Sự hưng thịnh của đô thị miền Trung thời chúa Nguyễn trước hết nằm ở vùng có thế mạnh về sản xuất hàng hóa, nhất là hàng hóa xuất khẩu, chính sách của nhà nước về lập phố và ưu tiên cho
Trang 1D6 thi mién Trung, THOI CHUA NGUYEN
D6 Bang
NAMTRUNG BO CUA MIEN TRUNG VIET NAM RA ĐỜI GẮN LIÊN VỚI BUỔI ĐẦU
MO COI DANG TRONG CUA CHUA NGUYEN MA COT MOC LICH SULA SỰ KIEN NAM 1611, LAP PHU PHU YEN DƯỚI THỜI CHÚA NGUYEN HOANG TÙ ĐÓ, MIỄN TRUNG MANG DAY DU ý NGHĨA CỦA TỪNÀY MỚI XUẤT HIỆN VÀ MIEN TRUNG TRO THANH VI TRI CHIEN LUOC CUA DAT NUOC, ĐẦU NÃO VÀ LÀ BÀN ĐẠP ĐỂ
MỞ ĐẤT ĐÀNG TRONG BAO GỒM MIỄN ĐÔNG VÀ MIEN TAY NAM BỘ NGÀY NAY DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYÊN, ĐÀNG TRONG CO HAI LANH VUC MIEN TRUNG CHIEM UU THẾ LÀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN TRUNG ƯỢNG VÀ PHÁT TRIEN ĐÔ THỊ; CẢ ĐÔ THỊ HÀNH CHÍNH (ĐÔ CHÍNH) VÀ ĐÔ THỊ CẢNG, CÒN GỌI PHỐ CẢNG Ở ĐÂY, CHÚNG TÔI XIN GIỚI HẠN PHẠM VI TÌM HIỂU VỀ ĐÔ THỊ CẢNG Ở MIỄN TRUNG DƯỚI THỜI CHÚA NGUYÊN TRONG THẾ KỶ XVILXVII
ae
?
miền Trung có đô thị
cảng ra đời khá sớm
vào cuối thế kỷ XVI như
cảng thị ở Quảng Trị dưới thời
chứa Nguyễn Hoàng, nhưng
sau đó suy tàn vì chúa Nguyễn
chuyển dinh phủ vào đất Thừa
Thiên Huế chỉ để lại ít dấu vết
tai" Ghénh Phu" gan dinh Tra
Bát (nay thuộc xã Triệu Giang,
huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng
Trị) Đầu thế kỷ XVII xuất hiện
hai đô thị cảng sầm uất là Hội
An (Quảng Nam) và Nước Mặn
(Bình Định) hoạt động tích cực
trong thế kỷ XVII-XVIII, nhưng
qua thế kỷ XIX, Hội An suy yếu
và Nước Mặn suy tàn Đô thị
cảng Thanh Hà (Thừa Thiên
Huế) ra đời vào năm 18636, lúc
chúa Nguyễn Phúc Lan chuyển
dinh từ Phước Yên vào Kim Long Thanh Hà cũng có vai trò
về kinh tế đối ngoại hàng đầu ở phủ chúa, nhưng chỉ hoạt động đến cuối thế kỷ XVII rồi cũng
bị suy tàn Đó là ba đô thị cảng
tiêu biểu của miền Trung thời chúa Nguyễn
Sự hưng thịnh của đô thị
miền Trung thời chúa Nguyễn trước hết nằm ở vùng có thế mạnh về sản xuất hàng hóa, nhất là hàng hóa xuất khẩu, chính sách của nhà nước về lập phố và ưu tiên cho người nước
ngoài nhập cư cùng làn sóng
di dân thương mại của nhiều nước đến Đàng Trong đã tạo nên sự thịnh vượng của các đô thị cảng ở đây trong các thế kỷ
XVII-XVII
MỘT SỐ ĐÔ THỊ TIÊU BIỂU
Trong thời kỳ phát triển kinh
tế hàng hóa và thương mại Đàng
Trong vào thế kỷ XVII-XVIII đã
hình thành một số đô thị mang tính khu vực hoặc vùng lãnh thổ Nơi đây đã xuất hiện các kiến trúc đô thị và tổ chúc quản lý cư
dân đô thị mang tính tự trị với các
đô thị tiêu biểu sau đây:
Phố Hội An
Do lợi thế về cửa biển Đại Chiêm và đường sông Cổ Cò thuyền bè có thể ra vào dễ dàng
để cập bến Hội An
Đất Quảng là nơi trọng điểm
hàng hóa của Đàng Trong như đường mía, trầm hương, quế,
yến sào, các hương liệu và lâm
sản Dinh trấn Thanh Chiêm
ờ huyện Điện Bàn là ly sở của
Trang 2rs
chinh quyén Dang Trong truc
tiếp quản lý khu đô thị và trung
tâm thương mại Hội An
Sự thu nhận người Nhật nhập
cư ở Hội An của chúa Nguyễn
trước hết nhằm giải quyết nhu
cầu bức thiết cho một số thương
nhân Nhật theo Thiên Chúa giáo
bị Nhật hoàng trục xuất và sau
đó đóng cửa không cho họ quay
lại chính quốc Sau khi có chính
sách mở cửa năm 1592, thương
nhân Nhật Bản đến Hội An ngày
càng đông Đồng thời, thương
nhân Trung Quốc thời nhà Minh
bỏ lệnh hải cấm năm 1567 cũng
đến Hội An và có yêu cầu ởlại lâu
dài để buôn bán với thương nhân
Nhật Bản
Một lý do khách quan khác
để Hội An trở thành đô thị quốc
tế với sự lưu trú lâu dài của giới
thương nhân Nhật Bản và Trung
Quốc là các thương vụ tấp nập
diễn ra trên đất Hội An chỉ 6
tháng đầu mỗi năm vào mùa khô
Đến cuối mùa hè các thuyền căng
buôm để gió mùa Tây - Nam đưa
về đất Bắc; Hội An trở nên hoang
vắng Trước tình hình đó, phủ
chúa phải có giải pháp nhằm thỏa
mãn yêu cầu cho thương nhân
Nhật Bản và Trung Quốc cũng
chính lợi ích của chính quyền sở
tại là cho phép họ chọn một nơi
gần thương cảng Hội An để lập
phố buôn bán và cư trú lâu dài
a} À2
Phó Hội An
k„
và
l
Xã
Từ đó ở Hội An đã hình thành
hai khu tự trị của người Nhật
và người Hoa gọi là phố Nhật và phố Khách
- Không gian đô thị: Làng Hội
An ở vị trí trung tâm, mở rộng thêm đất của các làng Sơn Phô
phía Đông, Cẩm Phô và Thanh
Hà phía Tây, hình thành 3 khu
đô thị: Phố Nhật, Phố Khách và Phố Hội An
Phố Nhật theo chế độ tự
quản có thị trưởng là người Nhật Bản, theo tập quán văn hóa riêng
Phố Nhật ở vị trí làng Hoài Phô, một làng cổ lâu đời nên con sông Thu Bồn đoạn chảy qua phố
Hội An còn gọi là sông Hoài Địa
danh Faifo hay Haifo cũng bắt
nguồn từ tên làng (Hoài Phô,
Cẩm Phô), tên sông Hoài Phô thuổ đó Làng Hoài Phó được ghỉ tên trong sách Ô châu cận lục (1555)? Vào thế kỷ XVII, làng
đổi tên là Hoa Phé®); về sau đổi
thành làng Sơn Phô Sơn Phô
hiện thuộc xã Cẩm Châu, thành
phố Hội An
Người Nhật đến mua 20 mẫu đất của làng Hoài Phô và An Mỹ
để xây dựng phố xá, sinh sống;
lập một ngôi chùa lấy tên là Tùng
Bổn Trong tấm bia Phổ Đà Sơn
Linh Trung PhậtbNgũ Hành Sơn
(Đà Nẵng) được khắc ghi vào năm
1640 mà chúng tôi đã khảo sát và công bố năm 198ð cho thấy có 9
lần nhắc đến địa danh dinh Nhật Bổn và một lần nhắc đến địa chỉ
dinh Tùng Bổn, nơi người Nhật
sinh sống tại Hội An và cúng rất nhiều tiền cho ngôi chùa nay”
Đây là thời kỳ cực thịnh của phố Nhật tại Hội An nên người phương Tây gọi Hội An là đô thị
Nhật Bản Vị thị trưởng đầu tiên
được công nhận vào năm 1618 là Furamoto Yashiro; có nhiều thị
trưởng có quyển hành rất lớn ở
Đàng Trong như Simonosera
€ó vị thị trường đã can thiệp với
Chúa Nguyễn ban đặc ân cho AI-
exandre de Rhodes trong thời kỳ
bị cấm đạo Thiên Chúa®,
Vào năm 1695, khi Thomas
Bowyear, thương gia người Anh
đến tại Hội An chỉ còn thấy ð gia đình người Nhật sinh sống Cùng
thời điểm đó, nhà sư Thích Đại
Sdn đến Hội An không thấy ghi chép về phố Nhật, người Nhật
trong tập bút ký Hải ngoại kỷ sự
Năm 1981, chúng tôi cũng tìm
thấy 4 ngôi mộ cổ của người Nhật
tại Hội An cũng ghi năm qua đời
vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XVII
Phố Nhật ở Hội An ra đời và
thịnh vượng trong nủa đầu thế kỷ XVII và tôn tại đến cuối thế kỷ đó Phố Khách: Theo chế độ tự trị có phố trưởng là người Hoa,
theo tập quán văn hóa riêng
Năm 1618, lúc Cristoforo Borri
mô tả về phố Nhật và phố Khách tại Hội An thì Hoa thương bắt
đầu quy tụ về Hội An Ngoài bức
hoành phi có niên hiệu Thiên
Khai - Tân Dậu niên (tức 1621) của một gia đình người Hoa ờtrên
đường Trần Phú còn giữ, được xem là di vật cổ xưa nhất của phố
Khách Tư liệu còn cho biết ở vào
thời thịnh hành của phố Khách
vào năm 1626, người Hoa đã xây
dựng một tổ đình lấy tên là Cẩm
Hà cung ở ranh giới làng Cẩm
Phô và Thanh Hà, nằm về phía tây của thành phố Hội An hiện
nay Điều đó đúng với vị trí phố
Đường Nhân mà Ogura Sadao
cung cấp thông tin về ngôi chùa
Hà Nam và cũng đúng với ký ức
tồn cổ ở Hội An mà tiêu biểu là
Trang 3Châu Phi Cơ, cho rằng: Người
Nhật ở đầu đường phía mặt trời
mọc của thành phố còn người
Trung Hoa lập phố vào phía cuối
đường mặt trời lặn”)
Từ phố Nhật lên phố Khách
phải qua một con khe, người
Nhật đã xây dựng nên một chiếc
cầu gọi là cầu Nhật Bản (chúa
Nguyễn Phúc Chu đặt tên là Lai
Viễn kiều) Về sau, người Hoa
làm chùa trên đó để thờ Bắc Đế
nên gọi là chùa Cầu
Kết quả khai quật khảo cổ
học của các chuyên gia Nhật Bản
vào mùa hè năm 1998 và 2006 ởờ
phường Cẩm Phô (trường PTCS
Nguyễn Duy Hiệu), xung quanh
chùa Cầu, tìm thấy nhiều đồ gốm
Cảnh Đức (Trung Quốc), gốm
Hizen (Nhật Bản) lẫn với đồ gốm,
để sành ViệE Nam có niên đại thể
kỷ XVII Kết quả này cho chúng
ta khẳng định về thị trường gốm
thương mại quốc tế tại Hội An
và dấu tích cư trú sớm của người
Nhật và người Hoa chứ chưa đủ
cứ liệu để xác định cụ thể về địa
chỉ phố Nhật và phố Khách tại
Hội An qua tư liệu khảo cổ học®
Phố Hội An do người Việt
quản lý trong thiết chế chính
quyền cơ sở của Đàng Trong
Tấm bản đồ Thiên Nam tứ
chí lộ đồ thư do Đỗ Bá vẽ trong
khoảng 1680-1705 đã xuất hiện
các tên Hội An phố, Hội An
kiểu đã giúp chúng ta khẳng
định phố Hội An, cầu Hội An
(tức cầu Nhật Bản) ra đời từ thế
kỷ XVII
An Nam phố túc phố Hội An
trong sơ đồ chùa Hà Nam qua các
tư liệu cho chúng ta xác định vị
trí của làng cổ Hội An mà trung
tâm là đình làng Hội An - đền
Ông Voi — đường Lê Lợi hiện nay
Đó là khu đô thị của người Việt
ra đời trong nửa đầu thế kỷ XVII
cùng tôn tại với phố Nhật và phố
Khách
Sau khi nhà Mãn Thanh đánh
bại nhà Minh (1644), lượng Hoa
thương di trú ở Hội Án rất đông
Họ tiến dần về phía đông mua
13,5 mẫu đất của làng Cẩm Phô,
Hội An, Cổ Trai để lập phố buôn
bán Lúc đầu họ lập phố từ phía tây cầu Nhật Bản, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai đến chùa Ông (Quan Công miếu - có ghi
niên đại Khánh Đúc - Quý Ty, tức năm 1653), nay ở trên đường
Trần Phú Các văn khế mua bán nhà đất ở đường Trần Phú có niên đại vào nủa sau thế kỷ XVII đều ghi Lâm sa thổ phố Và có sự
xen cư giữa người Việt và người Hoa trên đất làng Hội An; đó là
trường hợp Ngô Vãng Nương mua
3 sào đất ở xứ Hổ Bì của Trịnh Hồng Quang vào năm 1692 giá
60 lạng bạc Đường Trần Phú hôi
đó đã trở thành khu phố đông
đúc của người Hoa với hai dãy
phố xuất hiện như Bowyear đã
mô tả (1695): "Hải cảng này chỉ
có một con đường phố lớn trên
bờ sông, hai bên có hai dẫy nhà
100 nóc, toàn là người Trung Hoa
È'*, Cũng vào năm 1695, Thích Đại Sán đến Hội.An đã ghi lại:
"Thang bo song mét con đường dài
3-4 dam, goi la Dai Duong Nhai
Hai bên phố ở liền khít rịt Chủ phố thảy là người Phúc Kiến vẫn còn ăn mặc theo lối tiền triéu"™
Vào thế kỷ XVITI, đãy nhà phố hai bên đường Trần Phú hiện nay
mới được xây dựng kiên cố như một số văn khế nhà đất thời Cảnh
Hung, Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh mà chúng tôi đã
tìm được đều có ghi tường gạch,
lợp ngói, bắc giáp đại lộ, nam cận đại giang
Phố người Hoa ở Hội An ngày
nay được mở rộng cùng với sự tăng trưởng doanh thương của
họ theo thời gian Vào năm Gia
Long 13 (1814), toàn thể đất của
làng Minh Hương là 17 mẫu 7 sào
10 thước),
- Thuong diém Hà Lan thành
lập vào năm 1636 cũng được
hưởng cơ chế tự trị và các thương nhân nước ngoài khác: Bồ Đào
Nha, Anh, Xiêm cũng được
chúa Nguyễn tạo mọi thuận lợi trong việc buôn bán
Cơ ngơi của đô thị Hội An vào năm 1618 được Cristoforo Borri
mô tả như sau: "Vì cho tiện việc hội chợ, chúa Nguyễn cho phép
người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà của theo tỷ lệ người của
họ để dựng nên một đô thị Đô
thị này gui 1š FSHö và:nö khá lổn,
Chúng tôi có thể nói có hai thành phố, một của người Trung Quốc
và một của người Nhật Họ sống
riêng biệt, đặt quan cai trị riêng
và theo phong tục, tập quán của mỗi nước 0?)
Phố Thanh Hà
Sự lớn lên của trung tâm thương mại Thanh Hà đồng thời
với sự phát triển kinh tế hàng
hóa trong nước và tác động của
luông mậu dịch quốc tế Cùng chế độ cát cứ và công cuộc mở đất Đàng Trong thời các chúa
Nguyễn, Thanh Hà trờthành một
thương cảng lớn nhất, cửa ngõ giao thương hàng đầu của thời
trung tâm chính trị Kim Long —
Phú Xuân của Đàng Trong thời thịnh trị vào thế kỷ XVII— XVITL
Thanh Hà là địa chỉ hấp dẫn thương khách nhiều nước: Trung
Quốc, Nhật Bản của châu Á; của
các nước phương Tây như Bồ Đào
Nha, Hà:Tan, Anh; Pháp Năm 1636, ngay lúc mới
chuyển dinh từ Phước Yên vào Kim Long, chúa Nguyễn Phúc Lan đã cho phép thành lập phố Thanh Hà Trong một văn bản còn lưu tại địa phương cho biết:
"Chúa Thượng vương sau khi đời
phủ về Kim Long bèn cho phép tiền hiền chúng ta kiến thiết khu
chợ nơi giáp giới hai xã Thanh Hà
va Dia Linh",
Luc méi thanh lap, pho Thanh
Hà chủ yếu là người Việt cư trú
để buôn bán với nước ngoài mà
phần lớn là Hoa thương Đến
giữa thế kỷ XVII, người Hoa:di dân được chúa Nguyễn cho lập
phố ở Thanh Hà mà thế hệ đầu tiên có Trần Dưỡng Thuần (1610
— 1688), quê quán phủ Chương Châu, tỉnh Phúc Kiến,
Từ đó đến cuối thế kỷ thứ
XVII, nhiều Hoa thương tiếp tục
đến Thanh Hà cư trú, nhất là sau năm 1685, nhà Thanh cho phép
các thuyền buôn Trung Quốc xuất bến đến các nước lang giéng
buôn bán.
Trang 4Trong hồ sơ lưu trữ của làng
Minh Hương cho biết vào năm
Thịnh Đức thứ 6 (1658), chúa
Nguyễn Phúc Tần "thi an cho lap
phố tại đất đồn thổ thuộc làng
Thanh Hà và Địa Linh là 1 mẫu
2 sào 5 thước 4 tấc"0, Đó chính
là khu phố thương mại của Thanh
Hà bước vào thời thịnh vượng
Vào khoảng giữa thế kỷ XVI,
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes có
lưu trú ờ Thanh Hà Ông cho biết:
đó là một thành phố, tuy không
lớn bằng dinh phủ Kim Long mà
ông cho là thành phố lớn: "Tôi
không dám ở thành phố lớn Tôi
thuê nhà tại thành phố nhỏ gần
đó sau cơn hoa tai xãy ra lớn nhất
ờ day",
Năm 1685, Hoa thương xây
dựng Thiên Hậu cung (còn gọi là
chùa Bà) ngay trên điểm cư trú
và buôn bán đầu tiên của mình để
làm nơi tế tự chung cho Hoa kiêu,
cũng là mốc giới phía bắc của phố
Thanh Hà Phố Thanh Hà mở
rộng dần về phía Nam, thương
khách mua đất của làng Địa
Linh để lập phố và xây dựng đền
thờ Quan Thánh (còn gọi là chùa
Ông) ở vị trí tận cùng phía Nam
của phố để làm đền thờ chung và
cũng là mốc giới giữa phố Thanh
Hà và làng Địa Linh Đây là dấu
vết lâu đời của phố Thanh Hà
trong thời kỳ phát triển và cũng
là mốc giới có ý nghĩa lịch sử để
chúng ta xác định trên thực địa
của phố Thanh Hà xua'”' Chiều
dài của phố Thanh Hà gần 1km
(từ chùa Bà ở làng Thanh Hà
đến chùa Ông ở làng Địa Linh),
chu vi của phố khoảng 2km, bao
gồm cả chợ và khu dân cư, nằm
ðxị:trí 16918 vĩ độ bắc| cách: phủ
Kim Long ở phía tây - nam 5km
và cách cửa Thuận An 10km ở
phía đông
Phố Thanh Hà phát triển
trên cơ sở phồn thịnh của cảng
và chợ Thanh Hà cùng tầng lớp
cư dân mà chủ yếu là Hoa thương
chuyên nghề buôn bán
Thanh Ha trong thé ky XVII,
chỉ hai dãy phố lợp tranh nằm
về phía tây con đường làng Minh
Thanh hiện nay, hướng chính
quay mặt ra bờ sông Sau khi chiếm được bãi đất bồi, Hoa thương dựng lên một dãy nhà
đối điện quay lưng ra bờ sông,
lấy con đường của làng Thanh
Hà làm đường phố chính Năm
1700, Hoa thương mới được phép
xây phố bằng gạch và lợp ngói
để tránh hòa hoạn Phố bao gồm
những của hàng, của hiệu, các đại
lý xuất nhập khẩu và những nhà
cho thuê dành cho thương khách
ở xa, chủ yếu là thương nhân
Trung Quốc mới đến, hoặc thương
nhân giữa hai mùa mậu dịch trong thời áp đông (từ tháng 10
cuối năm đến tháng 3 năm sau)
Vào giữa thế kỷ XVII, Pierre Poivre đến Huế và khảo sát tình
hình buôn bán ở Thanh Hà, có nhận xét: "Vào mùa mưa, các
đường phố chật hẹp, lầy lội, chỉ
có phố hay khu Trung Hoa có một lối đi rộng và lát gạch Dọc hai
bên đường người ta dựng lên nhà gạch, lợp ngói kha sung ttc"
Thanh Hà có hai dãy phố đối diện dan dan được hình thành, phía sau là đồng ruộng, trước mặt là bến cảng của sông Hương; một điều kiện chủ yếu cho phố cảng
ra doi
Phố Nước Mặn Nước Mặn là tên gọi chính
thức của khu đô thị ra đời từ đầu thế kỷ XVII bên đầm Thị Nại, nay
thuộc xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định: Cu
dân đô thị chủ yếu là người Hoa
Đến đầu thế kỳ XIX phố Nước Mặn suy tàn do hiện tượng cửa
Kê Thủ bị lấp Nay còn lại một số
phế tích như chùa Bà, chùa Ông,
khu nghĩa địa người Hoa, dấu vết
khu đô thị tại chợ Nước Mặn
Phố Nước Mặn ra đời rất sớm
được ghi trong Hồng Đức bản
đồ với tên gọi "Nước Mặn hải
môn", là trung tâm buôn bán
xuất nhập khẩu không những
cho phủ Quy Nhơn mà cả các dinh, phủ ở phía nam
Nước Mặn được Alexandre
de Rhodes vẽ trên bản đồ vào giữa thế kỷ XVII với tên phiên
âm là Nehorman Tên gọi này
xuất phát từ chữ của Cristoforo
Borri ghi lại trong tập ký sự của mình vào năm 1618 Borri chỉ
đích danh đó là một thành phố (ville) Ông viết: "Vị tổng trấn liền ra lệnh xây dựng cho chúng
tôi một cái nhà rất tiện nghỉ ở
thành pho (ville) Nehorman"™,
hoặc Nuoec man
'Tên gọi Nước Mặn không được ghi trong các bộ chính sử Việt Nam thời quân chủ, nhưng được
ghi trong gia phả nhiều người Hoa sinh sống ở đây
Đầu thế kỷ XVII, chúng ta thấy có luồng buôn bán giữa Hội
An và Nước Mặn với một số trung tâm thương mại quốc tế được thể hiện trên bản đô số 24 vẽ vào năm
1608 có ghi hai địa danh được thương nhân nước ngoài thường đến buôn bán là Hải Phố (tức Hội An) và Thị Nại (túc Nước Mặn hồi
bay giv) nằm trên đường hàng hải đến với Vuconva0,
P.B.Lafont cũng cho biết,
trong các cảng ở Đàng Trong thì Binai (túc Thị Nại) thuyền buôn
các nước phương Tây, Malaysia
và một số nước khác thường đến
buén ban
Tháng 7-1618, Cristoforo
Borri đến Nước Mặn, dưới con mắt của vị Giáo sĩ này Nước Mặn đã là một thành phố Ông viết: "Chúng tôi lại leo lên lưng
voi và lên đường với một đoàn
tùy tùng lớn để đi đến thành phố
Nuoec man"#?, Ông cũng cho
biết đây là thành phố khá rộng:
"Thành phố dài chừng 2 dặm
và rộng tới một dặm rưỡi" Đó
là thời kỳ thịnh vượng của phố
cảng Nước Mặn
Vào giữa thế kỷ XVII, Pierre Poivre đến Đàng Trong còn đánh giá rất cao về phố cảng Nước
Mặn, ông viết: "Tại tỉnh Quy
Nhơn có một thương cảng khác gọi là Nước Mặn là một cảng tốt,
an toàn được thương nhân lui tới nhiều nhưng kém hơn Faif, lại
không thuận tiện vì quá xa kinh
thành mà các thuyền trưởng thì
nhất thiết phải đi đến kinh thành
nhiều lần và phải đi ròng rã 6
ngày đường 29,
Nhung rất tiếc vào thế kỷ sau
Trang 5không thấy sử sách nào còn ghi
về phố cảng Nước Mặn Sách Đại
Nam nhất thống chi ban soạn
thời Tự Đức không ghi chép về
phố Nước Mặn, cũng không có tên
trong danh mục 63 chợ lớn nhỏ
trong tỉnh Bình Dinh”
Cho đến tháng 4-1986, trong
đợt khảo sát về đô thị cổ ở các
tỉnh miền Trung, chúng tôi mới
phát hiện dấu tích của phố cảng
Nước Mặn và thông báo kết quả
tại Uy ban Nhân dân tỉnh Nghĩa
Bình (Quy Nhơn - 1986) và trong
hội nghị thông báo khảo cổ học
năm 1991tf Hồi Nội29,
Từ tấm bia bằng gỗ chúng tôi
phát hiện ở đền Quan Thánh lập
năm 1837 (đường Bạch Đằng,
thành phố Quy Nhơn) có ghi
tên một người họ Nguyễn ở phố
Nước Mặn cúng tiền để xây dựng
ngôi đền này, chúng tôi phải rất
khó khăn mới lần tìm đến được
xã Phước Quang, huyện Tuy
Phước vì không một tấm bản đồ
nào ghi tên Nước Mặn; đến đây
mới biết còn lưu truyền chiếc
cầu ngói và ngôi chợ mang tên
Nước Mặn Cạnh chợ Nước Mặn
là một bãi hoang nhưng chúng
tôi phát hiện ra dấu tích của
phố cổ tại ngôi nhà ông Huỳnh
Xưng Chiến còn một bức tường
dài 5,2m, cao 0,9m và dày 0,3m
làm bằng vôi, gạch, đá ong, mật
mía, mạch bằng vôi Tìm thấy
dấu tích đền Quan Thánh (chùa
Ông) chỉ còn lại bức bình phong,
trước cửa còn ba trụ đá tán, một
chiếc đỉnh lư bị hỏng nhưng còn
3 chữ Quan Thánh đế
Thiên Hậu cung (chùa Bà)
được xây dựng ở về phía đông
của phố là di tích có giá trị
nhất về phố cổ Nước Mặn Tuy
bị hồng hơn 80% do chiến tranh
nhưng đây chúng tôi tìm thấy
một chiếc đỉnh lư bằng hợp kim
có 3 chân cao 47cm, đường kính
46cm, được đúc từ lò Vạn Minh
(Trung Quốc) vào năm Đinh Ty
niên hiệu Gia Khánh (1797)
Mới biết đến cuối thế kỷ XVIII,
phố Nước Mặn vẫn còn hoạt
động và có quan hệ giao lưu
thương mại với Trung Quốc?”,
Về phía Đông - Bắc của chợ
là khu mộ cổ
Khuôn viên của phố Nước Mặn từ bờ Cầu Ngói đến bến Cây
Da Bến cảng từ Cầu Ngói đến
chùa Bà của con sông Âm Phủ
Khu phố được khoanh vùng trên
thực địa chiều dài hơn 1km, chiều
ngang khoảng 500m; ngày xưa thuộc làng Lạc Hòa và Vĩnh An (trước đó gọi là Minh Hương) sau nhập chung gọi là An Hòa
Từ thế kỷ XVIII trở về trước, khi cửa Kẻ Thử còn tấp nập
thuyền ghe ra vào buôn bán, tàu
thuyền qua đầm Thị Nại vào
sông Côn đi qua các nhánh sông
Âm Phủ, Cây Da rồi lên tận Cầu Ngói để trao đổi hàng hóa với thương nhân ở phố Nước Mặn
Các Giáo sĩ Bozomi, Pina, Borri,
Augustin đến đây truyền giáo
Phá Thanh Hà (7-1618) cũng kể lại về quan Khám lý Trần Đức Hòa cho xây dựng ngôi nhà thờ ở phố Nước Mặn như sau: "Ông liền ra lệnh
xây dựng cho chúng tôi một cái
nhà rất tiện nghỉ ở thành phố
Nuoec man (Nước Mặn)°)
Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thé ky XIX khi mạch đứt gãy ở
duyên hải Bình Định hoạt động,
cua Kẻ Thử bị cát bồi ghe thuyền không ra vào được, phù sa của
sông Côn cũng không thoát ra
biển làm lắng tụ ở phía bắc đầm
Thị Nại, các nhánh sông Âm Phủ,
Cây Da bị cạn nước mặn không
lên đến chợ, thuyền không đến được Cầu Ngói, phố Nước Mặn
suy tàn Những thương nhân ở
phố Nước Mặn tản về Gò Bồi,
vào Quy Nhơn hoặc lên An Thái
để kinh doanh
Nước Mặn ngày nay là một
làng quê, không còn phố - cảng; chợ là một bãi đất hoang trống trải lều quán tiêu điều Nhưng
âm vang về các họ đại phú như Nguy, Từ, Khưu, Lý, Khổng,
Lâm, Huỳnh trong đó có ông Khách Sáu chuyên buôn bạc được
nhân dân truyền tụng về một
ông Khách Bạc họ Ngụy giàu có
ở Nước Mặn xa xưa
Năm 2005, Bảo tàng Tổng hợp
tỉnh Bình Định tổ chức đào thám sát khảo cổ học phố cảng Nước Mặn đã phát hiện nhiều gốm sứ của Trung Quốc có nguồn gốc từ
Phúc Kiến và gốm sứ Hizen của Nhật Bản đều có niên đại thế kỷ
XVII— XVIITà một sự thừa nhận
về phố cảng Nước Mặn với vai trò mậu dịch quốc tế dưới thời các
chúa Nguyễn'?)
Miền Trung thời chúa Nguyễn
là nơi giàu về tài nguyên thiên
nhiên, có nhiều tiềm năng kinh
tế, có nhiều sông ngòi và nhiều cảng biển thuận tiện cho việc
lập cảng và ghe thuyền cập bến Các chúa Nguyễn đã tận dụng mọi khả năng lao động trong
nhân dân kể cả chính sách ưu
ái với nguồn lao động và đầu tư
Trang 6của người nước ngoài dé phat
triển kinh tế và đô thị Các đô
thị đều dựa trên cảng sông để
phát triển đã tạo ra một thế
hệ phố cảng rất đặc sắc nhưng
chủ yếu dựa vào thiên nhiên
của thời tiền công nghiệp
Rhi cảng sông, cửa biển có
biến đổi thì phố cũng thay đổi
theo và cuối cùng bị suy tàn
Chỉ còn lại Hội An là duy trì
được sức sống của một dạng
đô thị có dáng dấp thời trung
đại đã được UNESCO công
nhận di sản văn hóa thế giới
mang tính đại diện cho các
phố cảng ở miền Trung Việt
Nam thời các chúa Nguyễn ở
Đàng Trong
CHÚ THÍCH:
1 Ngoài ra, còn có một số đô
thị cảng ra đời muộn hơn như
Thu Xa (Quang Ngai), Vang Lam
(Phú Yên), Nha Trang (Khánh
Hoa), Phan Ri (Binh Thuận)
2 Duong Van An (1961): O
chau can luc, ban dich Bui Luong,
Van héa A châu, Sài Gon, tr.41
3 Lê Quý Đôn (1964), Phủ
biên tạp lục, Nxb Khoa học, Hà
Nội, tr.82; Địa bộ làng Cẩm Phô
năm Gia Long 11 (1912)cũng ghi
về phía đông giáp làng Hoa Phô
4 Chùa này có thể là ngôi
chùa mang tên Hà Nam do Shi-
chirobei xây dựng năm 1670
5 Đỗ Bang (1985), Thương
cảng Hội An- thời gian và không
gian lịch sử, Hội thảo khoa học
Đô thị cổ Hội An, Hội An
6 Phan Phát Huồn (1965),
Việt Nam giáo sử, Q.1, Ñxb Khai
Trí, Sài Gòn, tr.158
7 Chau Phi Co (?), Hoi An
400 năm sự tích, bản thảo viết
tay
8 Tạ Thị Hoàng Vân (2007),
Di tích kiến trúc tại Hội An trong
tiến trình lịch sử, Luận án Tiến
sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà
Nội, Trường Đại học Khoa học xã
hội và nhân văn, tr.84-86
9 Léopole Cadiere (1920), Les
Européens qui ont vu le vieux
Hue, Thomas Bowyer, BAVH
10 Thich Dai Sdn (1963), Hai
ngoai ky su, ban dich Vién Dai hoc Huế, tr.154
11 Do hiện tượng đất bồi ờ bờ
sông nên đến năm 1841 mới lập thêm phố Quảng Đông (tức đường Nguyễn
Thai Hoc hién nay) và năm 1878 mới
lập thêm phố Bạch Đằng ở sát bờ
sông hiện nay
12 Cristoforo Borri (1931), Relation de la nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine, BAVH,
1931, p.334
13 Theo đơn thỉnh nguyện của
dân làng năm Bảo Thái thứ 7 (1716)
14 Gia phả họ Trần lưu tại nhà ông Trần Đạt (Bao Vinh) và Trần
Tiễn Hy (Minh Thanh) do Trần Ích
soạn năm 1800 Cùng thời với họ
Trần đến Thanh Hà có họ Lý và họ
Lưu nhưng nay không tìm thấy gia
phả và di duệ
15 Khế ước mua đất của làng
Minh Hương được duyệt lại năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753)
16 Dẫn và chú thích theo Linh
mục Nguyễn Văn Ngọc (1999), bài
"Hình ảnh con người Quảng Trị qua
sử liệu của các giáo sĩ ngoại quốc", tạp chí Cửa Việt số 15, tr.84
17 Những hiện vật khảo cổ học phát hiện ờ Thanh Hà có rất nhiều đồ gốm, sứ sớm nhất là chân bát có niên
hiệu Thành Hóa nhà Minh (1465-
1488), phổ biến là niên hiệu thời
Khang Hy (1662-1723), Ung Chính
(1723-1736), có cả gốm Hizen sản
xuất ở đảo Kyuihu, Nhật Bản (1650-
1680); trong nước không những có rất
nhiều gốm Phước Tích (Thừa Thiên
Huế) mà còn nhiều gốm Bát Tràng, được đưa vào trao đổi Về tiền đồng, ngoài các đồng tiển có niên hiệu vua Việt Nam còn tìm thấy nhiều đồng tiên ghi niên hiệu Khang Hy (1662-
1723), Càn Long (1736-1796), cũng
tìm thấy nhiều đồng tiền Piastres của Pháp và đồng Mexiques Hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế cùng các bộ sưu tập tư nhân ở địa phương
18 Cordiere H (1887), Voyage
de Pierre Poivre en Cochinchine, description de la Cochinchine, REO, T.HI 1887
19 Cristoforo Borri (1931),
Relation de la nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine, BAVH,
p.351
20 Pratier de la carte Général
Asie de Bleau (1608), T.XXIX, N°4,
E.Trimestre, 1954— trong luông mậu
dịch của Tây Ban Nha Vuconva là
Lữ Tống, tức Lucon ở bắc Philippin
(Yves Mangin, "Les Portugais sur
le cétes du Vietnam et du Campa",
BEFEO, Paris, 1972, bản đồ số 1,
Phần phụ lục)
21 P.B Lafont, "Apercu sur
le queques relations maritimes et commerciales entre le monde Indo-
chinois, et la Peninsules Malaise
du XVe au XVIIIe siecle", trong Le monde Indochinois et la peninsules
Malaise, Kula Lumpur, 1990, tr.4
22 Cristoforo Borri (1931), "Ban
tường trình về xứ Đàng Trong", trong Những người bạn cố đô Huế(BAVH'),
Tap 31, Ban dịch, Nxb.Thuận Hóa, tr.433
23 Cristoforo Borri (1931), Xứ Đàng Trong năm 1621, Ban dich
Hồng Nhuệ - Nguyễn Khắc Xuyên
và Nguyễn Nghị, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, tr.99 Bản của BAVH (1981) cho là dài ð dặm, rộng 5 dặm
là không thục tế (Tldd, tr.433)
24 Cordier H (1887), Voyage
de Pierre Poivre en Cochinchine, description de la Cochinchine, REO,
T.III, tr.167
25 Quéc str quan triéu Nguyén
(1964), Đại Nam nhất thống chí,
tỉnh Bình Định, Bản dịch Nguyễn
Tao, Sai Gon
26 Dé Bang (1991): "Dau tich cua cảng thị Nước Mặn", trong Những
phát hiện mới khảo cổ học năm, Viện Khảo cổ học
27 Sau đợt phát hiện này, đỉnh
lư trên được đưa về Bảo tàng Quang Trung để ghi dấu về hiện vật thời
Tay Sơn
28 Cristoforo Borri (1931), "Ban
tường trình về xứ Đàng Trong”, trong
Những người bạn cố đô Huế(BAVH]), Tập 31, Bản dịch, Nxb Thuận Hóa,
tr.432
29 Dinh Ba Hoa (2005): Dao thám sát thương cảng Nước Mặn,
Tư liệu Bảo tàng Tổng hợp Bình
Định.