1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

final-so-23-tnn-so6-2014-xuat-file_-bong-cuoi2-1

32 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Các Phòng Chuyên Môn Và Các Trung Tâm
Trường học Cục Quản Lý Tài Nguyên Nước
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Nước
Thể loại quyết định
Năm xuất bản 2014
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TNN So6 2014 (xuat file) Layout 1 qxd V�N B�N QUY PH�M PHÁP LU�T � Trưởng Ban biên tập Ông ĐỖ VĂN LANH � Giấy phép xuất bản số 86/GP XBBT Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 9/12/2013 � Trụ sở số 10[.]

Trang 2

Trưởng Ban biên tập: Ông ĐỖ VĂN LANH

Giấy phép xuất bản số: 86/GP-XBBT Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 9/12/2013

Trụ sở: số 10 - Tôn Thất Thuyết - Cầu Giấy - Hà Nội ĐT: (04) 39437516 - 39438057 Fax: (04) 39437417 Email: ttkttnn@gmail.com

Theo đó, Văn phòng có chức

năng theo dõi, đôn đốc cácđơn vị trực thuộc Cục thựchiện chương trình, kế hoạch,nhiệm vụ công tác của Cục; công tác

tổ chức cán bộ; hợp tác quốc tế; thanh

tra, kiểm tra; quốc phòng, an ninh;

thực hiện các công tác tài chính, kế

toán của đơn vị dự toán cấp III; thực

hiện công tác hành chính quản trị,

quản lý cơ sở vật chất, tài sản, trang

thiết bị làm việc; văn thư lưu trữ và bảo

đảm phương tiện, điều kiện làm việc

cho các đơn vị của Cục

Phòng Kế hoạch có chức năng thực

hiện công tác kế hoạch, đầu tư; thống

kê, tổng hợp, báo cáo và công tác khoa

học, công nghệ thuộc phạm vi quản lý

của Cục

Phòng Tài chính có chức năng thực

hiện công tác tài chính, kế toán, quản

lý tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản

lý của Cục, thực hiện trách nhiệm của

đơn vị dự toán cấp II đối với các đơn vị

dự toán trực thuộc Cục

Phòng Pháp chế có chức năng thực

hiện công tác xây dựng văn bản quy

phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục

Phòng Bảo vệ tài nguyên nước có chứcnăng thực hiện công tác bảo vệ tài nguyênnước thuộc phạm vi quản lý của Cục

Phòng Quản lý khai thác nước mặt cóchức năng thực hiện công tác quản lýkhai thác, sử dụng tài nguyên nước mặt,nước biển thuộc phạm vi quản lý của Cục

Phòng Quản lý khai thác nước đất

có chức năng thực hiện công tác quản

lý hoạt động thăm dò, khai thác, sửdụng tài nguyên nước dưới đất, hànhnghề khoan nước dưới đất thuộc phạm

vi quản lý của Cục

Phòng Quản lý lưu vực sông cóchức năng thực hiện công tác quản lýđiều phối, giám sát tài nguyên nướctrên các lưu vực sông thuộc phạm viquản lý của Cục; thực hiện nhiệm vụthường trực Văn phòng Hội đồng quốcgia về tài nguyên nước, Văn phòngthường trực Phân ban Việt Nam trong

Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam - HàLan và các tổ chức lưu vực sông

Phòng Quản lý quy hoạch và điều

tra cơ bản tài nguyên nước có chứcnăng thực hiện công tác quản lý quyhoạch và điều tra cơ bản tài nguyênnước thuộc phạm vi quản lý của Cục.Trung tâm Công nghệ tài nguyênnước là đơn vị sự nghiệp thuộc Cục cóchức năng nghiên cứu, phát triển,triển khai và ứng dụng công nghệtrong quản lý, khai thác, sử dụng, bảo

vệ tài nguyên nước, phòng chống suythoái, ô nhiễm cạn kiệt nguồn nước vàcác tác hại khác do nước gây ra, khôiphục nguồn nước bị suy thoái, ônhiễm; xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếpcông nghệ và sản phẩm hàng hóatrong lĩnh vực tài nguyên nước; thựchiện các hoạt động dịch vụ trong lĩnhvực tài nguyên nước và môi trườngtrên phạm vi cả nước

Trung tâm Thông tin - Kinh tế tàinguyên nước là đơn vị sự nghiệp thuộcCục có chức năngthực hiện các hoạtđộng về thông tin và kinh tế trong lĩnhvực tài nguyên nước; tổ chức thực hiệncác hoạt động về truyền thông, hộithảo, tập huấn và sự kiện có liên quanđến lĩnh vực tài nguyên nước; thựchiện các hoạt động dịch vụ trong lĩnhvực tài nguyên nước và môi trườngtrên phạm vi cả nước

Trung tâm Thẩm định - Tư vấn tàinguyên nước là đơn vị sự nghiệp thuộcCục có chức năng thẩm định các hồ sơ,

số liệu, tài liệu, các đề án, dự án, hồ sơsản phẩm, báo cáo, quy hoạch tronglĩnh vực tài nguyên nước; thực hiện cáchoạt động tư vấn, dịch vụ trong lĩnhvực tài nguyên nước và môi trườngtrên phạm vi cả nước.

Ban hành chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các

phòng chuyên môn và các Trung tâm

Trong tháng 10/2014, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước đã ký ban hành 12 Quyết định Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các phòng chuyên môn và các Trung tâm thuộc Cục Quản lý tài nguyên nước.

Ngày 17/12/2014, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước đã ký ban hành

Quyết định số 269/QĐ-TNN về việc bổ nhiệm ông Đoàn Văn Long, Phó Giám

đốc Trung tâm Công nghệ tài nguyên nước giữ chức Giám đốc Trung tâm Công

nghệ tài nguyên nước

Theo Quyết định, thời gian giữa chức vụ là 05 năm Quyết định này có

hiệu lực kể từ ngày ký ban hành

Bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm Công nghệ

tài nguyên nước

Trang 3

Theo đó, Sở Tài nguyên và Môi

trường sẽ thực hiện chức

năng tham mưu, giúp Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà

nước về tài nguyên và môi trường gồm

các lĩnh vực: Đất đai, tài nguyên nước,

tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi

trường, khí tượng thủy văn, biến đổi

khí hậu, đo đạc và bản đồ, quản lý tổng

hợp và thống nhất về biển và hải đảo,

quản lý và tổ chức thực hiện các dịch

vụ công về các lĩnh vực thuộc phạm vi

chức năng Sở

Đối với lĩnh vực tài nguyên nước,

Sở Tài nguyên có nhiệm vụ lập và thực

hiện quy hoạch tài nguyên nước, kế

hoạch các vấn đề liên quan đến nguồn

nước cũng như việc phòng, chống và

khắc phục hậu quả do nước gây ra trên

lưu vực sông nội tỉnh Khoanh định

vùng cấm, vùng hạn chế, vùng đăng ký

khai thác nước dưới đất, vùng cần bổ

sung nhân tạo nước dưới đất và lập

danh mục hồ, ao, đầm, phá không

được san lấp

Thông tư cũng quy định, Sở Tài

nguyên và Môi trường tỉnh tiến hành

việc thẩm định hồ sơ, gia hạn, điềuchỉnh các vấn đề về giấy phép tàinguyên nước, về thu các phí lệ phí tàinguyên nước theo quy định, cũng nhưviệc tổ chức thực hiện các hoạt độngđiều tra cơ bản, giám sát tài nguyênnước theo phân cấp, kiểm kê, thống

kê, lưu trữ số liệu tài nguyên nước trênđịa bàn và báo cáo lên Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Thông tư liên tịch số50/2014/TTLT-BTNMT-BNV cũng quyđịnh về cơ cấu tổ chức của Sở Tàinguyên và Môi trường, Lãnh đạo Sở

có Giám đốc và không quá 03 PhóGiám đốc, riêng Sở Tài nguyên và Môitrường thành phố Hà Nội và Thànhphố Hồ Chí Minh có không quá 04 PhóGiám đốc

Các tổ chức tham mưu tổng hợp vàchuyên môn, nghiệp vụ gồm các phòngchức năng, các Chi cục và các đơn vị

Phòng Tài nguyên và Môi trườngcấp huyện có nhiệm vụ trình UBND cấphuyện ban hành quyết định, chỉ thị;quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm

và hàng năm; chương trình, biện pháp

tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cảicách hành chính thuộc lĩnh vực tàinguyên và môi trường; Tổ chức thựchiện các văn bản pháp luật, quy hoạch,

kế hoạch sau khi được phê duyệt;…Hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn,nghiệp vụ quản lý nhà nước về tàinguyên và môi trường đối với côngchức chuyên môn về tài nguyên và môitrường thuộc UBND cấp xã

Về tổ chức và biên chế, Phòng Tàinguyên và Môi trường có Trưởngphòng, không quá 02 Phó Trưởngphòng và các công chức chuyên mônnghiệp vụ Thông tư này có hiệu lực thihành từ ngày 20/11/2014.

Ban hành Thông tư số 50/2014 liên tịch

giữa Bộ TNMT và Bộ Nội vụ

Cụ thể, 7 Ủy viên thường trực

gồm: Thứ trưởng Bộ Tài

nguyên và Môi trường

Nguyễn Thái Lai; Thứ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn Hoàng Văn Thắng; Thứ trưởng Bộ

Công thương Cao Quốc Hưng; Thứ

trưởng Bộ Xây dựng Cao Lại Quang;

Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải

Nguyễn Ngọc Đông; Thứ trưởng Bộ

Khoa học và Công nghệ Trần VănTùng; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chínhphủ Nguyễn Cao Lục

7 Ủy viên không thường trựcgồm: Thứ trưởng Bộ Y tế NguyễnThanh Long; Thứ trưởng Bộ Tài chínhTrương Chí Trung; Thứ trưởng Bộ Kếhoạch và Đầu tư Nguyễn ThếPhương; Thứ trưởng Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch Đặng Thị Bích

Liên; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao HàKim Ngọc; Thứ trưởng thường trực

Bộ Công an Đặng Văn Hiếu; Thứtrưởng Bộ Quốc phòng TrươngQuang Khánh

Quyết định này có hiệu lực thihành từ ngày ký và thay thế các vănbản ban hành trước đây liên quan đến

Ủy viên Hội đồng quốc gia về tàinguyên nước.

Phê duyệt danh sách Ủy viên Hội đồng

quốc gia về tài nguyên nước

Ngày 11/11, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải - Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước đã ký ban hành Quyết định số 71/QĐ- HĐQGTNN về phê duyệt Danh sách Ủy viên Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước.

Trang 4

Tháng 11/2014, UBND tỉnh Bắc

Giang đã ban hành Quyết

định số 768/2014/QĐ-UBND

về Ban hành Quy định một số

nội dung về quản lý tài nguyên nước

trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Quyết định nêu rõ các trường hợp

khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả

nước thải vào nguồn nước không phải

đăng ký, không phải xin phép bao

gồm: Khai thác, sử dụng nước cho sinh

hoạt hộ gia đình, cá nhân; khai thác,

sử dụng nước phục vụ các hoạt động

văn hóa, tôn giáo, nghiên cứu khoa

học; khai thác nước dưới đất cho các

hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ với quy mô không vượt quá

10m3/ngày đêm mà không thuộc

trường hợp quy định tại khoản 2 Điều

44 Luật tài nguyên nước;

UBND tỉnh Bắc Giang có thẩmquyền cấp, gia hạn, điều chỉnh, đìnhchỉ hiệu lực, thu hồi giấy phép và cấplại giấy phép về tài nguyên nước vàchuyển nhượng quyền khai thác tàinguyên nước đối với các trường hợpsau: Thăm dò nước dưới đất với côngtrình có lưu lượng dưới 3.000m3/ngàyđêm; khai thác, sử dụng nước mặt chosản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủysản với lưu lượng từ 1,0m3/giây đếndưới 2,0m3/giây; khai thác, sử dụngnước mặt để phát điện với công suấtlắp máy trên 50kW đến dưới 2.000 kW;

xả nước thải với lưu lượng trên10.000m3/ngày đêm đến dưới30.000m3/ngày đêm đối với hoạt độngnuôi trồng thủy sản

UBND tỉnh ủy quyền cho Giámđốc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp,gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực,thu hồi giấy phép và cấp lại giấy phép

về tài nguyên nước và chuyểnnhượng quyền khai thác tài nguyênnước đối với các trường hợp sau: Khaithác, sử dụng nước mặt cho sản xuấtnông nghiệp, nuôi trồng thủy sản vớilưu lượng trên 0,1m3/giây đến dưới1,0m3/giây; khai thác, sử dụng nướcmặt cho các mục đích khác với lưulượng dưới 50.000m3/ngày đêm; khaithác nước dưới đất đối với công trình

có lưu lượng trên 10m3/ngày đêmđến dưới 3.000m3/ngày đêm; vàmột số trường hợp cụ thể khác theoquy định tại Quyết định768/2014/QĐ-UBND.

Ban hành quy định về quản lý tài nguyên nước

Theo Quyết định, Sở Tài nguyên

và Môi trường thực hiện chức năng

tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức

thực hiện việc điều tra, đánh giá tài

nguyên nước đối với nguồn nước nội

tỉnh, liên tỉnh trên địa bàn tỉnh Lào

Cai Việc kiểm kê tài nguyên nước

được thực hiện thống nhất trên phạm

vi toàn tỉnh định kỳ 5 năm/lần, phù

hợp với kỳ kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh

UBND các huyện, thành phố căn cứ

danh mục khu vực phải đăng ký khai

thác nước dưới đất được phê duyệt

phối hợp với UBND xã tổ chức thực

hiện đăng ký khai thác nước dưới đất

trên địa bàn Trình tự, thủ tục đăng ký

được thực hiện theo Điều 6, Thông tư

27/2014/TT-BTNMT Trường hợp tổ

chức, cá nhân đã đăng ký khai thácnước dưới đất, nếu không tiếp tục khaithác, sử dụng thì phải thông báo và trả

tờ khai cho UBND huyện hoặc UBND xã

và thực hiện việc trám, lấp giếng không

sử dụng theo quy định

Sở Tài nguyên và Môi trường LàoCai tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, trìnhUBND tỉnh xem xét, quyết định cấp,gia hạn, điều chỉnh, cấp lại, đình chỉhiệu lực, thu hồi giấy phép hoạt độngtài nguyên nước và hành nghề khoannước dưới đất đối với các trường hợpsau: Thăm dò, khai thác nước dướiđất với quy mô từ trên 50m3/ngàyđêm đến dưới 3.000m3/ngày đêm;

Khai thác, sử dụng nước mặt cho sảnxuất nông nghiệp, nuôi trồng thủysản với lưu lượng từ 0,1m3/giây đếndưới 2,0m3/giây; Khai thác, sử dụngnước mặt để phát điện với công suấtlắp máy trên 50kW đến dưới 2.000kW; Khai thác nước mặt cho các mụcđích kinh doanh, dịch vụ và sản xuấtphi nông nghiệp từ trên 100m3/ngày

đêm đến dưới 50.000m3/ngày đêm;

và một số trường hợp khác theo quyđịnh tại Quyết định số 66/2014/QĐ-UBND

UBND tỉnh ủy quyền cho Giám đốc

Sở Tài nguyên và Môi trường cấp, giahạn, điều chỉnh, đình chỉ hiệu lực, thuhồi giấy phép và cấp lại giấy phép vềtài nguyên nước đối với các trường hợpsau: Khai thác, sử dụng nước dưới đấtcho các hoạt động sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ với quy mô trên10m3/ngày đêm đến 50m3/ngày đêm;

xả nước thải với lưu lượng dưới5m3/ngày đêm trong các lĩnh vực dệtnhuộm, may mặc, luyện kim, tái chếkim loại, mạ kim loại, sản xuất linh kiệnđiện tử, ; xả nước thải vào nguồnnước với lưu lượng từ trên 5m3/ngàyđêm đến 50m3/ngày đêm đối với cáchoạt động khác

Quyết định 66/2014/QĐ-UBND cóhiệu lực kể từ ngày 24/11/2014 và thaythế Quyết định số 16/2008/QĐ-UBNDngày 2/6/2008.

LÀO CAI:

Ban hành quy định quản lý tài nguyên nước

Trang 5

Đây là thông tin mới được quy định

tại Quyết định số

40/2014/QĐ-UBND ngày 13/11/2014 của

UBND thành phố Đà Nẵng

Theo đó, mọi hoạt động quản lý,

bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên

nước, xả nước thải vào nguồn nước và

hành nghề trong lĩnh vực tài nguyên

nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

phải tuân thủ theo quy định của Luật

tài nguyên nước số 17/2012/QH13,

Nghị định số 201/2013/NĐ-CP về quy

định chi tiết một số điều của Luật tài

nguyên nước

Quy định nêu rõ, vùng bảo hộ vệ

sinh khu vực khai thác nước mặt: Đối

với nước mặt là sông, suối thì tính từ

điểm lấy nước (công trình thu nước)

lên thượng nguồn là lớn hơn hoặc bằng

200 mét; và tính từ điểm lấy nước

xuống hạ nguồn là nhỏ hơn hoặc bằng

100 mét Đối với nước mặt là hồ chứa,

đập nước thì tính từ điểm lấy nước ra 2

phía là lớn hơn hoặc bằng 300 mét

Trong khu vực bảo vệ nguồn nướcmặt, nghiêm cấm hành vi xây dựngcông trình trên bờ, trên mặt nước, dướimặt nước (trừ công trình phục vụ choviệc bơm nguồn nước mặt) làm ảnhhưởng tới chất lượng nguồn nước

Đồng thời, nghiêm cấm xả thải vàonguồn nước sông, suối, kênh, rạch, hồ,đầm, ao khi chưa xử lý đạt tiêu chuẩnquy định

Quyết định số 40/2014/QĐ-UBNDcũng đề cập các khu vực hạn chế khaithác nước dưới đất bao gồm: khu vực

có các tầng chứa nước mặn, nhạt xen

kẽ diện tích 40km2, bao gồm mộtphần địa bàn phường Hòa Qúy,phường Hòa Xuân, xã Hòa Phước, xãHòa Châu, xã Hòa Tiến; khu vực cáchbiển, bờ sông Hàn 250 mét vào đấtliền và khu vực quận Liên Chiểu; khuvực đã có hệ thống cung cấp nướcmáy ổn định, đảm bảo cung cấp đầy

đủ các nhu cầu sử dụng nước cho các

tổ chức, cá nhân

Khu vực cấm khai thác nước là khuvực nằm trong vùng nước dưới đất đã

bị nhiễm mặn bao gồm diện tích 20km2

khu vực phía Bắc khu công nghiệp HòaKhánh; phường Thanh Lộc Đán thuộcquận Thanh Khê

Đối với khu vực quận Hải Châu,Thanh Khê và quận Cẩm Lệ: Đến ngày01/01/2015 dùng cấp mới giấy phépkhai thác nước dưới đất; đến năm 2020các đơn vị được cấp giấy phép khaithác nước dưới đất phải ngừng khaithác và trám lấp tất cả các công trìnhkhai thác nước dưới đất

Khu vực quận Liên Chiểu: Đếnngày 01/01/2015 dừng cấp mới giấyphép khai thác nước dưới đất; đồngthời, giảm lưu lượng và số lượng côngtrình khai thác nước hiện có

Quyết định này có hiệu lực thi hành

Quyết định quy định nguyên tắc

khai thác, sử dụng tài nguyên nước

phải đảm bảo phát triển bền vững

Trong đó, dựa trên ba mặt là đảm bảo

phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường

và phát triển xã hội

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh

Quảng Nam là đơn vị chủ trì, phối hợp

với các Sở, ban, ngành thực hiện điều

tra cơ bản tài nguyên nước

Quyết định 37/2014/QĐ-UBND nêu

rõ, tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt

động liên quan đến khai thác, sử dụng

tài nguyên nước mặt, nước biển, nước

dưới đất, xả nước thải vào nguồn nước

và hành nghề khoan nước dưới đấtphải lập thủ tục cấp phép theo quyđịnh, trừ các trường hợp không phảiđăng ký và không phải xin phép đượcquy định tại Nghị định số201/2013/NĐ-CP của Chính phủ

Trước khi xây dựng công trình khaithác nước dưới đất, chủ dự án phảithực hiện thăm dò nước dưới đất đểđánh giá trữ lượng, chất lượng, khảnăng khai thác và phải có giấy phépthăm dò nước dưới đất Sở Tài nguyên

và Môi trường tổ chức khoanh định,công bố vùng phải đăng ký khai thácnước dưới đất, trên cơ sở đó hướngdẫn UBND cấp huyện tổ chức việcđăng ký khai thác nước dưới đất trênđịa bàn

Quyết định cũng quy định, cáckhu vực hạn chế khai thác nước dướiđất bao gồm: Khu vực có nguồn nướcmặt có khả năng đáp ứng ổn định chocác nhu cầu sử dụng nước; khu vực

có mực nước dưới đất bị suy giảmliên tục và có nguy cơ hạ thấp quámức; khu vực có nguy cơ sụt lún đất,xâm nhập mặn, gia tăng ô nhiễm dokhai thác nước dưới đất; khu vực cónguồn nước dưới đất bị ô nhiễm hoặc

có dấu hiệu ô nhiễm nhưng chưa cógiải pháp công nghệ xử lý đảm bảochất lượng; khu đô thị, khu dân cưtập trung ở nông thôn, khu, cụmcông nghiệp tập trung, làng nghề đã

Trang 6

PV: Thưa ông, từ trước đến nay, dư luận cũng như

người dân thường hiểu việc xả nước tại các hồ chứa

gây lũ lụt cho hạ du, đặc biệt là khi hạ du có lũ tương

đối lớn Ý kiến của ông thế nào về vấn đề này?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy:

Về nguyên tắc, trong mùa lũ, thì cơ chế vận hành chung

của tất cả các hồ chứa thủy điện, thủy lợi dù lớn hay nhỏ là

khi hồ chứa đầy, chưa đạt đến mực nước dâng bình thường

thì các hồ chứa nước, nghĩa là lưu lượng xả xuống hạ du nhỏ

hơn lưu lượng lũ về Giai đoạn này các hồ đang giảm lưu

lượng lũ về hạ du hay còn gọi là cắt, giảm lũ

Khi hồ đã đầy rồi thì sẽ xả nước xuống hạ du bằng lưu

lượng đến hồ, không được chứa thêm nước vào hồ để đảm

bảo an toàn công trình Như vậy là trong giai đoạn này thực

chất các hồ sẽ cho toàn bộ nước lũ chảy liên thông qua hồ về

hạ du tương tự như trường hợp không có hồ chứa, không thể

cắt, giảm lũ cho hạ du và cũng không tăng thêm lượng lũ về

hạ du Có thể với một số hồ chứa thủy điện, thủy lợi không có

dung tích phòng lũ, khi lũ về thì hồ đã đầy, không tham gia cắt,

giảm lũ cho hạ du được mà phải vận hành với lưu lượng xả

bằng lưu lượng đến hồ, nhất là khi hạ du đã bị ngập lụt

Đối với trường hợp đó, nếu chỉ quan sát thông thường dòng

nước lũ do hồ xả xuống thôi thì có thể hiểu nhầm là hồ xả nước

gây lũ lụt cho hạ du Tuy nhiên, như tôi vừa trao đổi ở trên là

trong mọi tình huống, khi hồ đã đầy rồi thì không thể tích thêm

nước nữa, mà lũ về bao nhiêu phải xả xuống bấy nhiêu, sẽ không

bảo đảm an toàn đập Nếu để vỡ đập thì còn nguy hại rất lớn

Các nước có hồ chứa đều phải thực hiện các nguyên tắc

nêu trên, chúng ta không phải trường hợp ngoại lệ

Tôi cho rằng thời gian qua do công tác thông tin, tuyên

truyền, hướng dẫn liên quan đến việc vận hành của các hồ

chứa trong mùa lũ đến xã hội, nhất là đến người dân, các

phóng viên, báo chí chúng ta làm chưa tốt, chưa kịp thời; rồi

việc thông báo, cung cấp thông tin của chủ hồ tới các cơ

quan, giữa các cơ quan với nhau cũng chưa tốt…một số

trường hợp chủ hồ còn lúng túng, phối hợp với chính quyền

địa phương chưa tốt cũng là nguyên nhân dẫn đến sự hiểu

nhầm, tạo dư luận không tốt như Nhà báo nêu trên

Nhằm hạn chế các trường hợp tương tự, những nguyên

nhân này cũng đã được xem xét kỹ lưỡng và bổ sung vào 11

quy trình vừa được Thủ tướng ban hành

PV: 11/11 quy trình vận hành liên hồ chứa đã được

công bố Vậy các địa phương tiếp nhận và triển khainhư thế nào thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy:

Theo Quyết định số 1879/QĐ-TTg ngày 13/10/2010 vềviệc phê duyệt danh mục các hồ thủy lợi, thủy điện trên lưuvực sông phải xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa có

61 hồ chứa trên 11 lưu vực sông Đến nay, Bộ Tài nguyên vàMôi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quytrình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông và đưa vàovận hành ngay trong mùa lũ năm 2014

Tại các hội nghị công bố Quy trình, các địa phương đềughi nhận sự nỗ lực, quyết tâm của Bộ Tài nguyên và Môitrường đã tập trung xây dựng, sớm trình Thủ tướng Chínhphủ ban hành các Quy trình

Các địa phương cũng khẳng định, Quy trình đã quy định

cụ thể cơ chế phối hợp vận hành của các hồ trong từng tìnhhuống cụ thể, đề cao trách nhiệm của các địa phương, gắncông tác điều hành hồ với công tác phòng chống lũ lụt củađịa phương, nhưng cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các

cơ quan đơn vị

Hầu hết các địa phương đã gấp rút triển khai việc thựchiện Quy trình như: thông tin, tuyên truyền; triển khai côngtác phối hợp, nhất là việc trao đổi, cung cấp thông tin, số liệucủa các chủ hồ; cung cấp bản tin dự báo khí tượng thủy văn

Cần phối hợp nhịp nhàng trong thực hiện Quy trình vận hành liên hồ chứa

Tính đến hết tháng 10/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ ban hành

11 quy trình vận hành liên hồ chứa để đưa vào thực hiện ngay trong mùa lũ năm 2014 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cụ thể hóa yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn nước trên các lưu vực sông Nhân sự kiện quan trọng này, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy đã trao đổi về ý nghĩa, tầm quan trọng và những nội dung

cơ bản của quy trình vận hành liên hồ chứa mới được ban hành.

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy

Trang 7

của các đài khu vực, trung tâm khí tượng thủy văn; củng cố,

tăng cường năng lực của các Văn phòng Ban chỉ huy Phòng

chống lụt bão và Tìm kiếm cứu nạn (PCLB & TKCN) cấp tỉnh,

tổ chức các nhóm tư vấn, bao gồm cả các chủ hồ…triển khai

xây dựng quy chế phối hợp và sẵn sàng cho việc vận hành

Một số địa phương còn tổ chức hội thảo, tọa đàm nhằm

triển khai tốt quy định của Quy trình: Ví dụ, ngày 31/10 vừa

qua, tại Bình Định, Ban chỉ đạo PCLB Trung ương, phối hợp

Báo Lao Động cùng UBND tỉnh Bình Định tổ chức Tọa đàm

với chủ đề: “Vận hành hợp lý liên hồ chứa, giảm lũ cho hạ du

- Trách nhiệm và thách thức” nhằm bàn luận và đưa ra các

giải pháp hữu hiệu để thực hiện tốt chủ trương mới của Chính

phủ về việc ban hành “Quy trình vận hành liên hồ chứa trên

một số lưu vực sông”

PV: Việc giao trách nhiệm cho Chủ tịch UBND tỉnh là

quyết định đúng đắn Tuy nhiên không phải chủ tịch

nào cũng có chuyên môn như các chuyên gia Liệu có

đảm bảo việc không xảy ra sai sót không thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy:

Chính xác là Trưởng ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và

Tìm kiếm cứu nạn (PCTT và TKCN) cấp tỉnh sẽ quyết định

điều hành các hồ khi dự báo có bão, hoặc các tình huống gây

mưa lũ trên phạm vi địa phương; còn Chủ tịch UBND tỉnh

được giao trách nhiệm quyết định việc vận hành các hồ trong

tình huống xảy ra lũ, lụt bất thường ở hạ du

Tôi cho rằng Chủ tịch là người chỉ đạo, điều hành nhiều

lĩnh vực, khó có người lãnh đạo có chuyên môn ở tất các các

lĩnh vực phụ trách, chưa nói là có chuyên môn sâu như một

chuyên gia Giúp việc Chủ tịch có Ban chỉ huy PCTT và TKCN

cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn chuyên sâu, các chủ hồ và

còn có các chuyên gia

Việc huy động, tổ chức lực lượng chuyên môn am hiểu về

điều hành các hồ, nhất là bộ phận chuyên môn của các nhà

máy thủy điện, Văn phòng Ban chỉ huy PCTT và TKCN cấp

tỉnh để tham mưu, giúp Trưởng ban, Chủ tịch ra quyết định

vận hành hồ sẽ là giải pháp tốt nhất để tránh sai sót

Tôi cho rằng Quy trình đã quy định cụ thể việc quyết định

vận hành hồ trong từng trường hợp Nếu có sự phối hợp nhịp

nhàng giữa các cơ quan, mỗi người đều đề cao trách nhiệm

thì chắc chắn sẽ hạn chế sai sót

PV: Để đề phòng lũ về, có những trường hợp xả lũ

sớm, nhưng lũ vẫn không làm ảnh hưởng đến mùa

màng, tài sản, cuộc sống của người dân Giải quyết tình

trạng này bằng cách nào thưa ông?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy:

Tôi xin khẳng định lại là không phải là “xả lũ sớm” mà sẽ

xả nước hạ mực nước hồ dần dần để tạo thêm dung tích chứa

lũ khi có lũ về

Và một trong những nguyên tắc quan trọng, xuyên suốt

cả Quy trình là phải bảo đảm không gây lũ nhân tạo đột ngột,

bất thường đe dọa trực tiếp đến tính mạng và tài sản của

nhân dân khu vực ven sông ở dưới hạ du hồ chứa

Quy trình quy định việc xả nước này chỉ thực hiện khi lũ

dưới hạ du còn nhỏ, thường là chưa đạt đến báo động I, một

số lưu vực sông cho phép đến báo động II Khi đạt cácngưỡng lũ quy định đó, thì phải vận hành với lưu lượng xảbằng lưu lượng lũ về hồ Nghĩa là không là tăng lũ cho hạ du

Để gắn việc điều hành vận hành các hồ với yêu cầu chống

lũ ở hạ du, Trưởng Ban chỉ huy PCTT và TKCN cấp tỉnh quyếtđịnh xả nước để hạ dần mực nước hồ khi lũ ở hạ du còn thấpnhư nêu trên Như vậy, chế độ xả, lưu lượng, thời gian xả doTrưởng ban quyết định nhằm bảo đảm nguyên tắc trên

Đồng thời, trong quá trình vận hành nếu các bản tin dựbáo tiếp theo (6 giờ một lần) mà dự báo không có lũ nữa thì

sẽ không tiếp tục xả nước đón lũ nữa

PV: Bài học từ những trận lũ, lụt lịch sử của những

năm gần đây cho thấy, khâu cảnh báo, đưa thông tinđến người dân, các chủ đầu tư mặc dù luôn được chủđộng nhưng không phải chỗ nào cũng tiếp nhận được

và hậu quả vẫn xảy ra Quy trình mới được biết triểnkhai theo hệ thống chính quyền ngành dọc từ tỉnhxuống huyện, xuống xã, rồi từ xã đến người dân vớinhững ràng buộc về pháp lý rất rõ ràng Ông có thể nói

rõ về mô hình này cũng như tính ràng buộc pháp lý cụthể ở đây là gì?

Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy:

Rút kinh nghiệm từ thực tế vận hành trong thời gian qua,Quy trình lần này bổ sung quy định cụ thể rõ ràng về nộidung, chế độ, hình thức cung cấp thông tin giữa các cơ quanvới nhau và với người dân khi vận hành các hồ chứa

Việc thông báo việc vận hành các hồ, từ khi bắt đầu thựchiện vận hành giảm lũ cho hạ du (hạ mực nước hồ để đón lũ)đến khi kết thúc một chu kỳ vận hành (đưa mực nước hồ vềmực nước cao nhất trước lũ) được quy định chặt chẽ, giaotrách nhiệm cụ thể: Khi ra lệnh vận hành, Trưởng ban Chỉhuy PCTT và TKCN cấp tỉnh phải thông báo ít Nhất trước 4 giờtính đến thời điểm bắt đầu vận hành tới người dân theo quytrình sau:

Một là, Trưởng ban Chỉ huy PCTT và TKCN cấp huyện;sau đó cơ quan này phải thông báo ngay tới chủ tịch các xã;

và Chủ tịch xã phải tổ chức thông báo đến người dân;

Hai là, đối với trường hợp việc vận hành hồ cơ liên quanđến tỉnh khác (ví dụ như Quảng Nam ra lệnh vận hành nhưng

có ảnh hưởng đến Đà Nẵng), thì phải thông báo cho Trưởngban Chỉ huy PCTT và TKCN cấp tỉnh đó Sau đó, cơ quan này

và các cơ quan nêu trên phải thông báo ngay theo chu trìnhnêu trên để người dân biết, chủ động phòng tránh các rủi rokhông mong muốn

Ba là, song song với quy trình thông báo nêu trên, Quytrình còn yêu cầu các chủ hồ lắp đặt hệ thống báo động,thông tin đến các hộ dân vùng hạ lưu để nhận biết các tínhiệu khi các hồ chứa thủy điện vận hành xả lũ

Trách nhiệm của các cơ quan đơn vị được quy định rõràng, việc không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình sẽ

có chế tài xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Nghịđịnh số 142, nếu thiếu tinh thần trách nhiệm, gây hậu quảnghiêm trọng thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trang 8

Đây là diễn đàn khoa học về

vấn đề Nước do Viện Nghiên

cứu lập pháp thuộc Ủy ban

thường vụ Quốc hội tổ chức

nhằm phục vụ Đoàn Quốc hội Việt Nam

trong quá trình chuẩn bị nội dung tham

gia các phiên họp Đại Hội đồng Liên

minh Nghị viện thế giới 132 (IPU 132),

đặc biệt là các phiên thảo luận và

thông qua Nghị quyết về vấn đề quản

Theo PGS.TS Đinh Xuân Thảo, Việt

Nam và nhiều quốc gia trên thế giới đều

có chung nhận thức rằng, việc khai thác

hợp lý, sử dụng hiệu quả và bền vững

nguồn tài nguyên nước đòi hỏi phải có

một khung pháp lý đủ mạnh, công tác

lập quy hoạch bảo vệ, xây dựng chiến

lược bảo vệ phải có tầm nhìn xa, tính

đến các tác động của tình trạng biến đổi

khí hậu Bên cạnh đó, cần có cơ chế

quản lý giám sát minh bạch, hành động

đủ mạnh, nhất là các quốc gia phải cùng

hành động để quản lý việc sử dụng

nguồn tài nguyên quan trọng này

Tại IPU 132 tổ chức ở Việt Nam tới

đây, Nghị viện của các quốc gia tham

dự đều có trách nhiệm đóng góp ý

kiến, tham gia trao đổi và cam kết

những hành động cần thiết để cùng

thống nhất quan điểm và hành động

trước việc bảo vệ, khai thác, sử dụng

có hiệu quả nguồn tài nguyên nước

Việc cam kết hành động của mỗi quốc

gia đặt ra yêu cầu quốc gia đó phải có

phương án hoàn thiện hệ thống chính

sách, pháp luật, tiến tới hình thành một

cơ chế mới, tương đối hoàn chỉnh về

Theo Thạc sỹ Thái Văn Tiến,Trưởng phòng Pháp chế - Cục Quản lýtài nguyên nước, suốt trong nhiều thế

kỷ qua, câu hỏi về cơ sở pháp lý nàobảo vệ nguồn nước quốc tế đã đượcnêu ra tại nhiều hội nghị ở nhiều khuvực trên thế giới Xuất phát từ vị trí địa

lý và lợi ích, các quốc gia có chungnguồn nước liên quốc gia đã có nhữngquan điểm khác nhau về quyền sửdụng đối phần nguồn nước liên quốcgia trên phần lãnh thổ nước mình vàcho rằng họ có toàn quyền sử dụngđối với phần nguồn nước đó, bất kểđến quyền lợi và những mối đe dọa,tác hại do việc sử dụng nước của mìnhgây ra đối với các quốc gia khác cóchung nguồn nước Vì thế, sự xungđột về lợi ích giữa các quốc gia cùng

chia sẻ các nguồn nước quốc tế xảy ra

là điều tất yếu dẫn đến tranh chấp về

sử dụng nước Những tranh chấp này

đã buộc các quốc gia ở thượng lưu vàcác quốc gia ở hạ lưu phải tìm cáchtháo gỡ bằng cách tạo ra các khuônkhổ pháp lý thích hợp để giải quyếtcác tranh chấp giữa các bên trong việc

sử dụng các nguồn nước quốc tế Kếtquả của những nỗ lực đó là Công ước

về Luật sử dụng các nguồn nước quốc

tế cho các mục đích phi giao thôngđường thủy được đã được Đại hộiđồng Liên Hợp quốc khóa 41 thôngqua ngày 21/5/1997 Tuy nhiên, phảimất gần 20 năm chờ đợi để có đủ 35thành viên tham gia Công ước theoquy định, Công ước bắt đầu có hiệulực và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam chính là thành viên thứ 35tham gia Công ước

Ngày 17 tháng 8 năm 2014, Côngước về Luật sử dụng các nguồn nướcliên quốc gia cho mục đích phi giaothông thủy chính thức có hiệu lực, mở

Tọa đàm “Xây dựng cơ chế mới

về quản lý nước -

Những vấn đề liên quan”

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy phát biểu tại buổi tọa đàm

Trang 9

ra một giai đoạn mới, báo hiệu những

tín hiệu đáng mừng về sự hợp tác

giữa các quốc gia có chung nguồn

nước trong việc quản lý, bảo vệ và

chia sẻ tài nguyên nước công bằng và

hợp lý, chung sức đối phó với lũ lụt,

hạn hán trên các lưu vực sông liên

quốc gia, vì lợi ích của tất cả các quốc

gia, dân tộc, vì sự thịnh vượng, hòa

bình và ổn định chung toàn cầu và

khu vực

QUY HOẠCH TỔNG THỂ VÙNG VÀ

QUY HOẠCH TÍCH HỢP LƯU VỰC

SÔNG PHẢI TRỞ THÀNH CÔNG

CỤ HIỆU QUẢ ĐỂ QUẢN TRỊ NƯỚC

Tại buổi Tọa đàm, TS Phạm Sỹ

Liêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng

đã trình bày tham luận “Quy hoạch

không gian và quản trị nước” cũng cho

rằng, trong quy hoạch không gian, dù

là quy hoạch ngành hay quy hoạch

tổng thể, trước tiên cần xem xét lượng

và chất của các loại nguồn nước có thể

huy động nhằm đáp ứng nhu cầu của

mục tiêu quy hoạch như đời sống, kinh

tế, cảnh quan, môi trường sinh thái,…

để có sự phân bổ nguồn nước và cung

ứng dịch vụ nước hợp lý, công bằng và

hiệu quả Dựa trên cơ sở đó, quy hoạch

đề xuất phải đầu tư xây dựng các hệ

thống công trình hạ tầng ngành nước

phục vụ cho cấp nước, thoát nước, xử

lý nước thải, rác thải và phòng chống

các tai họa do nước gây ra Không chỉ

có thế, quy hoạch không gian còn phải

xem xét mối quan hệ tương tác giữa tài

nguyên nước với các tài nguyên đất và

rừng, và tác động của các hoạt động

san lấp hồ ao, lấn biển,… Trong quy

hoạch các hồ chứa nước lớn, cần xem

xét kỹ điều kiện công trình vì có khả

năng gây ra động đất kích thích với

cường độ cao Tóm lại, quy hoạch tổng

thể vùng và quy hoạch tích hợp lưu vực

sông phải trở thành công cụ hiệu quả

để quản trị nước

“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy,

quy hoạch lưu vực sông là công cụ

thích hợp để quản lý tích hợp tài

nguyên nước, nếu có tổ chức lưu vực

sông đủ quyền lực quản lý hiệu quả

sẽ đem lại sự phồn vinh cho cả một

vùng rộng lớn” - TS Phạm Sỹ Liêm

cho biết thêm

TS Phạm Sỹ Liêm cũng cho rằng,chính sách nước là một trong các cơ sởban đầu để lập quy hoạch nước, và vẫncần tiếp tục bổ sung trong quá trình tổchức thực hiện quy hoạch Để làm tốtcông tác này, chúng ta cần quan tâmđến các mục tiêu sau: Một là, giảm thấtthoát nước Hiện nay ở nước ta, tỷ lệthất thoát nước là khoảng 30%, nếuđặt mục tiêu giảm xuống còn 20% nhưtại các nước khác thì sẽ tiết kiệm đầu

tư phát triển công suất mới khoảng670.000 m3/ngày đêm với chi phíkhoảng 150 triệu USD Hai là, giảm trợcấp cho các dịch vụ nước, cần có lộtrình để thực hiện nguyên tắc “ngườihưởng lợi và kẻ gây ô nhiễm phải trảtiền”, thu đủ cho dịch vụ cấp nước sẽkhiến bên sử dụng không lãng phínước Ba là, khuyến khích tiết kiệmnước bằng việc thu gom nước mưa tạicác vùng khô hạn, nhiễm mặn và hảiđảo, áp dụng công nghệ sử dụng nướctiên tiến, tái sử dụng nước thải đã qua

xử lý Bốn là, xử lý nước thải côngnghiệp và đô thị thành một ưu tiênquốc gia;…

CÁC NGÀNH KINH TẾ ĐANG GẦN NHƯ SỬ DỤNG MIỄN PHÍ NGUỒN NƯỚC

Còn theo PGS.TS Nguyễn ThếChinh, Phó Viện trưởng Viện Chiếnlược chính sách và Môi trường, nước

là một trong những nguồn tài nguyênđầu vào cơ bản cho hoạt động kinh

tế Nguồn thu thực tế từ tài nguyênnước chủ yếu từ việc thu thuế, phí, lệphí tài nguyên nước, cụ thể là thuếđối với hoạt động khai thác nước chothủy điện, phí, lệ phí cấp phép khaithác, sử dụng tài nguyên nước và xảnước thải vào nguồn nước, giá nướcsinh hoạt Song nguồn thu này khôngtương xứng với tốc độ phát triển kinh

tế xã hội “Theo thống kê, số phí thuđược từ các tổ chức, cá nhân xin cấpphép tài nguyên nước với quy mô do

Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp đạtkhoảng 2,96 tỷ đồng, trong khi hoạtđộng sản xuất chiếm 41% GDP củaquốc gia Số thuế thu được từ hoạtđộng khai thác nước cho thủy điệnkhoảng 2.900 tỷ đồng chiếm khoảng0,7%GDP quốc gia Trong khi đó,

hàng ngày cả nước đang khai tháchàng triệu m3 nước sử dụng cho sảnxuất và sinh hoạt nhưng lại chưa thuthuế Theo thống kê dự toán thungân sách năm 2014 của Bộ Tàichính, tổng thu ngân sách khả năngđạt 782.700 tỷ đồng, trong đó thu từtiền thuê đất, mặt nước dự kiến là4.784 tỷ, nhìn vào con số này chứng

tỏ các ngành kinh tế đang gần như sửdụng miễn phí nguồn nước Đóng gópcho ngân sách không đáng kể” -PGS.TS Nguyễn Thế Chinh dẫn số liệuminh chứng

CẦN NHÌN NHẬN NƯỚC LÀ HÀNG HÓA KINH TẾ - XÃ HỘI

Theo dự báo, trong tương lai ViệtNam sẽ thiếu nước, trong đó cónguyên nhân khai thác sử dụng nướclãng phí, không sử dụng nước tuầnhoàn và tái sử dụng nước, không sửdụng các biện pháp xử lý nước thảitốt,… làm cho các chi phí về nước ngàycàng tăng cao đối với một số đốitượng, một số đối tượng khác lạikhông có nước dùng do thiếu chi phíđầu tư vào khai thác nguồn nước, đặcbiệt là nước sạch, nước sinh hoạt

Và để hướng tới mục tiêu khaithác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệuquả và thực hiện nguyên tắc “ngườihưởng lợi từ tài nguyên nước phải trảtiền”, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh cũng

đề xuất một số biện pháp về xác lậpgiá nước, phải coi nước là hàng hóakinh tế - xã hội, đồng thời, cần ápdụng các cơ chế tăng thuế suất, tăngphí, lệ phí khai thác, sử dụng tàinguyên nước; thực hiện cơ chế đấugiá quyền khai thác nước, nước cầnphải được định giá, tài nguyên nướckhông phải là vô hạn Bên cạnh đó,cần xã hội hóa các dịch vụ cung cấpnước cũng sẽ góp phần tăng cơ hộikinh doanh và cạnh tranh, phát triểndoanh nghiệp, đặc biệt là doạnhnghiệp nhỏ, trong khi người tiêu dùngcũng được hưởng lợi hơn khi được sửdụng các dịch vụ tốt, mang tính cạnhtranh thông qua cơ chế xã hội hóa.Ngoài ra, cần giảm dần và tiến tới loại

bỏ trợ cấp nước đối với thuế, phí và

lệ phí đối với việc khai thác và sửdụng nguồn tài nguyên nước;…

Trang 10

Nhằm chuẩn bị thông tin hỗ

trợ Đoàn Quốc hội Việt Nam

trong quá trình tham gia

đóng góp ý kiến thảo luận và

xem xét biểu quyết thông qua Nghị

quyết về “Định hình cơ chế mới về

quản trị nguồn nước: thúc đẩy hành

động của Nghị viện về vấn đề nước” tại

Đại hội thế giới lần thứ 132, ngày

12/12 tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu lập

pháp thuộc Ủy ban thường vụ quốc hội

đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi

trường tổ chức Hội thảo khoa học quốc

tế “Quốc hội với việc định hình cơ chế

mới về quản trị nguồn nước”

Đến dự và chủ trì Hội thảo có đồng

chí Uông Chu Lưu, Uỷ viên Ban chấp hành

Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch quốc hội;

Đồng chủ trì Hội thảo có các đồng chí

Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên

cứu lập pháp, đồng chí Hà Văn Thâm

-Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc

hội, đồng chí Nguyễn Thái Lai - Thứ

trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN

CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT

VỀ QUẢN TRỊ NƯỚC

Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch

Quốc hội Uông Chu Lưu cho biết, theo

thỏa thuận của Liên minh Nghị viện thế

giới và Quốc hội Việt Nam, Đại hội

đồng IPU lần thứ 132 sẽ được tổ chứctại thủ đô Hà Nội từ ngày từ ngày 28/3đến 01/4/2015 Theo dự kiến Chươngtrình tại Phiên họp Đại Hội đồng IPU

132, các Nghị viện thành viên tham dự

sẽ trao đổi nhiều nội dung quan trọngnhằm thúc đẩy hành động chung đểứng phó và giải quyết một số vấn đềmang tính toàn cầu Trên cơ sở đề xuấtcủa Việt Nam, một chủ đề quan trọngliên quan đến phát triển bền vững đượcđưa ra tại phiên họp Đại hôwi đồng đểNghị viện các quốc gia cùng thảo luận

và định hình cơ chế mới về quản trịnước, thúc đẩy hành động của các Nghịviện về nước

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông ChuLưu cũng chia sẻ, để phục vụ đoànQuốc hội Việt Nam trong quá trìnhtham gia đóng góp ý kiến và thúc đẩythông qua Nghị quyết về vấn đề quảntrị nước trên tinh thần coi công tácquản trị nước như một ưu tiên quốc gianhằm mục tiêu phát triển bền vữngtrong giai đoạn sau năm 2015 dựa trên

3 nguyên tắc là quyền có nước antoàn; phát triển tích hợp tiếp cận, tíchhợp về quản lý nước và tập trung vàoquá trình xử lý nước thải Các ý kiếntại hội thảo sẽ là nguồn thông tin quantrọng để các thành viên của đoàn quốchội Việt Nam tham dự Đại hội đồng

IPU 132 tham khảo trong quá trìnhđóng góp ý kiến, thảo luận và chia sẻ,tranh thủ sự đồng thuận của Nghị việncác quốc gia kiến nghị thông qua Nghịquyết về vấn đề quản trị nước tại Đạihội đồng IPU 132

Báo cáo tại Hội thảo, Cục trưởngCục Quản lý tài nguyên nước HoàngVăn Bẩy cho biết, quản lý tài nguyênnước ở Việt Nam trong thời gian gầnđây đã được cải thiện đáng kể về mặtpháp lý, cấu trúc thể chế và các cơ chếquản lý và đã góp phần vào sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Đểtriển khai thi hành Luật tài nguyênnước năm 1998, Bộ Tài nguyên và Môitrường đã xây dựng, trình Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc

Bộ ban hành theo thẩm quyền tổng sốgần 35 văn bản pháp luật về TNN Tuynhiên, để bảo đảm tính đồng bộ, đápứng yêu cầu quản lý tài nguyên nướctrong tình hình mới, ngày 21 tháng 6năm 2012 Quốc Hội đã thông qua Luậttài nguyên nước số 17/2012/QH13.Sau gần 2 năm triển khai, Bộ Tàinguyên và Môi trường đã xây dựng,trình Chính phủ 04 Nghị định; Thủtướng Chính phủ đã ban hành 14Quyết định và 11 Thông tư hướng dẫn

để triển khai đồng bộ các quy định củaLuật tài nguyên nước 2012

Quốc hội với việc định hình

cơ chế mới về quản trị nước

Phó Chủ tịch quốc hội Uông Chu Lưu phát biểu tại Hội thảo Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu tại Hội thảo

Trang 11

QUỐC HỘI ĐÓNG VAI TRÒ QUAN

TRỌNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG,

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP

LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

Theo ông Đặng Thế Vinh, Quốc

hội và các cơ quan của Quốc hội đóng

vai trò quan trọng trong việc xây

dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

về tài nguyên nước thông qua việc

thực hiện các chức năng, nhiệm vụ

quyền hạn của mình Để thực hiện các

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

mình đối với việc hoàn thiện hệ thống

pháp luật về tài nguyên nước, Quốc

hội và các cơ quan của Quốc hội cần

tiếp tục giám sát việc ban hành các

văn bản hướng dẫn thi hành Luật tài

nguyên nước năm 2012; giám sát việc

thực hiện pháp luật về tài nguyên

nước của các cơ quan nhà nước;

nghiên cứu, phát hiện các vấn đề phát

sinh trong thực tế khai thác, sử dụng

tài nguyên nước thông qua giám sát,

khảo sát, tiếp xúc cử tri và đề nghị

các bộ, ngành có liên quan có biện

pháp xử lý kịp thời; xây dựng các

chính sách định vị tầm quan trọng của

tài nguyên nước trong quá trình phát

triển kinh tế - xã hội;…

Tại Hội thảo, nguyên chủ nhiệm Ủy

ban đối ngoại Quốc hội Vũ Mão cũng

cho rằng, việc nước ta gia nhập Công

ước về Luật sử dụng các nguồn nước

quốc tế cho các mục đích phi giao

thông đường thủy đã tạo ra cơ sở pháp

lý thuận lợi cho Việt Nam tiến hành

đàm phán, ký kết các thỏa thuận song

phương, đa phương với các quốc gia có

chung nguồn nước về hợp tác, giải

quyết tranh chấp, bất đồng và xử lý các

vấn đề liên quan đến nguồn nước liên

quốc gia, nhất là trong điều kiện Việt

Nam phụ thuộc vào việc khai thác, sử

dụng, bảo vệ nguồn nước của các quốc

gia ở thượng nguồn

Bên cạnh đó, ông Vũ Mão cũng

nêu ra số liệu dẫn chứng và đưa ra

một số kiến nghị về nâng cao vai trò

của các tổ chức Liên Nghị viện trong

việc tác động tới hiệu quả sử dụng tài

nguyên nước trên thế giới; vai trò phê

duyệt Chiến lược tài nguyên nước và

Quy hoạch tài nguyên nước của Quốc

hội; đưa công tác quản lý tài nguyên

nước về một đầu mối ở tầm vĩ mô; Xúctiến ngay việc quy hoạch và quản lýnước ngầm;…

VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA SỚM THỰC HIỆN CHỨC NĂNG QUẢN LÝ THỐNG NHẤT TÀI NGUYÊN NƯỚC

Còn theo Bà Đỗ Hồng Phấn,chuyên gia tài nguyên nước thì cải cáchthể chế ngành nước đã xẩy ra phổ biến

ở cả các quốc gia phát triển và quốc giađang phát triển Trong một thời kỳ dàilịch sử, quốc gia nào cũng có cácbộ/ngành khác nhau phụ trách việckhai thác tài nguyên nước theo yêu cầu

sử dụng nước chuyên ngành như thủyđiện, tưới, giao thông thủy Sau đó mớidần dần chuyển sang quản lý thốngnhất tài nguyên nước cấp quốc gia

Động lực chủ yếu thúc đẩy sự chuyểnbiến này là yêu cầu nước tăng nhanhcùng với tăng trưởng dân số, tàinguyên lưu vực sông suy thoái, sửdụng cạnh tranh, nguồn nước ô nhiễm

“Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á

đã thực hiện vào loại sớm nhất bướctách chức năng cơ bản này Năm 2002

đã chuyển chức năng quản lý tàinguyên nước từ Bộ NN&PTNT sang BộTN&MT Từ đó, Việt Nam đã hìnhthành rõ ràng hai sự nghiệp, một sựnghiệp là quản lý tài nguyên nước vàlưu vực sông, một sự nghiệp nữa(nhiều bộ/ ngành) là quản lý khai tháccông trình thủy lợi, thủy điện các loại

và quản lý dịch vụ nước” - Bà Phấnchia sẻ

Tham luận tại Hội thảo, đại diện Tổchức bảo tồn thiên nhiên quốc tế(IUCN) cũng cho rằng, Quốc hội là cơquan phù hợp để xử lý các vấn đề vềnước, trong đó có các vấn đề như nộiđịa hóa các luật quốc tế thành luậtquốc gia

Đồng tình với quan điểm trên, ôngTom Kompier, Đại sứ quán Hà Lan tạiViệt Nam cũng cho rằng, Quốc hội lànơi chính sách của các ngành, quốc gia

và địa phương được mang ra để cùngthảo luận Quốc hội đóng vai trò rấttổng quát Với suy nghĩ hướng về lợi íchquốc gia, Quốc hội có thể và nên kiêntrì, không ngừng đặt câu hỏi về mốiquan hệ giữa đầu tư ngắn hạn và chínhsách tác động lâu dài

Theo ông Lê Hồng Nam - Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, tổ chứcquản lý tài nguyên nước ở Việt Namhiện còn phân tán và chồng chéo, hiện

có những nội dung rất khó quản lý gâykhó khăn cho công tác quản lý tàinguyên nước Ví dụ như sự tham giacủa người dân trong quản lý tưới tiêu,

hệ thống công trình thủy lợi hiện nay

Từ năm 2008, khi có chính sách miễnthu thủy lợi phí đã khiến cho người dânnghĩ rằng các công trình đã được Nhànước chi trả nên không có động lựcdùng nước tiết kiệm, không bảo vệcông trình thủy lợi, không huy độngđược sự tham gia của người dân thamgia các hoạt động xã hội hóa cung ứngcác dịch vụ về nước Như vậy, rõ ràng

là việc bỏ thủy lợi phí chính là bước lùi

về quản lý sử dụng nước ở nước ta.Tổng hợp một số ý kiến thảo luậntại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên

và Môi trường Nguyễn Thái Lai chorằng, các ý kiến tham luận đã đưa racác gợi mở, Quốc hội có vai trò hết sứcquan trọng, vai trò quyết định trongviệc định hình cơ chế mới trong quảntrị nguồn nước Quốc hội đang thực thi,giám sát việc thực thi pháp luật nóichung và pháp luật về tài nguyên nướcnói riêng Luật tài nguyên nước năm

2012 được ban hành đã có nhiều thayđổi tiến bộ so với Luật năm 1998 Bêncạnh đó, Việt Nam cũng đã ban hànhđược Chiến lược quốc gia về tài nguyênnước đến năm 2020 Điều đó thể hiện

sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủđối với lĩnh vực tài nguyên nước

Đối với vấn đề các đại biểu đưa ra

bộ so với các nước trong khu vực” - Thứtrưởng Nguyễn Thái Lai cho biết.

Trang 12

Ngày 5/12, tại Đồng Nai, Bộ

Tài nguyên và Môi trường đã

phối hợp với Ủy ban nhân

chứa trên lưu vực sông Đồng Nai trong

mùa lũ hàng năm Thứ trưởng Bộ Tài

nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai

và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Võ

Văn Chánh đồng chủ trì Hội nghị

Hội nghị có sự tham dự của đại

diện 8 tỉnh, thành lưu vực sông Đồng

Nai, các đơn vị vận hành hồ chứa, các

Đài Khí tượng thủy văn, Ban Chỉ huy

phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu

nạn và các Bộ ngành liên quan; đại

diện các Sở; đại diện các đơn vị quản

lý, vận hành các hồ chứa và các cơ

quan thông tấn, báo chí

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn

Thái Lai nhấn mạnh, Quy trình vận

hành liên hồ chứa trên lưu vực sông

Đồng Nai trong mùa lũ hàng năm đã

được Thủ tướng Chính phủ ban hành

tại quyết định số 1892/QĐ-TTg có ý

nghĩa hết sức quan trọng nhằm bảo

đảm sử dụng tổng hợp nguồn nước và

phòng, chống tác hại do nước gây ra

trên phạm vi toàn lưu lực

Để triển khai thực hiện, đưa các quy

định của Quy trình vào thực tế cuộc

sống có hiệu quả, Thứ trưởng Nguyễn

Thái Lai cũng yêu cầu Cục Quản lý tài

nguyên nước cần tập trung hướng dẫn

việc thực hiện Quy trình, tạo sự thống

nhất về nhận thức, hành động Trung

tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia tổ

chức quan trắc, dự báo; cung cấp kịp

thời, đầy đủ các số liệu về khí tượng và

thủy văn cho Ban chỉ huy phòng chống

thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các tỉnh

trên lưu vực sông Đồng Nai và các đơn

vị quản lý, vận hành hồ chứa

Bên cạnh đó, các đơn vị, quản lý

vận hành hồ cần quán triệt, thực hiện

nghiêm túc các quy định của Quy trình;

phối hợp chặt chẽ với Ban chỉ huyphòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứunạn các tỉnh trên lưu vực, các Bộ,ngành, các cơ quan tại địa phương vàđặc biệt phải nâng cao hơn nữa tráchnhiệm của mình trong việc bảo đảm antoàn, phòng, chống, giảm lũ cho khuvực hạ du sông Đồng Nai

Thứ trưởng Nguyễn Thái Lai cũng đềnghị Ủy ban nhân dân các tỉnh tập trungchỉ đạo thực hiện tốt một số công tác tổchức thông tin, tuyên truyền, giải thíchcông khai Quy trình trên các phương tiệnthông tin đại chúng Đồng thời, chỉ đạoxây dựng phương án chủ động phòng,chống lũ lụt và tổ chức thực hiện các biệnpháp ứng phó với các tình huống lũ, lụttrên địa bàn; kiểm tra, giám sát việc thựchiện Quy trình đối với các đơn vị quản lý,vận hành hồ trên địa bàn Bên cạnh đó,cần tập trung nguồn lực, tăng cườngnăng lực cho Ban chỉ huy phòng chốngthiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh cả

về cơ sở vật chất, trang thiết bị và conngười để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụcủa mình, đặc biệt là trong việc ra quyếtđịnh vận hành trong mùa lũ

Tại Hội nghị, Cục trưởng Cục Quản lýtài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy đã giớithiệu những nội dung cơ bản của Quytrình vận hành liên hồ chứa trên lưu vựcsông Đồng Nai trong mùa lũ hàng năm

Theo đó, mùa lũ trong quy trìnhđược quy định từ ngày 01/7 đến ngày30/11 đối với các hồ: Thác Mơ, CầnSơn, Srok Phu Miêng, Phước Hòa, ĐồngNai 2, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, ĐắkR’Tih, Đồng Nai 5, Trị An, Hàm Thuận,

Đa Mi, Dầu Tiếng; và từ ngày 01/8 đếnngày 31/12 đối với các hồ: Đơn Dương

và Đại Ninh phải vận hành theo nguyêntắc thứ tự ưu tiên như sau: Đảm bảo

an toàn tuyệt đối cho công trình thủyđiện góp phần giảm lũ cho hạ du vàđảm bảo hiệu quả phát điện

Về nguyên tắc vận hành, các hồ khivận hành giảm lũ cho hạ du cần bảođảm không gây lũ nhân tạo đột ngột,bất thường đe dọa trực tiếp đến tínhmạng và tài sản của nhân dân khu vựcven sông ở dưới hạ du hồ chứa và đây

là yêu cầu xuyên suốt trong việc vậnhành các hồ trong mùa lũ

Quy trình cũng quy định cụ thể vềchế độ vận hành giảm lũ cho hạ dusông Đồng Nai, trách nhiệm của các cơquan, đơn vị liên quan như: tráchnhiệm của Trưởng Ban Chỉ huy phòng,chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạncác cấp; trách nhiệm của Chủ tịchUBND tỉnh; trách nhiệm của TrưởngBan chỉ đạo trung ương về phòng,chống thiên tai; trách nhiệm của các

Bộ, ngành; trách nhiệm của Giám đốcđơn vị quản lý, vận hành;…"

Hội nghị Công bố Quy trình vận hành

liên hồ chứa trên lưu vực sông Đồng Nai

Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai phát biểu tại Hội nghị

Trang 13

Hội thảo được tổ chức ngày 31/10 tại TP Quy

Nhơn, tỉnh Bình Định nhằm bàn luận và đưa ra

các giải pháp hữu hiệu để thực hiện tốt nhất chủ

trương mới của Chính phủ về việc “Quy trình vận

hành liên hồ chứa trên một số lưu vực sông” Đặc biệt là

tăng cường khả năng phòng tránh lũ lụt, hạn hán cho hạ du,

góp phần điều chỉnh các cơ chế chính sách vận hành liên hồ,

liên quan đến lưu vực các sông trên khu vực Miền Trung và

Tây Nguyên

11 QUY TRÌNH VẬN HÀNH LIÊN HỒ CHỨA ĐÃ ĐƯỢC

BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN TRONG MÙA LŨ 2014

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài

nguyên nước Châu Trần Vĩnh cho biết, thực hiện Quyết định

số 1879/QĐ-TTg ngày 13/10/2010 về việc phê duyệt danh

mục các hồ thủy lợi, thủy điện trên lưu vực sông phải xây

dựng quy trình vận hành liên hồ chứa, Bộ Tài nguyên và Môi

trường đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quy trình

vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông và đưa vào vận

hành ngay trong mùa lũ năm 2014

“Thay vì vận hành đơn hồ, với quy trình mới, các nhà

máy thủy điện phải tuân thủ quy tắc liên hồ Quy trình mới

đã nâng trách nhiệm của chủ hồ đối với hạ du và tăng quyền

điều hành của chính quyền địa phương trong việc cắt lũ và

cung cấp nước tưới cho hạ du Theo quy trình mới, những

mục tiêu ưu tiên đã có sự đảo ngược cơ bản và đặt quyền lợi

của nhân dân hạ du lên trên hết, chủ hồ chỉ được quyết định

vận hành trong điều kiện thời tiết bình thường, nhưng phải

khống chế ở mực nước hồ không được vượt quá mực nước

trước lũ.Trưởng Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và Tìm

kiếm cứu nạn cấp tỉnh quyết định việc vận hành các hồ khi

dự báo có khả năng xuất hiện các tình huống gây mưa lũ”

-Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh cho biết

TRÁCH NHIỆM VÀ NHỮNG THÁCH THỨC MỚI

Ông Nguyễn Văn Vỹ, Trung tâm PCLB khu vực miền Trung

và Tây Nguyên cũng cho rằng, các quy trình vận hành liên hồ

chứa đã có nhiều điểm mới phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là

đã tăng dung tích phòng lũ đáng kể của các hồ Tuy nhiên,

vẫn còn một số thách thức không nhỏ đối với công tác vận

hành quy trình liên hồ chứa trên các lưu vực sông lớn tại khu

vực miền Trung và Tây Nguyên đó là năng lực về quản lý,

theo dõi và vận hành hồ đập tại Việt Nam còn nhiều bất cập,

chưa thể khắc phục ngay; Thời gian thực hiện các Quy trình

vận hành liên hồ chứa quá ít, chưa có sự chuẩn bị cần thiết

từ phía các địa phương, nhất là thực thi trách nhiệm của

Trưởng Ban chỉ huy PCTT và TKCN tỉnh trong hài hòa lợi ích

phát điện và dân sinh trong những trận mưa, bão gây lũ lớn;Nhân lực giúp việc chính cho Ban chỉ huy PCTT và TKCN tỉnhcòn thiếu, yếu, lại làm việc kiêm nhiệm, khó có thể đảm nhậntham mưu cho Trưởng Ban chỉ huy PCTT tỉnh có thể ranhững quyết định quan trọng;…

Để giải quyết và hạn chế những thách thức trên, ôngNguyễn Văn Vỹ cũng đưa ra những kiến nghị như tiếp tụcxây dựng cơ chế phối hợp cụ thể giữa các hồ, giữa các địaphương, của các Bộ, ngành trong việc chỉ đạo, điều hành,kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình của các chủ hồ,các cơ quan có liên quan, nhất là các lưu vực sông liên tỉnh;Đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời qua những đợt mưa, lũlớn; Cần bổ sung tăng dày các trạm đo mưa, đảm bảo giámsát được toàn bộ lượng mưa của lưu vực, nhất là vùngthượng lưu hệ thống các sông và thượng lưu các hồ chứa,nhằm khống chế được lưu lượng về các hồ và lưu lượng xảxuống hạ lưu;…

Đồng tình với nội dung trên, Ông Huỳnh Vạn Thắng,chuyên gia thủy lợi Đà Nẵng cũng cho rằng, các Quy trìnhvận hành mới xây dựng rõ ràng với các nguyên tắc vận hành,với các quy định tương đối cụ thể về mực nước hồ, đặc biệt

là quy định mực nước cao nhất trước lũ và mực nước đón lũcủa từng hồ chứa Các công trình Thủy điện đã được xâydựng gần như không có dung tích phòng lũ Quy trình đã sửdụng một phần dung tích hữu ích của hồ để làm dung tíchphòng lũ và cắt giảm đỉnh lũ Đây là giải pháp dung hòa, là

sự chia sẻ giữa các chủ đầu tư với người dân ở hạ du.

Hội thảo “Vận hành hợp lý liên hồ chứa,

giảm lũ cho hạ du - Trách nhiệm

và thách thức”

Bà Trần Thị Thu Hà - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định; Ông Trần Duy Phương - Tổng Biên tập Báo Lao Động; Ông Châu Trần Vĩnh - Phó Cục trưởng Cục QLTNN đồng chủ trì Hội thảo

Trang 14

Sáng 10/12, tại Hà Nội, Bộ Tài

nguyên và Môi trường đã tổ

chức Hội thảo quốc gia về

“Đào tạo, phát triển đội ngũ

chuyên gia, cán bộ khoa học và công

nghệ trong các lĩnh vực tài nguyên và

môi trường” Đến dự và chủ trì Hội thảo

có Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi

trường Nguyễn Minh Quang, Thứ

trưởng Nguyễn Thái Lai, Thứ trưởng

Bùi Cách Tuyến, đồng chủ trì có Thứ

trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

Phạm Công Tạc

Tham dự Hội thảo có hơn 300 đại

biểu đại diện cho các Bộ, ngành, địa

phương, các trường Đại học, cơ quan

nghiên cứu, các chuyên gia trong lĩnh vực

tài nguyên và môi trường các cơ quan

thông tấn báo chí Trung ương và Hà Nội

Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng

Nguyễn Minh Quang cho biết, Hội thảo

này được tổ chức nhằm mục đích tổng

kết, đánh giá thực trạng đội ngũ

chuyên gia, cán bộ khoa học và công

nghệ; dự báo nhu cầu nhân lực đối với

từng lĩnh vực Từ đó, xác định các giải

pháp hữu hiệu về đào tạo, phát triển

đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học

và công nghệ cho ngành tài nguyên và

môi trường trong thời gian tới

Bộ trưởng cũng cho rằng, Hội thảo

được tổ chức trong bối cảnh khoa học

công nghệ và kinh tế trí thức của thế

giới đang phát triển mạnh mẽ, đặt ra

yêu cầu mỗi quốc gia, mỗi Bộ, ngành,

địa phương phải có chiến lược phát

triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn

nhân lực chất lượng cao

Tại Hội thảo, Bộ trưởng Nguyễn

Minh Quang cũng đề nghị các đại biểu

thảo luận và tập trung làm rõ một số

vấn đề như sau: Đánh giá đúng thực

trạng đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa

học và công nghệ và thực trạng công

tác đào tạo, phát triển 2 đội ngũ này

của ngành TNMT Qua đó, đề xuất cácchủ trương, giải pháp đẩy mạnh côngtác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển độingũ chuyên gia, cán bộ khoa học côngnghệ; đồng thời, đề xuất các cơ chế,chính sách để tháo gỡ những vướngmắc hiện nay trong công tác đào tạo,phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộkhoa học công nghệ ngành TNMT

Theo ông Nguyễn Đắc Đồng, Vụtrưởng Vụ Khoa học và công nghệ - BộTN&MT, nhân lực KH&CN của Bộ tậptrung tại các tổ chức khoa học và côngnghệ thuộc Bộ bao gồm 7 viện nghiêncứu, 2 trường đại học và 01 trường caođẳng Bên cạnh đó, xuất phát từ yêucầu thực tiễn cần có các nghiên cứuphục vụ công tác quản lý nhà nước nênlực lượng cán bộ ở các tổng cục, cục,trung tâm cũng tích cực tham gianghiên cứu khoa học và công nghệ

Tính đến tháng 11/2014, đội ngũ cán

bộ khoa học và công nghệ ngành TNMT

ở cấp trung ương là 7.318 người, tậptrung ở lĩnh vực tài nguyên nước là 710người, khí tượng thủy văn và biến đổikhí hậu là 2.060 người, địa chất vàkhoáng sản là 1.415 người, đất đai là

606 người,… Bộ TN&MT hiện có 04 giáo

sư, 26 phó giáo sư, 244 tiến sĩ, 1331thạc sĩ và 5744 cử nhân, kỹ sư Cả nướchiện có khoảng 80 cơ sở đào tạo nhânlực KH&CN về lĩnh vực TNMT; trong đó

có khoảng 20 cơ sở đào tạo trình độthạc sĩ và tiến sĩ, 20 cơ sở có thành lậpkhoa, ngành do Bộ TN&MT quản lý.Báo cáo tham luận tại Hội thảo,PGS.TS.NGƯT Tạ Đức Thịnh cho rằng,chất lượng nguồn nhân lực KH&CN nóichung, trong lĩnh vực tài nguyên và môitrường nói riêng được quyết định bởi độingũ giảng viên trong các cơ sở giáo dụcđại học Do vậy, việc đào tạo giảng viên

có trình độ tiến sĩ trong các cơ sở giáodục đại học về lĩnh vực tài nguyên vàmôi trường được coi là một trong nhữnggiải pháp đột phá để nâng cao chấtlượng đào tạo nguồn nhân lực trình độcao Do vậy, cần có giải pháp đồng bộ,hiệu quả để đào tạo, bồi dưỡng, nângcao chất lượng đội ngũ giảng viên trongcác cơ sở giáo dục đại học đào tạo vềtài nguyên và môi trường

Còn theo PGS.TS Hà Duy Ngọ, ViệnHàn lâm Khoa học và Công nghệ ViệtNam, để có được đội ngũ chuyên gia,cán bộ khoa học và công nghệ đápứng được yêu cầu, cần có các giải

Hội thảo quốc gia về đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực tài nguyên

và môi trường

Trang 15

pháp về quy hoạch chi tiết nguồn nhân

lực đối với từng lĩnh vực khoa học công

nghệ cụ thể; rà soát và ban hành mới

các chính sách đào tạo, bồi dưỡng,

trọng dụng, đãi ngộ, thu hút đội ngũ

chuyên gia và cán bộ khoa học công

nghệ; tăng cường nâng cao năng lực

cho các cơ sở đào tạo; chú trọng đào

tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học

công nghệ đầu ngành;…

Bên cạnh các ý kiến và các tham

luận của các chuyên gia trong nước, đạidiện cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản(JICA) cũng đã có bài phát biểu cam kết

hỗ trợ đào tạo các lớp tập huấn về tàinguyên và môi trường, góp phần pháttriển nguồn nhân lực cho Bộ TN&MT

Phát biểu kết luận kết thúc phiênthảo luận buổi sáng, Thứ trưởng Bộ Tàinguyên và Môi trường Nguyễn Thái Laicho rằng, khoa học kỹ thuật là vấn đềthen chốt, công tác cán bộ có vai trò

quan trọng Bộ TN&MT tổ chức hội thảonày với mong muốn các đại biểu đưa racác kiến nghị, giải pháp thay đổi mangtính đột phá để trong những năm sắptới sẽ xây dựng được đội ngũ chuyêngia, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuậtđầu ngành giúp Bộ đưa ra những cơchế, chính sách tốt hơn nữa, thúc đẩyngành tài nguyên và môi trường ngàycàng phát triển đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Là hoạt động nằm trong khuôn khổ Hội thảo quốc gia

về đào tạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ

khoa học và công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên và

môi trường

Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi tường,

tính đến tháng 11/2014, đội ngũ cán bộ khoa học và công

nghệ trong lĩnh vực tài nguyên nước ở cấp trung ương có

khoảng 710 người, trong đó có 17 Tiến sỹ (chiếm 2,4%), 94

Thạc sỹ (chiếm 13,3%), 598 kỹ sư và cử nhân (chiếm 84,3%)

Ở địa phương, hiện tại có 55 Sở Tài nguyên và Môi trường có

phòng tài nguyên nước, 8 Sở có phòng chức năng tham mưu

quản lý tài nguyên nước được ghép chung với lĩnh vực khí

tượng thủy văn, địa chất khoáng sản,… với tổng số khoảng

200 cán bộ Số liệu thống kê cũng cho thấy, nhiều cán bộ có

khả năng độc lập chủ trì và thực hiện các đề tài nghiên cứu

Tuy nhiên, các cán bộ có khả năng nghiên cứu, phối hợp

nghiên cứu với các nhà chế tạo sản phẩm còn hạn chế

Theo GS.TS.NGND Ngô Đình Tuấn, lĩnh vực tài nguyên nước

còn nhiều vấn đề phức tạp, bức xúc nảy sinh đòi hỏi các cán bộ

kỹ thuật phải phấn đấu nhiều hơn, học tập các chuyên gia trong

và ngoài nước, say mê nghề nghiệp, tự đào tạo, tự bồi dưỡng

PGS.TS Đoàn Văn Cánh, chuyên gia nước dưới đất cũng

cho rằng, để có đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ có trình

độ cao thì các cơ quan cần tạo điều kiện về mặt thời gian

cho cán bộ tham gia nghiên cứu học tập, tránh giao quá

nhiều việc Mặt khác, cần kết hợp các chuyên gia, các trường

tổ chức các lớp học, bồi dưỡng đào tạo tại chỗ, tổ chức trao

đổi chuyên môn, mời các cán bộ có kinh nghiệm hướng dẫn,

chia sẻ thông tin

“Thêm vào đó, cần hoàn thiện các văn bản quy phạm

pháp luật về tài nguyên nước, đặc biệt là các văn bản liên

quan đến công tác đầu tư điều tra đánh giá lại, hoặc điều tra

đánh giá ở mức độ chi tiết tài nguyên nước dưới đất trong

từng tỉnh, từng vùng ở mức độ địa phương.” - PGS.TS Đoàn

Văn Cánh phát biểu

Còn theo PGS.TS Nguyễn Văn Đản, xuất phát từ thực

trạng đội ngũ cán bộ khoa học hiện nay đang tồn tại một sốhạn chế như tính kế thừa kém, chất lượng đào tạo chưa cao,

kỹ năng hạn chế, kinh nghiệm thực tế ít, sự hòa nhập giữacác lĩnh vực chưa tốt, do vậy, cần đặt ra những yêu cầu xâydựng đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ tài nguyên nướcdựa trên các tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức và năng lựcchuyên môn (kỹ năng làm việc, nói, viết)

Đại diện trường Học viện Nông nghiệp cho biết, hiện các

cơ sở đào tạo về tài nguyên nước hiện nay lại rất thiếu và yếuthông tin về luật và hệ thống văn bản dưới luật về tài nguyênnước Do vậy, cần có cơ chế phối hợp, phổ biến các văn bảnnày tới các sinh viên, học viên trong các trường, cơ sở đàotạo Đồng thời, các cơ quan quản lý nhà nước cần phải đặt

ra các yêu cầu đối với các cơ sở đào tạo, cơ quan nghiên cứu Tại Hội thảo, Cục trưởng Cục trưởng Hoàng Văn Bẩy đánhgiá cao các nội dung các kiến nghị, đề xuất của các đại biểu.Những nội dung này sẽ được tổng hợp, đề xuất lên Lãnh đạo

Bộ xem xét, đưa ra định hướng chỉ đạo đối với công tác đàotạo, phát triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học và côngnghệ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường nói chung vàlĩnh vực tài nguyên nước nói riêng.

Hội thảo về đào tạo, phát triển đội ngũ

lĩnh vực tài nguyên nước

Quang cảnh Hội thảo

Trang 16

Việt Nam có 108 lưu vực sông

với khoảng 3.450 sông, suối

tương đối lớn Tổng lượng

nước mặt trung bình năm của

Việt Nam khoảng 830 tỉ m3 được tập

trung chủ yếu trên 9 lưu vực sông lớn,

bao gồm: Hồng, Thái Bình, Bằng Giang

- Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia - Thu Bồn,

Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long Tuy

nhiên, khoảng 63% nguồn nước mặt

của Việt Nam (tương ứng với 520 tỷ

m3) được sản sinh ở nước ngoài, chỉ có

gần 310 tỉ m3 mỗi năm được sản sinh

trên lãnh thổ Việt Nam Tổng trữ lượng

tiềm năng nguồn nước dưới đất khoảng

63 tỷ m3/năm Tổng lượng nước đang

được khai thác, sử dụng hàng năm

khoảng 80,6 tỷ m3, chiếm xấp xỉ 10%

tổng lượng nước hiện có của cả nước

Trong đó, trên 80% lượng nước được

sử dụng cho mục đích nông nghiệp

(khoảng 65 tỷ m3/năm) Nước dưới đất

được khai thác sử dụng chủ yếu cho

cấp nước sinh hoạt và công nghiệp với

gần 40% lượng nước cấp cho đô thị và

khoảng gần 80% lượng nước sử dụng

cho sinh hoạt nông thôn

Nếu chỉ xét riêng tổng lượng nước

hàng năm của cả nước, có thể lầm

tưởng rằng Việt Nam là quốc gia có tài

nguyên nước dồi dào Tuy nhiên, theo

chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên

nước Quốc tế thì quốc gia nào có lượng

nước bình quân đầu người dưới 4.000

m3/người/năm là quốc gia thiếu nước,

như vậy, nếu chỉ tính riêng lượng tài

nguyên nước mặt sản sinh trên lãnh

thổ thì ở thời điểm hiện nay, Việt Nam

đã thuộc số các quốc gia thiếu nước và

sẽ gặp phải rất nhiều thách thức về tài

nguyên nước trong tương lai gần Xét

theo đặc điểm phân bố lượng nước

theo thời gian, không gian cùng với đặc

điểm phân bố dân cư, phát triển kinh

tế, mức độ khai thác, sử dụng nước có

thể thấy rằng tài nguyên nước của Việt

Nam đang phải chịu rất nhiều sức ép,

tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong việc bảo

đảm an ninh nguồn nước quốc gia

Cũng như nhiều nước trên thế giới

và trong khu vực, Việt Nam đang phảiđối mặt với nhiều thách thức liên quanđến nguồn nước Một mặt, nguồnnước, kể cả nước sông, nước ngầm, ởnhiều nơi suy giảm nghiêm trọng; mặtkhác, tình trạng lũ lụt, nước biển dâng,triều cường, sạt lở bờ biển ngày càngtrầm trọng ; phát triển kinh tế, xã hội,tăng dân số, làm phát sinh những mâuthuẫn trong khai thác, sử dụng, bảo vệtài nguyên nước và đang đứng trướcnguy cơ suy thoái, cạn kiệt do tác độngcủa biến đổi khí hậu và gia tăng khaithác, sử dụng nước ở quốc gia ởthượng nguồn Điều đó được thể hiệntrên một số mặt sau:

- Thứ nhất, tài nguyên nước ViệtNam phụ thuộc mạnh mẽ vào cácnguồn nước quốc tế và đang đứngtrước thách thức về an ninh nguồnnước do các quốc gia thượng nguồntăng cường khai thác nguồn nước

Phần lớn các hệ thống sông lớn củaViệt Nam đều là các sông có liên quanđến nước ngoài Phần diện tích nằm

ngoài lãnh thổ của các lưu vực sôngquốc tế chiếm hơn 70% tổng diện tíchcủa toàn bộ các lưu vực sông Trongbối cảnh các nước ở thượng lưu đangtăng cường xây dựng các công trìnhthủy điện, chuyển nước và xây dựngnhiều công trình lấy nước, chắc chắnnguồn nước chảy về Việt Nam sẽ ngàycàng suy giảm và Việt Nam sẽ khôngchủ động, phụ thuộc vào các nước ởthượng lưu

- Hai là, tài nguyên nước phân bốkhông đều theo cả không gian và thờigian đã dẫn đến xuất hiện các vấn đềkhan hiếm và thiếu nước nước trongmùa khô

Theo không gian, khoảng 60%nước mặt Việt Nam thuộc Đồng bằngsông Cửu Long, hơn 20% thuộc sôngHồng và Đồng Nai và lượng nước tậptrung chủ yếu vào mùa mưa Theo thờigian, mùa khô thường kéo dài từ 6 đến

9 tháng, lượng dòng chảy tự nhiêntrong mùa khô chỉ chiếm 20-30% tổnglượng dòng chảy cả năm Phân bốlượng nước giữa các năm cũng biến đổirất lớn, trung bình cứ 100 năm thì có 5

Những vấn đề cấp bách về

tài nguyên nước tại Việt Nam

Ngày đăng: 01/05/2022, 15:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT - final-so-23-tnn-so6-2014-xuat-file_-bong-cuoi2-1
THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT (Trang 10)
Quốc hội với việc định hình cơ chế mới về quản trị nướccơ chế mới về quản trị nước - final-so-23-tnn-so6-2014-xuat-file_-bong-cuoi2-1
u ốc hội với việc định hình cơ chế mới về quản trị nướccơ chế mới về quản trị nước (Trang 10)
Bảng tổng hợp thể hiện các nội dung: số thứ tự, tên phân - final-so-23-tnn-so6-2014-xuat-file_-bong-cuoi2-1
Bảng t ổng hợp thể hiện các nội dung: số thứ tự, tên phân (Trang 18)
Bảng1. Các đơn vị địa chất thủy văn phân chia khi lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1: 200.000-1: 50.000 - final-so-23-tnn-so6-2014-xuat-file_-bong-cuoi2-1
Bảng 1. Các đơn vị địa chất thủy văn phân chia khi lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1: 200.000-1: 50.000 (Trang 18)
Bảng 2. Phân chia mức độ giầu nước theo năng suất các điểm nước - final-so-23-tnn-so6-2014-xuat-file_-bong-cuoi2-1
Bảng 2. Phân chia mức độ giầu nước theo năng suất các điểm nước (Trang 19)
Bên cạnh đó, để tăng cường thực hiện các mô hình hợp tác Công - Tư về phát triển bền vững, Unilever đã ký kết Thỏa thuận hợp tác với Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ TN&MT) về Chương trình bảo vệ và tiết kiệm nước giai đoạn 2013-2017 nhằm nâng cao nhận - final-so-23-tnn-so6-2014-xuat-file_-bong-cuoi2-1
n cạnh đó, để tăng cường thực hiện các mô hình hợp tác Công - Tư về phát triển bền vững, Unilever đã ký kết Thỏa thuận hợp tác với Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ TN&MT) về Chương trình bảo vệ và tiết kiệm nước giai đoạn 2013-2017 nhằm nâng cao nhận (Trang 28)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN