LOI NOI DAU Cuốn "Những mẩu chuyện lich sử thế giới" gồm hai tập : - Những mẩu chuyện lich sử thế giới, Tập một cố đại và trung đại - Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, Tập hai cận đại v
Trang 1ĐĂNG ĐỨC AN (CHỦ BIÊN)
'đ im CHUYER LỊCH SỬ
THẾ GIỚI
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Trang 2
-ĐĂNG2ỨC AN (Chủ biên) - ĐẶNG THANH TỊNH
` ĐĂNG THANH TOÁN - LẠI BÍCH NGỌC
ine (Suu tam va tuyén chon)
NHUNG MAU CHUYEN
LICH SỬ THẾ GIỚI
TẬP MỘT
(Tái bản lần thứ chín)
NHÀ {UẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Trang 4LOI NOI DAU
Cuốn "Những mẩu chuyện lich sử thế giới" gồm hai tập :
- Những mẩu chuyện lich sử thế giới, Tập một (cố đại và trung đại)
- Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, Tập hai (cận đại và hiện đại)
Hai cuốn sách này sẽ cung cấp cho bạn đọc (nhất là cho sinh viên
và học sinh các trường đại học, cao đẳng và phổ thông) những câu
chuyện về lịch sử thế giới, nhằm bổ sung thêm những kiến thức về lich
sử thế giới hoặc mình hoa sinh động thêm những bài học trong sách
giáo khoa lịch sử ở phố thông và giáo trình lịch sử thế giới ở đại học
và cao đẳng Vì thế, những mẩu chuyện này được sắp xếp thành từng
phần, từng chương, từng mục gân như trong sách giáo khoa và giáo trình lịch sử được giáng dạy ở phổ thông, cao đẳng và đại học
Những câu chuyện lịch sử thế giới ở đây bao gôm những sự kiện
lịch sử, những nhân vật lịch sử và một số công trình nghệ thuật thế
giới độc đáo Chúng tôi đã cố gắng chọn lọc những câu chuyện tiêu biểu cho từng giai đoạn, từng quốc gia trong các sách đã được ghi trong thư mục Tài liệu sách tham khảo cuối cuốn sách
Chúng tôi mong đợi các thây, cô giáo, sinh viên, học sinh và các
bạn đọc góp những ý kiến quý báu đế cuốn sách ngày càng thiết thực
CÁC TÁC GIẢ
Trang 6XA HOI NGUYEN THUY
1 - CON NGUGI DO THƯỢNG ĐỀ SINH RA
HAY TỪ VƯỢN CHUYỂN HOÁ THÀNH ?
Kinh Thánh của đạo Kitô - một tôn giáo lớn nhất ở châu Âu — đã viết rằng : Chúa Trời đã bỏ ra bảy ngày để sáng tạo ra muôn loài, trong
đó có con người Con người đầu tiên do Chúa Trời sáng tạo là Ađam
(một người đàn ông) Sau thấy Ađam sống một mình, buồn phiên, Chúa
Trời đã rút một miếng xương sườn của Ađam, tạo thành Eva (một người
đàn bà), để hai người vui sống ở vườn Địa đàng Nhưng Eva đã cùng
chồng là Ađam ăn quả táo — "trái cấm" — của nhà trời để có trí tuệ, nên
đã bị Chúa Trời đầy xuống trần gian Từ đó, loài người sinh sôi nảy nở
và đông đúc ở trên trái đất như ngày nay Nhiều dân tộc khác ở thời đại
xa xưa cũng có những truyền thuyết, thần thoại tương tự, như ở Trung
Quốc có truyện thần Nữ Oa lấy đất thó vắt thành người, ở Ấn Độ có
truyện thần sáng tạo Brahma lấy những miếng thịt ở thân thể của mình
(miệng, tay, chân và bàn chân) tạo thành tăng lữ, võ sĩ, những người làm
nghề nông, chăn nuôi, buôn bán, thủ công và những người cùng khổ
Những người này tạo thành bốn đẳng cấp trong xã hội
Nhưng những câu chuyện than thoại, truyền thuyết đó không thể
đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu của con người về nguôn gốc của mình
Những nhà thám hiểm, những nhà du lịch, những thương nhân từ
thời cổ đại, đặc biệt từ sau những cuộc Đại phát kiến địa lí ở cuối
thé ki XV, đã nhiều lần tiếp xúc với các dân tộc lạc hậu và bước đầu
5
Trang 7có những nhận thức đúng đắn về xã hội nguyên thuỷ Đếm cuối thé ki XVII - đầu thế kỉ XIX, nhờ những thành tựu nghiên cứu của các ngành
khảo cổ học, dân tộc học, nhân chủng học, cổ sinh vật học, địa chất học
những tài liệu khoa học về nguôn gốc con người được công bố
Vào giữa thế kỉ XIX, nhà bác học thiên tài người Anh Sáclơ
Đácuyn đã đề xướng học thuyết tiến hoá Căn cứ vào quy luật của sự
đào thải tự nhiên và sự chọn giống do ông phát hiện ra, ông đã bác bỏ quan điểm của đạo Kitô cho rằng Chúa Trời sinh ra con người và tạo vật Những phát hiện của các nhà khảo cổ học sau đó vẻ những bộ
xương hoá thạch của các loài vượn cổ (Đriôpitéc, Ramapitéc,
Ôxtralôpitéc), các loài người — vượn (Người - vượn Đông Phi,
người - vượn Giava, người - vượn Bắc Kinh, người Nêanđéctan) và
người "Tinh khôn" (Homo sapiens), cùng những nẻn văn hoá thời đại
Đồ đá cũ, Đô đá giữa, Đồ đá mới và Đồ kim khí (đồng, sắt), đã tìm thấy ở khắp các lục địa Âu, Á, Phi, đã chứng minh sự đúng đắn của
học thuyết tiến hoá của Đácuyn : Con người không phải do Thượng đế
hay thân thánh nào sinh ra, mà chính là đã chuyển hoá từ loài vượn cổ
hoá thạch mà thành
2
2 - SY DUNG DAN CUA HOC THUYET TIEN HOA CUA DACUYN
ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI
Từ nửa sau thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, một số nhà sinh
vật học và triết học Âu châu đã nêu : nguồn gốc loài người là động
vật Trong số các nhà bác học đó, trước hết cần nói đến nhà sinh vật
học người Pháp Giăng Baptit Lamác (Jean Baptiste de Monet
Lamarck, 1744 - 1829) với tác phẩm "Triết học của động vật học”
(1809) Ông đã khẳng định : loài người là do loài vượn biến hoá thành
Nhưng chỉ đến nửa sau thế kỉ XIX, nhà tự nhiên học và sinh vật học
vi đại người Anh Sáclơ Đácuyn (Charles Darwin, 1809-1882) với các :É
Trang 8tác phẩm "Nguồn gốc các giống loài bằng sự chọn lọc tự nhiên"
(1859) và "Nguồn gốc loài người và sự chọn giống" (1871) mới chứng mình được một cách khoa học về nguồn gốc loài người Ông đã tiến hành một cuộc khảo sát thiên nhiên ở nhiều vùng đất ven bờ Thái
Bình Dương trên con tầu Bigon (1831-1836) và đã căn cứ trên rất nhiều bằng chứng khoa học được lựa chọn và kiểm tra cẩn thận, dựa
vào quy luật của thế giới hữu cơ do ông phát hiện ra là quy luật của sự
đào thải tự nhiên và sự chọn giống, dẫn đến kết luận : loài người xuất thân từ giống vượn nhân hình hoá thạch đã bị tuyệt chủng, ông đặt tên
tượng trưng (vì chưa có bằng chứng) : Đriôpitéc, có nghĩa là vượn trên
cây Năm 1902, ở Áo, người ta đã tìm thấy 3 chiếc răng đâu tiên của
loài "vượn Đriôpitéc ~ Đácuyn", hơi giống răng của Hắc tỉnh tỉnh (Chimpanzé) sống cách ngày nay khoảng 15 — 20 triệu năm
Đacuyn đã nghiên cứu cấu tạo cơ thể của vượn nhân hình thấy có
nhiều điểm giống cấu tạo cơ thể của con người như cấu tạo của sọ, bộ '
xương, bắp thịt, mạch máu, thần kinh và nội tạng, và nhất là khi _
nghiên cứu chiếc thai trẻ con và những hiện tượng phản tổ như có
khúc đuôi, lông phủ đây trên cơ thể thai nhi Do đó, ông đã khẳng
định : "Tất cả những cái đó chắc chắn dẫn đến một kết luận là loài người và các động vật có vú đều xuất thân từ một tổ tiên chung”
(S Đacuyn, "Nguôn gốc loài người và sự chọn giống")
Nhưng đồng thời, Đacuyn cũng đã nhận thấy những điểm rất khác
nhau giữa vượn và người như dung tích não trung bình của người hiện
đại la 1400 — 1500cm’, trong khi não của vượn nhân hình không bao giờ
vượt quá 600 - 680cm ; giống vượn phát triển nhất cũng không đi
thẳng bằng hai chân như người được ; vượn phát triển không cân xứng
giữa tay và chân, giữa mặt và óc Tất cả những khác biệt ấy chứng tỏ
giống vượn nhân hình hoá thạch không thể biến đổi trực tiếp thành
người, mà phải có /oài (rung gian Loài vật trung gian này phối hợp trong cơ thể của nó cả những đặc trưng của vượn và người Trong thời
Đacuyn, những hình thái quá độ, trung gian giữa vượn và người còn
1
Trang 9chưa tìm ra, đó là những chỗ gián đoạn, những lỗ hổng, những vết trắng
trong phổ hệ loài người Những người theo tôn giáo đã lợi dụng điều đó
để âm mưu bác bỏ, không thừa nhận nguồn gốc loài người từ loài vượn
Khi phê phán những người này, Đacuyn đã chỉ rõ rằng ở những vùng
mà các nhà địa chất học chưa nghiên cứu tới, có lẽ sẽ tìm thấy những bộ xương loài vật trung gian giữa vượn và người Cuối thế kỉ XIX — đầu thế
kỉ XX, những mắt xích nối liên ấy đã được tìm ra ở miền Nam châu Á,
châu Âu và châu Phi, xác nhận tính chính xác của giả thuyết Đacuyn
Học thuyết Đacuyn là một trong những thành quả lớn nhất của
khoa học ở thế kỉ XIX Những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác đánh
giá rất cao Đacuyn Nhưng lí luận của Đacuyn về con người vẫn chỉ
quanh quẩn trên địa hạt thuần tuý sinh vật học, không thể giải quyết
vấn đề nguồn gốc loài người một cách toàn diện, nhất là về mặt xã hội của con người Đacuyn đã gán ghép toàn bộ quá trình tiến hoá của loài người vào tính quy luật chung của sinh vật, nhất là quy luật đào thải
Đacuyn theo quan điểm duy vật máy móc, nên chỉ thấy sự phát triển
tiệm tiến về số lượng giữa loài vượn và loài người, không thấy sự đột biến về chất lượng Những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác mới tìm
ra giải pháp đúng đắn vẻ vấn đẻ nguồn gốc loài người Mác —- Enghen
đặc biệt chú ý nghiên cứu những quy luật xã hội đã quyết định quá
trỉnh đó Lao động - đặc điểm của người - là nhân tố chủ yếu trong
việc chuyển biến từ vượn thành người Ph.Enghen khẳng định : "Lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người" Ông đã nhấn mạnh : việc sử dụng công cụ lao động đã làm con người biến đổi về mặt sinh lí,
phát triển bàn tay, khối óc ; ngôn ngữ xuất hiện, do đó con người khác
các loài động vật khác về bản chất Chính sự sản xuất vật chất,
chứ không phải những nhân tố địa lí và nhân tố sinh vật học, đã đóng
vai trò quyết định trong sự phát triển của con người, một sinh vật
xã hội Ph.Enghen đã phân tích quan điểm này trong luận văn quan trọng của ông "Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người" (viết năm 1876, xuất bản lần thứ nhất năm 1896)
8