1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ÔN THI TRIẾT HỌC ( CÂU HỎI VÀ ĐÁP )

19 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 47,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGÂN HÀNG CÂU HỎI ÔN THI Chương 1 Câu 1 Triết học là gì? Phân tích nguồn gốc ra đời của triết học Triết học là một bộ môn chính thực hiện việc nghiên cứu về các vấn đề chung, cơ bản về con người – thế giới quan cũng như vị trí của con người ở trong thế giới quan – những vấn đề đó có kết nối lại với chân lý – sự tồn tại – kiến thức – giá trị – quy luật – ngôn ngữ Dựa vào cách mà triết học giải quyết các vấn đề này, người ta sẽ phân biệt được nó với lại những môn khoa học khách Trong đó, nó nổi bậ.

Trang 1

NGÂN HÀNG CÂU HỎI ÔN THI

Chương 1:

Câu 1: Triết học là gì? Phân tích nguồn gốc ra đời của triết học.

Triết học là một bộ môn chính thực hiện việc nghiên cứu về các vấn đề chung, cơ bản về con người – thế giới quan cũng như vị trí của con người ở trong thế giới quan – những vấn đề đó có kết nối lại với chân lý – sự tồn tại – kiến thức – giá trị – quy luật – ngôn ngữ Dựa vào cách mà triết học giải quyết các vấn đề này, người ta sẽ phân biệt được nó với lại những môn khoa học khách Trong đó, nó nổi bật nhất khi thể hiện rõ tính phê phán, các phương pháp tiếp cận vào hệ thống chung nhất, sự phụ thuộc của nó sẽ dựa vào tính duy lý ở việc lập luận

Phân tích nguồn gốc ra đời:

- Nguồn gốc nhận thức: Triết học không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của con người, nó

chỉ ra đời khi năng lực tư duy trừu tượng của con người đạt đến trình độ nhất định cho phép khái quát được những hiểu biết riêng lẻ, rời rạc thành một hệ thống những quan điểm và quan niệm chung về thế giới Như vậy, triết học chỉ ra đời khi tư duy, nhận thức của con người đạt đến trình

độ trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết lý luận

- Nguồn gốc xã hội: Triết học xuất hiện khi xã hội loài người chuyển sang chế độ chiếm hữu nô

lệ, là xã hội đầu tiên có sự phân chia giai cấp, lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay, đội ngũ trí thức xuất hiện, khi đó xã hội có một số người chuyên làm “nghề” triết học để giải thích thế giới theo lợi ích của một giai cấp nhất định Điều đó cho thấy, chính tầng lớp lao động trí óc

đã sản sinh ra triết học, ngay khi mới ra đời, triết học đã mang tính giai cấp sâu sắc, phản ánh và bảo vệ lợi ích của những giai cấp nhất định trong xã hội

Nguồn gốc nhận thức:

Triết học ko xuát hiện đồng thời với sự xuất hiện của con người mà

Triết học chỉ xuất hiện khi kho tàng trí thức của loài người đã tích lũy được một vốn hiểu biết nhất định về thế giới, về con người và trên cơ sở đó tư duy con người đạt đến trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa, có khả năng rút ra cái chung trong muôn vàn hiện tượng, sự kiện riêng lẻ.Rút ra được những cái tất yếu trong vô vàn cái ngẫu nhiên, rút ra đc quy luật

Nguồn gốc XH:

Triết học ra đời khi nền sản xuất đã có sự phát triển, lực lượng sản xuất phát triển, công cụ lao động tiên tiến-co su phan cong lao dong Xh=> cua cai du thua , hinh thanh che do tư hữu -> XH phan chia giai cap, tang lop khac nhau.Lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay, trí thức xuất hiện với một tư cách là một tàng lớp XH, trong đó có một bộ phận tinh hoa, họ có điều kiện nhu cầu và năng lực hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm thành học thuyết lí luận, lý luận có tính

hệ thống giải thích được sự vận động và phát triển

 Tư duy triết học xuất hiện từ các triết lí dần dần hình thành hệ thống chung nhất

Trang 2

Câu 2 Tại sao nói triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan Ý nghĩa của việc nghiên cứu triết học đối với bản thân

k/n TGQ: Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó

k/n triết học macslenin: là hệ thống tri thức, lí luận chung nhất của con người về TG,về bản thân con người và vị trí của con ng trong TG đó

Triết học đc coi là hạt nhân bởi vì TG quan có rất nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau nhưng triết học chỉ có những quan điểm , quan niệm chung nhất mà thôi và những quan điểm chung nhất này mới chính là hạt nhân của thế giới quan Tất cả các quan điểm khác đều dựa trên triết học

Có tri thức, niềm tin, lí tưởng

Câu 3 Phân tích nội dung vấn đề cơ bản của triết học Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề này trong lịch sử triết học.

Vấn đề cơ bản của triết học là những vấn đề xung quanh mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại,

giữa vật chất và ý thức Lý do nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định được cơ sở, tiền đề để giải quyết những vấn đề của triết học khác Điều này đã được chứng minh rất rõ ràng trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học

Mặt thứ nhất - Bản thể luận: Trả lời cho câu hỏi giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau? Và cái nào quyết định cái nào?

Ta có thể giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học dựa trên 3 cách sau:

1 Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thức

2 Ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định đến vật chất

3 Ý thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, không quyết định lẫn nhau

Hai cách giải quyết đầu tiên tuy có đối lập nhau về nội dung, tuy nhiên điểm chung của hai cách giải quyết này đều thừa nhận một trong hai nguyên thể (ý thức hoặc vật chất) là nguồn gốc của thế giới Cách giải quyết một và hai thuộc về triết học nhất nguyên

Triết học nhất nguyên bao gồm hai trường phái: trường phái triết học nhất nguyên duy vật và trường phái triết học nhất nguyên duy tâm

Cách thứ ba thừa nhận ý thức và vật chất tồn tại độc lập với nhau, cả hai nguyên thể (ý thức và vật chất) đều là nguồn gốc của thế giới Cách giải thích này thuộc về triết học nhị nguyên

Trang 3

Mặt thứ hai - Nhận thức luận: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

Đại đa số các nhà triết học theo chủ nghĩa duy tâm cũng như duy vật đều cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới Tuy nhiên:

Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới Song do vật chất

có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định đến ý thức nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy Một số nhà triết học duy tâm khác theo “Bất khả tri luận” lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người

Ý nghĩa :

Câu 4 Phân biệt sự đối lập giữa hai phưong pháp tư duy trong quá trình nhận thức Ý nghĩa thực tiễn của van đề này.

Câu 5 Các hình thức cơ bản của phép biện chứng Vai trò của phép biện chứng duy vật trong

nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.

- Các hình thức lịch sử của phép biện chứng trong lịch sử: Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng

là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):

+ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch

sử triết học Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và

Hy Lạp cổ đại Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia Trong triết học Ân Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân 15 duyên” Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại là những quan điểm biện chứng của Heraclit

+ Phép biện chứng duy tâm được khởi đầu từ những quan điểm biện chứng trong triết học của

I Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph Hêghen Ph Hêghen đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới - trình độ lý luận sâu sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về sự phát triển Tuy nhiên, phép biện

Trang 4

chứng trong triết học của Ph Hêghen là phép biện chứng được xây dựng trên lập trường duy tâm (duy tâm khách quan) nên hệ thống lý luận này chưa phản ánh đúng đắn bức tranh hiện thực của các mốì liên hệ phổ biến và sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quá trình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”

+ Phép biện chứng duy vật do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là hình thức phát triển cao

nhất của phép biện chứng Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch

sử phép biện chứng, đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph Hêghen; đồng thời phát triển phép biện chứng trên cơ sở thực tiễn mới,

nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới

Vai trò :

Câu 6: Phân tích những điều kiện và tiền đề ra đời của triết học Mác-Lênin.

Chủ nghĩa Mác ra đời, phát triển trên cơ sở ba điều kiện, tiền đề cơ bản sau đây:

- Điều kiện kinh tế - xã hội

Cho đến giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập và đã đạt được sự phát triển mạnh

mẽ của nó ở các nước Tây Âu, đặc biệt là tại các nước Anh, Pháp Sự phát triển đó, một mặt đã tạo ra được những thành tựu to lớn về nhiều mặt kinh tế - xã hội Tuy nhiên, mặt trái của nó là đã

tự tạo ra những mâu thuẫn không thể giải quyết được trong phạm vi chế độ tư bản chủ nghĩa Trung tâm của những mâu thuẫn đó được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn gay gắt giữa hai giai cấp: giai cấp tư sản (chủ sở hữu tư liệu sản xuất của xã hội) và giai cấp vô sản (giai cấp công nhân làm thuê) Mâu thuẫn đó được bộc lộ thành những cuộc đấu tranh ngày càng phát triển của giai cấp công nhân tại nhiều nước tư bản, đặc biệt là những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân làm thuê tại các nước Anh, Pháp và Đức Sự phát triển của các cuộc đấu tranh đó làm phát sinh nhu cầu cần có một lý luận cách mạng và khoa học của nó Sự ra đời của chủ nghĩa Mác là nhằm đáp ứng nhu cầu này Đồng thời chính thực tiễn phát triển của nó lại là một trong những điều kiện thực tiễn cho sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác

- Tiền đề lý luận

Chủ nghĩa Mác ra đời không chỉ xuất phát từ nhu cầu khách quan của lịch sử mà còn là kết quả của sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của nhân loại, trong đó trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng ở các nước Pháp và Anh

Trang 5

+ Với Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của Ph Hêghen và L Phoiơbắc đã ảnh hưởng

sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã kế thừa những nội dung cơ bản trong phép biện chứng của Hêghen, chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc Đồng thời, các ông cũng khắc phục những hạn chế cơ bản của hai học thuyết ấy; đó là thế giới quan duy tâm trong triết học Hêghen và phương pháp siêu hình trong triết học của Phoiơbắc Trên cơ sở đó các ông đã sáng lập ra một thế giới quan triết học mới là: chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật Nhờ thế giới quan mới này các ông đã vận dụng nó vào việc nghiên cứu một cách khoa học những quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội, đặc biệt là nghiên cứu những quy luật ra đời, phát triển, suy tàn của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội

+ Với Kinh tế chính trị cổ điển Anh, đặc biệt là với các học thuyết của những đại biểu lớn của

nó (A Xmít và Đ Ricácđô), c Mác và Ph Ăngghen kế thừa những quan điểm hợp lý khoa học của những học thuyết này Đó là: quan điểm duy vật trong nghiên cứu lĩnh vực khoa học kinh tế chính trị và học thuyết giá trị về lao động Đồng thời các ông cũng phê phán và khắc phục tính chất chưa triệt để trong học thuyết giá trị về lao động và phương pháp siêu hình trong nghiên cứu của các nhà kinh tế học cổ điển Anh Trên cơ sở đó các ông đã xây dựng thành công học thuyết

về giá trị lao động và học thuyết giá trị thặng dư

+ Với Chủ nghĩa xã hội không tưởng ở nước Anh và Pháp, đặc biệt là với những đại biểu lớn

của nó là H Xanh Ximông, S Phuriê và R Ôoen, c Mác và Ph Ăngghen đã kế thừa những tư tưởng nhân đạo và những sự phê phán hợp lý của các nhà tư tưởng này đối với những hạn chế của chủ nghĩa tư bản Đồng thời, các ông cũng khắc phục và vượt qua những hạn chế trong học thuyết của họ Đó là tính chất không tưởng trong các học thuyết ấy Từ đó các ông xây dựng nên một lý luận mói - lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội

- Tiền đề khoa học tự nhiên

Cho đến những năm giữa thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có những bước phát triển mới, đem lại một số quan niệm mới mẻ về giới tự nhiên so với trước đó Tiêu biểu cho những quan niệm mới này là: khẳng định tính chất bảo toàn năng lượng trong quá trình biến đổi của vật chất trong giới tự nhiên; khẳng định tính thống nhất về cơ sở vật chất của mọi sự sống là tế bào; khẳng định tính tất yếu khách quan của quá trình phát triển các loài sinh vật trên trái đất Những quan niệm mới này đóng vai trò là những bằng chứng xác thực (ở tầm khoa học) của các quan điểm duy vật biện chứng về giới tự nhiên

Câu 7: Tại sao nói sự ra đời của triết học Mác là một cuộc cách mạng có tính chất bước ngoặt

trong lịch sử triết học

Trang 6

- Khái quát hiện thực xã hội, kinh nghiệm của phong trào công nhân và những thành tựu của khoa học tự nhiên, nghiên cứu có phê phán những tư tưởng triết học trước đó, Mác và Ăngghen

đã sáng tạo ra triết học của mình, thực hiện một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học Điều đó thể hiện ở những nội dung sau đây:

- Triết học Mác ra đời lần đầu tiên đem lại cho giai cấp vô sản một hệ tư tưởng; một lý luận dẫn đường thực hiện bước giải phóng giai cấp vô sản về mặt tinh thần Mác cho rằng, nếu trái tim của sự giải phóng nhân loại là giai cấp vô sản, thì khối óc sự giải phóng đó là triết học của giai cấp vô sản, là thế giới quan của nó Triết học Mác là vũ khí lý luận chung cấp cho giai cấp vô sản những công cụ nhận thức và cải tạo thế giới, cho nên Mác viết: “giống như triết học tìm thấy ở giai cấp vô sản là một vũ khí vật chất, giai cấp vô sản tìm thấy ở triết học là một vũ khí tinh thần” Như vậy, với sự ra đời ở triết học Mác, phong trào vô sản đã có một bước ngoặt, từ chỗ là một phong trào tự phát, chưa có lý luận, bị lệ thuộc vào tư tưởng, nó trở thành một phong trào tự giác, có lý luận và độc lập về tư tưởng

- Với sự ra đời của triết học Mác, lần đầu tiên thực tiễn trở thành phạm trù trung tâm của triết học Điều đó làm biến đổi tận gốc vai trò xã hội của triết học và khắc phục được những thiếu sót căn bản của triết học trước kia Trung tâm chú ý của triết học Mác không chỉ là giải thích, mà còn và chủ yếu là vạch ra con đường, những phương tiện cải tạo thế giới bằng thực tiễn cách mạng Đối với triết học Mác thì thực tiễn có vai trò quyết định mọi sự phát triển xã hội, khoa học

và cả triết học Không một nhà triết học nào trước Mác hiểu được vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận và đối với toàn bộ lịch sử nhân loại Vì hạn chế đó, các nhà duy vật trước Mác đã rơi vào quan điểm duy tâm siêu hình khi đề cập đến những vấn đề xã hội Chủ nghĩa duy tâm phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị bảo thủ, cho nên nó xa rời thực tiễn, tách khỏi hiện thực, làm cho quần chúng không thấy được những cơ sở vật chất của các quan hệ bóc lột

Chỉ ra vai trò quyết định của thực tiễn, Mác và Ăngghen cũng luôn nhấn mạng vai trò to lớn

của hoạt động tinh thần, của lý luận Vì vậy hai ông đã phát triển học thuyết cân đối về mối liên

hệ giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng Lý luận cách mạng có vai trò chỉ đạo thực tiễn, làm cho thực tiễn từ tự phát thành thực tiễn cách mạng, tự giác Khi lý luận cách mạng thâm nhập vào quần chúng sẽ đem lại cho họ những hiểu biết quy luật của đời sống xã hội, hướng dẫn

họ thực hiện một cách tự giác những nhiệm vụ của cuộc đấu tranh thực tiễn, lúc đó trở thành sức mạnh vật chất

Là thế giới quan và phương pháp luận của giai cấp vô sản, triết học Mác có sự thống nhất sâu sắc giữa tính Đảng, tính cách mạng và tính khoa học Triết học Mác là sự phản ánh lợi ích của giai cấp vô sản và nhân dân lao động; đồng thời nó là lý luận cho cuộc đấu tranh của họ nhằm xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người, đưa nhân loại lên chủ nghĩa cộng sản Đó là tính Đảng, tính cách mạng của triết học Mác không đối lập với tính khoa học của nó Khi phản ánh lợi ích của giai cấp vô sản và phục vụ cho cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản, triết học Mác phản ánh đúng yêu cầu và những quy luật khách quan của lịch sử

Sự ra đời của triết học Mác cũng là sự sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật Đây là những hình thức cao của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, khắc phục những thiếu sót căn bản của triết học trước kia Trước Mác chủ nghĩa duy vật thì siêu hình, còn phép biện chứng thì lại gắn với lập trường duy tâm, như vậy chúng tách rời, thậm chí đối lập

Trang 7

nhau, chỉ khi triết học Mác ra đời mới có sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, tạo ra một triết học phát triển cao hơn về chất so với trước đó

- Sự ra đời triết học Mác cũng là sự sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Đây là biểu hiện rõ rệt nhất của cuộc cách mạng triết học do Mác

Câu 8 : Vai trò của V.I Lênin trong việc bảo vệ và phát triển triết học Mác Vận dụng vấn đề này vào đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

1 Giống như C Mác và Ph Ăngghen ở thế kỷ XIX, V.I Lênin đã xuất hiện trong thế kỷ XX với

tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và nhà cách mạng vĩ đại nhất trong khoa

học Ông không chỉ là người kế tục trung thành học thuyết khoa học, cách mạng của C Mác và

Ph Ăngghen mà còn bổ sung, phát triển toàn diện học thuyết Mác, nâng nó lên tầm cao mới, chuyển lý luận thành thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa; làm cho chủ nghĩa Mác thật sự trở

thành hệ tư tưởng thống trị trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; giúp giai cấp vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại trong một mặt trận thống nhất để chống kẻ thù chung - chủ nghĩa tư bản phản động, bảo vệ quyền sống làm người chính đáng của mình Cống hiến vĩ đại của V.I Lênin không chỉ góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên hoàn bị nhất, sâu sắc và triệt để nhất, xứng tầm là “công cụ nhận thức vĩ đại” để cải tạo thế giới mà còn làm cho mọi loại kẻ thù lớn và nhỏ của chủ nghĩa Mác căm giận đến tột độ, dùng mọi âm mưu, thủ đoạn để xuyên tạc, bôi nhọ với mục đích hạ bệ chủ nghĩa Mác, thực hiện cáo chung một học thuyết khoa học và cách mạng, Cống hiến của V.I Lênin cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thật là to lớn Một mặt, ông đã bảo vệ thành công chủ nghĩa Mác trước sự xuyên tạc, tấn công đa chiều, trên nhiều phương diện, dưới nhiều cấp độ, nhiều màu sắc, với đủ kiểu loại âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt của những người đối lập với chủ nghĩa Mác Mặt khác, V.I Lênin đã bổ sung, phát triển đồng thời, toàn diện ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, làm cho chủ nghĩa Mác có sức sống mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản và các thế lực phản động Nhờ đó, V.I Lênin không chỉ kịp thời cung cấp cơ sở lý luận - thực tiễn cho cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch đang mưu toan hạ bệ chủ nghĩa Mác mà còn trang bị cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động nguồn tri thức mới - vũ khí lý luận sắc bén để vững tin thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại: xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn

2 Vận dụng hiện nay

Câu 9 : Triết học Mác-Lênin là gì? Đối tượng của triết học Mác-Lênin, phân biệt đối tượng của của triết học Mác-Lênin với đối tượng của các khoa học cụ thể

Trang 8

Triết học Mác – Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy - thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để nhận thức và cải tạo thế giới

Phân biệt đối tượng:

Với việc xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, triết học Mác - Lênin có đối tượng nghiên cứu khác với các khoa học cụ thể Các khoa học cụ thể nghiên cứu những quy luật trong các lĩnh vực riêng biệt của tự nhiên, xã hội hoặc tư duy, còn triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất, tác động đến cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

Tuy có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng giữa triết học Mác - Lênin và các khoa học cụ thể

có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau Các khoa học cụ thể cung cấp những dữ liệu, đặt ra những vấn đề khoa học mới, làm tiền đề, cơ sở cho sự phát triển triết học Các khoa học cụ thể tuy có đối tượng và chức năng riêng của mình nhưng đều phải dựa vào một thế giới quan và một phương pháp luận triết học nhất định

Câu 10 Chức năng của triết học Mác-Lênin Ý nghĩa của vấn đề này đối với nhận thức khoa học và thực tiễn xã hội hiện nay

Chức năng :

- Chức năng thế giới quan: Triết học Mác - Lênin mang lại thế giới quan duy vật biện chứng, là

hạt nhân thế giới quan khoa học và cách mạng Hệ thống quan điểm khoa học, duy vật biện chứng về thế giới là 23 nhân tố định hướng con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực, nắm được bản chất của tự nhiên, xã hội và tư duy, giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động Như vậy, thế giới quan cũng đóng vai trò phương pháp luận Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân trong hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản động, phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay

- Chức năng phương pháp luận: Triết học Mác - Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận

chung nhất cho nhận thức và thực tiễn, trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu cũng như hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật để làm công cụ nhận thức, giúp con người phát triển tư duy khoa học Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là “chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết được mọi vấn đề Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động,

Trang 9

cùng với tri thức triết học, con người cần phải có tri thức khoa học, công nghệ cụ thể và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn

Ý nghĩa:

Câu 11: Vai trò của triết học Mác-Lênin trong đời sống xã hội và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.

- Triết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng cho con người trong nhận thức và thực tiễn

- Triết học Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội 24 trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát tiển mạnh mẽ - Triết học Mác

– Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Triết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng cho con người trong nhận thức và thực tiễn

- Triết học Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội 24 trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát tiển mạnh mẽ

- Triết học Mác – Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chương 2:

1 Quan niệm vật ch ấ t của các nhà triết học duy vật trước Mác Tại sao nói quan niệm vật Ch

ấ t của Lênin là khoa học nh ấ t.

Quan niệm trc Mác:

Quan điểm của các nhà triết học duy vật thời kỳ cổ đại: Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật cổ đại là đi tìm bản nguyên vật chất đầu tiên và coi đó là nguyên tố đầu tiên tạo ra mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, chẳng hạn ở Phương Tây, Talét quan niệm vật chất là nước; Anaximen quan niệm vật chất là không khí; Hêraclít quan niệm vật chất là lửa Thành quả vĩ

Trang 10

đại nhất của chủ nghĩa duy vật cổ đại trong học thuyết vật chất là thuyết nguyên tử của các nhà duy vật là Lơxip và Đêmôcrít Các ông cho rằng, nguyên tử là những hạt vật chất nhỏ nhất không thể phân chia được Một số nhà triết học duy tâm cho rằng, vật chất và các dạng của vật chất đều

do ý thức sinh ra, do ý thức quyết định

Ở Phương Đông, có quan niệm vật chất là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ… Nhìn chung, những quan niệm về vật chất thời kỳ này còn sơ khai, trực quan, cảm tính, chưa đầy đủ, triệt để do trình

độ con người còn hạn chế, khoa học kĩ thuật chưa phát triển

- Thế kỷ XVII - XVIII, khoa học tự nhiên phát triển và đạt được nhiều thành tựu mới trong việc nghiên cứu thế giới khách quan (cơ học, toán học, vật lý học, sinh vật học )

Tuy vậy, những quan niệm siêu hình vẫn chi phối những hiểu biết triết học về thế giới: Nguyên

tử vẫn tiếp tục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia; vận động của vật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài sự vật, hiện tượng

Mác khoa học nhất vì:

2 Đi ề u kiện ra đời và nội dung định nghĩa vật ch ấ t của V.I.Lênin Ý nghĩa của nó đối với nhận thức khoa học :

Điều kiện ra đời :

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vật lý học hiện đại phát triển, nhất là vật lý học vi mô đã có những phát hiện mới về cấu trúc của vật chất làm biến đổi sâu sắc quan niệm về nguyên tử: 1895: Rơnghen tìm ra tia 31 X - Một loại sóng điện từ có bước sóng cực ngắn; 1896: Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ Như vậy, quan niệm về sự bất biến của nguyên tử trước đây là không chính xác; 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh rằng điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Những phát hiện nói trên của vật lý học đã bác bỏ quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất, Ttừ đó dẫn đến cuộc khủng hoảng về thế giới quan của các nhà vật lý học Trước tình thế này, chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng để tuyên truyền quan điểm duy tâm: tuyên bố vật chất “tiêu tan”, “biến mất” Trong bối cảnh đó, V I Lênin đã đưa ra một định nghĩa mới về vật chất

Nội dung định nghĩa vật chất:

Định nghĩa vật chất của V I Lênin Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Định nghĩa vật chất của V.I Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:

Ngày đăng: 03/05/2022, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w