

Đại hội quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Đại hội IV: Hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên

chủ nghĩa xã hội

- Thời gian: Từ 14 đến 20/12/1976

- Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

- Số lượng đảng viên trong cả nước: 1.550.000

- Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.008

- Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

- Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 101 uỷ viên chính thức, 32 ủy viên dự khuyết

- Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 14 uỷ viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết

- Nhiệm vụ chính: Hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước khôi phục, phát triển đất nước Đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đưa cả nước tiếnlên chủ nghĩa xã hội

Đại hội xác định nhiệm vụ, phương châm và biện pháp công tác Đảng trong giai đoạn mới, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa

Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới gồm 11 chương và 59 điều, đặt lại chức vụ Tổng Bí thư thay chức Bí thư thứ nhất, quy định nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương là 5 năm

Ðại hội V: Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân

a Thời gian: từ 27 đến 31/3/1982

b Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Trang 20

c Số lượng Đảng viên trong cả nước: 1.727.000

d Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.033

e Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Lê Duẩn

f Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 116 uỷ viên

g Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 13 uỷ viên

h Nhiệm vụ chính: Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Đại hội nhận định, đất nước đứng trước những khó khăn lớn về kinh tế và xã hội mà một phần nguyên nhân là do khuyết điểm, sai lầm của các cơ quan Đảng và Nhà nước về lãnh đạo và quản

lý Do đó, Đảng phải lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Đại hội thông qua những nhiệm vụ văn hoá, xã hội; tăng cường nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát động phong trào cách mạng của quần chúng; chính sách đối ngoại; nhiệm vụ nâng cao sức chiến đấu của Đảng Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”

Đại hội VI: Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước

Thời gian: Từ 15 đến 18/12/1986

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.109.613

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.129

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Nguyễn Văn Linh

Ban Chấp hành Trung ương được bầu tại Đại hội: 124 uỷ viên

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 13 uỷ viên

Trang 21

Nhiệm vụ chính: Thực hiện đổi mới đất nước (khởi xướng đưa đất nước tiến hành công cuộc đổi mới)

Đại hội VI khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng

và khoa học Đại hội đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo XHCN, trong đó, phải xây dựng quan hệsản xuất mới trên cả ba mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế

độ phân phối XHCN

Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác Nâng cao chất lượng đảng viên và sức mạnh chiến đấu của tổ chức cơ sở, tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng là nhiệm vụ quan trọng, vừa

cơ bản, vừa cấp bách của công tác xây dựng Đảng

Đại hội VII: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, đưa đất nước tiến lên theo con đường XHCN

Thời gian: từ 24 đến 27/6/1991

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.155.022

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.176

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Đỗ Mười

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 146 uỷ viên

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 13 uỷ viên

Nhiệm vụ chính: Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đưa đất nước đi theo con đường đổi mới Đại hội khẳng định: Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc và có bước đi vững chắc, đó là mệnh lệnhcủa cuộc sống, là quá trình không thể đảo ngược

Trang 22

Với nhiệm vụ “Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đưa đất nước đi theo con đường đổi mới”, Đại hội VII lần đầu tiên thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH

Đại hội một lần nữa khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉnam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản

Đại hội VIII: Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thời gian: từ 28/6 đến 1/7/1996

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng Đảng viên trong cả nước: 2.130.000

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.198 đại biểu

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Đỗ Mười

Ban Chấp hành Trung ương bầu tại Đại hội: 170 uỷ viên

Bộ Chính trị bầu tại Đại hội: 19 uỷ viên

Nhiệm vụ chính: Thực hiện đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đại hội khẳng định: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc Đại hội đã đưa ra các định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đại hội VIII đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững

Trang 23

bước đi lên chủ nghĩa xã hội Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư (khoá VIII, tháng 12/1997) bầu đồng chí Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội IX: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thời gian: Từ 19-22/4/2001

Địa điểm: Thủ đô Hà Nội

Số lượng đảng viên trong cả nước: 2.479.719

Số lượng đại biểu tham dự Đại hội: 1.168

Tổng Bí thư được bầu tại Đại hội: Đồng chí Nông Đức Mạnh

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu tại Đại hội: 150 uỷ viên

Bộ Chính trị được bầu tại Đại hội: 15 uỷ viên

Nhiệm vụ chính: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Đại hội chỉ rõ mô hình tổng quát của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN

Đại hội khẳng định phải coi trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh Đó là nhiệm vụ then chốt, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Đảng ta, là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và thế giới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Đại hội X: Huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém

phát triển

Thời gian: Từ 18 đến 25/4/2006

Ngày đăng: 10/05/2022, 14:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN