1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Service learning - Hoang Mi

16 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 815,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp học service learning lên kết quả học tập môn học Tin và viết Tin của đối tượng sinh viên ngành QHCC Th S Hoàng Mi Khoa QHCC TT, UEF Tóm tắt Nghiên cứu này đã tiến hà[.]

Trang 1

Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp học service learning lên kết quả học tập môn học Tin và viết Tin của đối tượng sinh viên ngành QHCC

Th.S Hoàng Mi

Khoa QHCC- TT, UEF

Tóm tắt

Nghiên cứu này đã tiến hành thử nghiệm bán can thiệp trên nhóm đối tượng sinh viên có và không

có tham gia dự án service learning (SL) trong môn học Tin và viết Tin tại trường đại học Kinh tế Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh (UEF) Dự án SL bao gồm bốn hoạt động chính và kết quả của việc thực hiện dự án này sẽ được đánh giá theo 3 cách khác nhau, bao gồm chất lượng của sản phẩm, bảng khảo sát trên đối tượng sinh viên tham gia và không tham gia và và phỏng vấn sâu Kết quả cho thấy sinh viên tham gia dự án SL trong môn học tin và viết tin làm ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn, có sự phát triển về mặt nhân cách tốt đối với cộng đồng yếu thế Tuy nhiên, phương pháp SL cũng bị các bạn sinh viên đánh giá là mất thời gian và do đó có nhiều sinh viên quyết định không tham gia dự án SL mặc dù hiểu về ý nghĩa của dự án này

Từ khóa: dự án service learning, so sánh kết quả, sinh viên, UEF

1 Giới thiệu

Phương pháp học tốt cần nhấn mạnh vào tính “know-how” bằng cách kết hợp cả hai nhu cầu trong một cách học đó là nhu cầu được giúp đỡ người khác và nhu cầu được kết hợp lý thuyết và thực hành trong việc học Khi tham gia vào phương pháp học service learning, sinh viên có cơ hội hiểu hơn về các nhu cầu có thực của cộng đồng (Maher, 2003) và ứng dụng những gì mình đã làm cho cộng động cho các tình huống thực tế khác (Turnley, 2007) Với đặc điểm của ngành học QHCC

là một ngành thiên về tính ứng dụng, do đó hiện nay trên thế giới đã có nhiều trường đại học áp dụng cách dạy và học theo phương pháp service learning (Oster-Aaland, Selnow, Nelson & Pearson, 2004) cho các sinh viên trong ngành này

Phương pháp này đã hỗ trợ cho các sinh viên trong ngành học này cơ hội được thực tập những gì mình đã học thông qua việc phục vụ cộng đồng (Kahl Jr., 2010) Trong khi đó, Khoa Quan hệ Công chúng và Truyền thông tại UEF có định hướng trở ngành đơn vị tiên phong đào tạo ngành Quan hệ công chúng theo mô hình chuẩn quốc tế với mục tiêu lâu dài trở thành đơn vị đào tạo dẫn

Trang 2

đầu trong ngành Để đạt được điều này, UEF cần hướng đến cá phương pháp dạy và học hiện đại trên thế giới Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng phương pháp dạy và học này tại UEF còn hạn chế

và vẫn chưa được áp dụng cho sinh viên ngành QHCC và do đó, cần phải có những nghiên cứu về khả năng ứng dụng phương pháp này trong việc giảng dạy cho sinh viên, từ đó rút ra được các ưu, nhược điểm và khả năng ứng dụng rộng rãi cho các môn học cho sinh viên trong ngành này cũng như ngành học khác

2 Tổng quan

Mô hình Service-learning (Học thông qua phục vụ cộng đồng, hay học trong cộng đồng) được định nghĩa là trải nghiệm giáo dục mà ở đó, sinh viên tham gia hoạt động có tổ chức nhằm phục vụ cộng đồng, đáp ứng nhu cầu đã được xác định của cộng đồng, nhờ đó có sự am hiểu hơn về nội dung môn học, phản hồi hoạt động phục vụ cộng đồng, qua đó có đánh giá bao quát hơn về chuyên ngành và gia tăng ý thức trách nhiệm công dân (Bringle & Hatcher, 1995) Đây được giới thiệu là một trong những phương pháp mới có thể ảnh hưởng tới thái độ, mục tiêu của người học (Dewey, 1938) SL một phương pháp đưa những kiến thức đã học ra khỏi ngoài khuôn khổ của lớp học về tạo điều kiện cho sinh viên có thể tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng với mục tiêu đem lại những giá trị thực hành cho các kiến thức đã thu nhận (Dewey, 1916, 1938) Tương tự như Dewey, chu trình học tập theo kinh nghiệm của Kolb (1984) cũng cho rằng học tập là quá trình kết hợp một kinh nghiệm và môi trường liên tục nhằm tạo ra sự phát triển Trong phương pháp học service leaning các mối quan hệ với bạn bè và những bên liên quan sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình học và hỗ trợ cho sinh viên gia tăng kiến thức của họ (Vygotsky’s, 1978) Sinh viên và giảng viên cùng làm việc với nhau và tạo ra nhận thức mới thông qua việc chia sẻ các kiến thức cá nhân cũng như kinh nghiệm họ đã thu nhập được trong quá trình làm việc trong các dự án service learning (Vygotsky’s, 1978)

Mô hình Service-learning được chứng minh là mang lại nhiều lợi ích cho giáo dục cho cả giảng viên và sinh viên Những lợi ích của Service-learning với sinh viên có thể gồm phát huy sự chấp nhận tính đa dạng, trách nhiệm, sự tin cậy và quan tâm đến người khác (Melchior, 1999; Switzer, Simmons, Dew, Regalski, & Wang, 1995), phát triển tương tác và năng lực làm việc với đồng đội, các kỹ năng giao tiếp và lãnh đạo (Astin & Sax, 1998), nâng cao động lực học tập (Melchior, 1999; Shumer, 1997) và cải thiện thành quả học tập (Scales, Blyth, Berkas & Kielsmeier, 2000) Ngoài

ra, những tác động của Service-learning đối với trường Đại học được Eyler và cộng sự (2001)

Trang 3

nghiên cứu và chỉ ra gồm có: cải thiện sự hài lòng của sinh viên, tăng sự gắn bó của sinh viên đối với trường Đại học, cũng như phát triển các mối quan hệ giữa trường Đại học với cộng đồng Giảng viên Đại học có tham gia giảng dạy các môn học Service-learning hay thực hiện dự án Service-learning có được lợi ích như phương pháp giảng dạy của họ trở nên đa dạng hơn và hỗ trợ các phong cách học tập khác nhau (McGoldrick & Ziegert, 2008), hiệu quả giảng dạy tăng cao hơn (Eyler & cộng sự, 2001), năng lực chuyên môn được nâng cao hơn và cơ hội phát triển nghiên cứu

mở ra nhiều hơn (Willis, 2002) Cộng đồng đóng góp vào hoạt động Service-learning được hưởng lợi từ hoạt động phục vụ của sinh viên, hưởng lợi từ các đóng góp chuyên môn của giảng viên và tăng cường mối quan hệ với trường Đại học (Eyler & cộng sự, 2001)

Đối với cộng đồng, Service-learning mang lại các lợi ích như: có thêm nguồn nhân lực/sinh viên tài nguyên của cộng đồng để thúc đẩy các mục tiêu trước mắt hoặc lâu dài của cộng đồng (Driscoll,

et al, 1996), đại diện cộng đồng/các nhân viên của các tổ chức đóng vai trò quan trọng như là giáo viên của sinh viên (Eyler and Giles, 1999), vai trò “đồng giáo dục” và các đối tác cộng đồng tạo

ra cơ hội quan trọng để chia sẻ công việc, tầm nhìn và mục đích của tổ chức với sinh viên, tạo ra tác động tích cực đến sinh viên khi họ phát triển nghề nghiệp và bản thân

Do đó, nghiên cứu về giá trị của learning đối với giáo dục đại học, tác động của Service-learning, đánh giá dự án Service-learning tại Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết

3 Phương pháp

Nghiên cứu này sử dụng dạng nghiên cứu bán can thiệp, với một nhóm kiểm soát và một nhóm thử nghiệm Các nhóm này được đánh giá kết quả và so sánh với nhau khi tham gia và không tham gia dự án dự án “Viết tin và làm video truyền thông cho tiệm bánh Happy Sun” trong môn học

“Tin và viết tin” (Mã môn học JOU1101) Tiệm bánh Happy Sun là một cơ sở kinh doanh của Trung tâm Nhật Hồng, được xây dựng nhằm tạo việc làm, thu nhập cho các bạn khiếm thị và nhìn kém Khó khăn lớn hiện nay của tiệm là thiếu nhân sự phụ trách về marketing và kinh doanh nên hoạt động của tiệm chưa tạo ra nhiều lợi nhuận và chưa có nhiều người biết đến Vì vậy, tiệm bánh này cần sự đóng góp của các bạn sinh viên UEF trong vai trò truyền thông thông qua các tin mà sinh viên thực hiện

Nhóm thử nghiệm có số lượng sinh viên là 8 (n=8), được giới thiệu về phương pháp học service learning và lựa chọn làm 1 dự án service learning theo nhóm 4 người cho bài thi giữa kì trong lớp Tin và viết tin

Trang 4

Nhóm kiểm soát có số lượng sinh viên là 31 (n = 31), nhóm này cũng được giới thiệu về phương pháp học service learning, nhưng các sinh viên này lựa chọn không tham gia vào dự án service learning cho bài thi giữa kì trong lớp Tin và viết tin mà viết theo một dự án đề tài tự do theo từng nhóm 4 – 6 người

Nhóm thực nghiệm và nhóm kiểm soát cùng được hướng dẫn về mặt lý thuyết và kỹ năng Tin và viết Tin bởi một người hướng dẫn nhưng khi đi vào dự án thì nhóm thực nghiệm được hướng dẫn bởi trung tâm service learning của UEF và nhóm kiểm soát được hướng dẫn bởi giảng viên trên lớp Cả trung tâm service learning của UEF và giảng viên môn học Tin và viết Tin đều áp dụng theo cùng một mục tiêu đó là các nhóm phải viết 1 tin dài, 1 tin video

Yêu cầu của bài giữa kì này như sau:

Viết 2 tin, đăng lên trang facebook, website trường hoặc Khoa, hoặc 1 trang tin tức khác, làm theo nhóm

+ 1 tin dài > 1000 chữ, theo cấu trúc đã học với ít nhất 5 ảnh

+ 1 tin video

- Nội dung:

- Hành động tốt của sinh viên UEF

- Hoạt động service-learning

Thông tin thu thập tại tại tình huống thực tế, viết tin, chụp ảnh kèm tin, quay video

Người tham gia

Sinh viên có giới tính nam và nữ (n=39), tuổi từ 18 đến 20 và đăng ký môn học Tin và viết Tin, được đánh giá kết quả dự án vào cuối kì và yêu cầu hoàn thành một cuộc khảo sát về SL khi kết thúc học kỳ Các phân tích dữ liệu chỉ bao gồm dữ liệu từ những người tham gia

Bảng 1: số liệu thống kê về giới tính, tuổi tác và kinh nghiệm về service - learning của người tham gia

Không có kinh nghiệm trước đây về SL 36 92%

Trang 5

Tất cả các sinh viên được khuyến khích tham gia buổi giới thiệu về service learning để biết thêm

về phương pháp học tập này Sau đó, các sinh viên cũng tham gia 1 buổi giới thiệu về Trung tâm Nhật Hồng, nhu cầu truyền thông của trung tâm và 1 buổi chia sẻ bởi diễn giả Nguyễn Tuấn Tú, một người khiếm thị để nói về những vấn đề cần lưu ý khi tiếp xúc và phỏng vấn người khiếm thị Sau đó, các sinh viên sẽ được tự do lựa chọn việc tham gia dự án service learning hay không

Đo lường kết quả

Để đo lường kết quả của việc tham gia dự án service-learning, giảng viên đánh giá dựa vào kết quả của tin dài và tin video mà các nhóm đã thực hiện

Thang đo điểm số cho các bài tin này được đánh giá như sau:

• Đúng số lượng tin được yêu cầu: 1 điểm

• Các tin được viết đúng cấu trúc, ngắn gọn, dễ hiểu: 3 điểm

• Phần khởi trực tiếp, rõ trọng tâm: 2 điểm

• Đặt tít đúng trọng tâm, hấp dẫn: 2 điểm

• Đề tài hay, có tính phát hiện: 1 điểm

• Trình bày chuyên nghiệp: 1 điểm

Tổng: 10 điểm

Ngoài ra cảm nhận của sinh viên về phương pháp học SL cũng được khảo sát thông qua một bản hỏi được xây dựng theo Thang đo Likert 5 lựa chọn Các câu hỏi trong bảng khảo sát này được lấy

từ báo cáo đánh giá giá sinh viên năm 2012-2013 của trung tâm Carlson Center, đại học University

of Washington (Mỹ), nơi đã thực hiện các dự án SL trên 25 năm

Để hiểu sâu hơn về cảm nhận của sinh viên về việc tích hợp dự án SL trong môn học tin và viết tin, một số bạn sinh viên có tham gia và không tham gia dự án SL lần này cũng được lựa chọn để tiến hành phỏng vấn sâu và tìm hiểu lý do tại sao sinh viên này lựa chọn hoặc không lựa chọn việc làm dự án SL và các quan ngại của sinh viên trong việc thực hiện dự án SL hiện nay

4 Kết quả

Trong vòng 15 tuần của môn học Tin và viết Tin, đã có có bốn hoạt động chính của dự án SL được tiến hành trong môn học này:

- Ngày 30/11/2018: các bạn sinh viên đã được gặp gỡ, trao đổi cùng Sơ Lê Thị Kim Phụng, Giám đốc Trung tâm bảo trợ khiếm thị Nhật Hồng nhằm chia sẻ những câu chuyện về quá

Trang 6

trình thành lập, hoạt động của Trung tâm đồng thời nêu bật nhu cầu hỗ trợ truyền thông cho tiệm Bánh Happy Sun

- Ngày 6/12/2018: các bạn sinh viên đã được tìm hiểu thêm nhiều thông tin về cộng đồng người khiếm thị qua phần chia sẻ của diễn giả Nguyễn Tuấn Tú, là chàng trai khiếm thị sở hữu tấm bằng cử nhân loại giỏi của một trường đại học

- Ngày 12/12/2018: các thành viên của dự án đã có buổi họp tại Happy Sun Tại đây, các bạn đã được nghe về tình hình hoạt động của cơ sở và được các Sơ hướng dẫn thêm về cách giao tiếp với các bạn khiếm thị đang làm việc tại tiệm bánh Đây là hoạt động quan trọng để các bạn có thêm tư liệu cho các sản phẩm truyền thông

- Ngày 30/1/2019: dự án “Viết tin và làm video truyền thông cho tiệm bánh Happy Sun” đã chính thức hoàn thành Các bạn sinh viên tham gia được trao chứng nhận tham dự dự án

SL

Hình 1: Sơ Lê Thị Kim Phụng – Giám đốc

Trung tâm Nhật Hồng giới thiệu tổng quan về

Trung tâm trong buổi chia sẻ nằm trong dự án

SL

Hình 2: Anh Nguyễn Tuấn Tú chia sẻ về cuộc sống của người khiếm thị trong buổi chia sẻ nằm trong dự án SL

Trang 7

Hình 3: Sinh viên UEF làm việc cùng đối tác

cộng đồng

Hình 4: Các sinh viên tham gia dự án SL được nhận giấy chứng nhận

Sản phẩm truyền thông của các sinh viên bao gồm các bài viết, video clip về các sản phẩm của tiệm bánh Happy Sun cũng đã được giới thiệu trên trang fanpage https://www.facebook.com/happysunkt.bakery/

Hình 5: giao diện trang fanpage do sinh viên thực hiện nhằm giới thiệu về sản phẩm của tiệm bánh Happy Sun của người khiếm thị

Đánh giá kết quả của việc tham gia dự án SL:

Phân phối t-Test (Hai mẫu giả định phương sai không bằng nhau) đã được tiến hành để kiểm tra

so sánh hiệu quả của việc học theo phương pháp SL và việc học theo phương pháp truyền thống giữa hai nhóm thử nghiệm (Sinh viên có tham gia SL) và nhóm kiểm soát (Sinh viên không tham gia SL)

- Trong điểm kiểm tra tin dài của nhóm thử nghiệm (Sinh viên có tham gia SL), kết quả bao gồm (M=8.75) trong khi nhóm kiểm soát (Sinh viên không tham gia SL) kết quả bao gồm (M=8.32) Trog khi đó, giữa 2 nhóm này: t=3.6; p=0.002 <0.5, cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong điểm kiểm tra tin dài của 2 nhóm Cụ thể là nhóm thử nghiệm (Sinh viên có

Trang 8

tham gia SL) có kết quả M=8.75> M=8.32 của nhóm kiểm soát (Sinh viên không tham gia SL)

- Trong điểm kiểm tra tin video của nhóm thử nghiệm (Sinh viên có tham gia SL), kết quả bao gồm (M=8.375) trong khi nhóm kiểm soát (Sinh viên không tham gia SL) kết quả bao gồm (M=8) Trog khi đó, giữa 2 nhóm này: t=2.04; p=0.07 <0.5, cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong điểm kiểm tra tin video của 2 nhóm Cụ thể là nhóm thử nghiệm (Sinh viên

có tham gia SL) có kết quả M=8.387> M=8 của nhóm kiểm soát (Sinh viên không tham gia SL)

Bảng 2: Kết quả t-Test : Hai mẫu giả định phương sai không bằng nhau trên điểm kiểm tra tin dài giữa hai nhóm thử nghiệm (Sinh viên có tham gia SL) và nhóm kiểm soát (Sinh viên không tham gia SL)

Sinh viên có tham gia SL Sinh viên không tham gia SL

Hypothesized Mean

P(T<=t) one-tail 0.001188592

t Critical one-tail 1.745883676

P(T<=t) two-tail 0.002377185

Bảng 3: Kết quả t-Test : Hai mẫu giả định phương sai không bằng nhau trên điểm kiểm

tra tin video giữa hai nhóm thử nghiệm (Sinh viên có tham gia SL) và nhóm kiểm soát

(Sinh viên không tham gia SL)

Trang 9

Sinh viên có tham gia

Hypothesized Mean

P(T<=t) one-tail 0.039801006

t Critical one-tail 1.894578605

P(T<=t) two-tail 0.079602012

Ngoài ra, trong các bài viết này, các sinh viên có tham gia SL cũng đã đưa ra những cảm nhận tích cực về cộng đồng người khiếm thị trong bài viết của mình, điều mà nhóm đối chứng không có:

“Tọa lạc tại số 18 Xô Viết Nghệ Tĩnh, tiệm bánh nhỏ Happy Sun nhiều năm qua vẫn tồn tại giản

dị giữa sự nhộn nhịp của thành phố Bởi lẽ nơi đây không chỉ đặc biệt vì các loại bánh mà còn vì những người thợ làm bánh tài hoa, đầy nghị lực”

“Nhìn thành quả của sự nỗ lực không ngừng, sơ mừng cho mình và mừng cho các em khiếm thị Mừng vì đã cho các em được cái nghề mới, ổn định hơn.”

“Hãy nghĩ xem cuộc sống của bạn như thế nào khi trước mắt bạn là bóng tối? Hãy nghĩ xem chiếc bánh bạn yêu thích, bạn sẽ thưởng thức như thế nào khi không nhìn thấy chúng? Hơn hết, bạn hãy nghĩ xem khi trong bóng tối, bạn lại có thể làm nên một điều kì diệu như chiếc bánh Happy Sun” Kết quả khảo sát cảm nhận của sinh viên về SL

Ngoài ra, các sinh viên cũng được khảo sát để đánh giá cảm nhận về phương pháp học theo SL, về mức độ hữu ích của dự án SL cho môn tin và viết tin và mức độ sẵn sàng cho việc tiếp tục thực hiện phương pháp học SL cho những môn học khác và môn Tin và viết tin

Theo kết quả khảo sát lên 39 sinh viên kể cả nhóm tham gia dự án SL và nhóm không tham gia dự

án SL nhưng có có tìm hiểu và được giới thiệu về phương pháp học này trong buổi giới thiệu của trung tâm SL cũng như trong hai buổi nói chuyện của diễn giả có liên quan trong dự án này, hầu

Trang 10

hết các sinh viên đều có hài lòng với sự có mặt của dự án SL trong môn học này (điểm trung bình

= 4.23/5) Trong khi đó khảo sát ngược lại nếu không có sự hiện diện của của dự án SL thì sinh viên liệu có học được nhiều hơn không thì thì hầu hết các sinh viên đều cho rằng họ không học được nhiều hơn nếu như thiếu đi sự hiện diện của phương pháp học này (điểm trung bình = 1.97/5) Phần lớn các sinh viên đều cho rằng phương pháp học SL có ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp và học tập trong tương lai của họ (điểm trung bình = 3.95/5)

Trong khi đó ý kiến cho rằng SL giúp cho sinh viên hiểu hơn về sự liên quan của môn học này đến các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày lại không được rõ ràng lắm (điểm trung bình = 3.54/5), điều này cho thấy sự kết nối giữa phương pháp học SL và môn học tin và viết tin vẫn còn chưa tốt Ngoài ra các sinh viên đều chưa thực sự sự có mong muốn trong việc kết hợp dự án hay cách học service-learning trong các môn học khác tại trường UEF (điểm trung bình = 3.36/5)

Tuy nhiên phần lớn các sinh viên đều cho rằng họ mong muốn các dự án SL sẽ được tiếp tục kết hợp trong môn học tin và viết tin trong tương lai (điểm trung bình = 4.26/5) Hầu hết các sinh viên đều cảm thấy đây là một phương pháp học hay và họ sẽ giới thiệu về phương pháp học SL cho bạn

bè người thân của mình (điểm trung bình = 4.33/5)

Hình 6: Kết quả khảo sát cuối kì về cảm nhận của sinh viên về dự án SL trong môn học Tin và viết Tin Trong đó 1 là Rất không đồng ý; 5 là Rất đồng ý

Ngày đăng: 30/04/2022, 01:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dewey, J. (1938). Experience and education: The 60th anniversary edition. Indianapolis, IN: Kappa Delta Pi Khác
2. Maher, M. J. (2003). Individual Beliefs and Cultural Immersion in Service-Learning: Examination of a Reflection Process. Journal of Experiential Education, 26(2), 88– Khác
3. Melinda Turnley (2007) Integrating Critical Approaches to Technology and Service-Learning Projects,Technical Communication Quarterly, 16:1, 103-123, DOI: 10.1080/10572250709336579 Khác
4. Laura K. Oster‐Aaland, Timothy L. Sellnow, Paul E. Nelson &amp; Judy C. Pearson (2004) The status of service learning in departments of communication: a follow‐up study, Communication Education, 53:4, 348-356,DOI: 10.1080/0363452032000305959 Khác
6. Robert Bringle and Julie Hatcher, A Service Learning Curriculum for Faculty. The Michigan Journal of.Community Service-Learning, Fall 1995, pp.112-122 Khác
7. Ziegert, Andrea &amp; McGoldrick, KimMarie. (2008). When Service is Good for Economics: Linking the Classroom and Community through Service-Learning. International Review of Economic Education. 7. 39-56. 10.1016/S1477-3880(15)30090-6 Khác
8. Zlotkowski, E. (2000). Service-learning in the disciplines. Strategic directions for service-learning research. Michigan Journal of Community Service-Learning, (Fall Special Edition), 61–67 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Anh Nguyễn Tuấn Tú chia sẻ về cuộc sống của người khiếm thị  trong buổi chia sẻ  nằm trong dự án SL  - Service learning - Hoang Mi
Hình 2 Anh Nguyễn Tuấn Tú chia sẻ về cuộc sống của người khiếm thị trong buổi chia sẻ nằm trong dự án SL (Trang 6)
Hình 3: Sinh viên UEF làm việc cùng đối tác cộng đồng  - Service learning - Hoang Mi
Hình 3 Sinh viên UEF làm việc cùng đối tác cộng đồng (Trang 7)
Bảng 2: Kết quả t-Test : Hai mẫu giả định phương sai không bằng nhau trên điểm kiểm tra tin dài giữa hai nhóm thử nghiệm (Sinh viên có tham gia SL) và nhóm kiểm soát (Sinh viên  không tham gia SL)  - Service learning - Hoang Mi
Bảng 2 Kết quả t-Test : Hai mẫu giả định phương sai không bằng nhau trên điểm kiểm tra tin dài giữa hai nhóm thử nghiệm (Sinh viên có tham gia SL) và nhóm kiểm soát (Sinh viên không tham gia SL) (Trang 8)
Bảng 4: Kết quả khảo sát cuối kì về cảm nhận của sinh viên về điểm mạnh và điểm yếu của dự án SL trong môn học Tin và viết Tin - Service learning - Hoang Mi
Bảng 4 Kết quả khảo sát cuối kì về cảm nhận của sinh viên về điểm mạnh và điểm yếu của dự án SL trong môn học Tin và viết Tin (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w