Đú là thời kỡ triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến, Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài, đời sống nd cực khổ, bi kịch b
Trang 1PHẦN 1:
TèM HIỂU CHUNGVĂN HỌC TRUNG ĐẠI
THỂ LOẠI
là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đơng thời Nguyễn Dữ là ẩn sĩtiờu biểu cho khớ tiết 1 nhà Nho giữ lối sống thanh cao Tuy nhiờn, qua cỏc tỏc phẩm, cú thể thấy ụng vẫn quan tõm,
lo lắng đến cuộc đời, đất nước và nhõn dõn Đú là thời kỡ triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến, Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài, đời sống nd cực khổ, bi kịch bao gđ
- nửa đầu thế
kỉ 16,
- là truyệ
n thứ
16 nằm trong
số 20 truyệ
n, nguồn gốc truyện
“vợ chàng Trương
”
Truyện truyền kì kểViết bằng chữ Hán.Thể loại truyền kỳ
là 1 thể văn xuụi thời trung đại phản ỏnh hiện thực qua những yếu tố kỡ
lạ, hoang đường Trong truyện truyền
kỡ, thế giới con người và thế giới cừi õm cú
sự tương giao
Người đọc cú thể thấy đằng sau thế giới phihiện thực chớnh
là cốt lừi của hiện thực và những quan niệm, thỏi độ của tỏc giả
- Đoạn 1: của mình: Cuộc
hôn nhân giữa Trơng Sinh và Vũ N-
ơng, sự xa cách vì
chiến tranh
và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách
- Đoạn 2: qua rồi: Nỗi oan
khuất và cái chết bi thảmcủa Vũ N-
Qua câu chuyện
về cuộc
đời và cáichết th-
ơng tâm của Vũ N-
ơng,
“Chuyện ngời con gái Nam Xơng”
thể hiện niềm th -
ơng cảm
đối với số phận oan nghiệt,
đồng thời
ca ngợi vẻ
đẹp truyền thống củangời phụ nữ Việt Nam dới chế độ phong kiến
-Trớch trongVũtrung tuỳ bỳt :tuỳ bỳt viết trong những ngày
thể tuỳ bỳt,hiểu theo nghĩa
là ghi chộp tuỳ hứng, tản mạn, khụng cần hệ thống, kết cấu
gỡ ễng bàn về cỏc thứ lễ nghi,phong tục, tập
1:từ đấu đếntriệu bất tường ->nội dung là cuộc sống xa hoa hưởng lạc của Thịnh Vương Trịnh Sõm
2:cũn lại
“ Chuyện cũ trong phủ chỳa Trịnh”
phản ỏnh đờisống xa hoa của vua chỳa
và sự nhũng nhiễu của
Trang 2tục gọi là Chiêu Hổ với
những giai thoại họa thơ
lạc nên muốn ẩn cư Đến
thời Minh Mạng nhà
Nguyễn, vua mời ông ra
làm quan, ông đã mấy
lần từ chối rồi lại bị triệu
ra
- Phạm Đình Hổ
để lại nhiều công trình
biên soạn khảo cứu có
giá trị thuộc đủ các lĩnh
vực văn học, triết học,
lịch sử, địa lí tất cả đều
bằng chữ Hán
-Di sản văn chương của ông
tương đối lớn và rất có giá trị.
Về văn có hai tập là "vũ trung
tùy bút" và "tang thương ngẫu
lục" (viết chung với Nguyễn
Án) Về thơ, có hai tập "Đông
Dã học ngôn thi tập" và "Tùng
cúc liên mai tứ hữu"
mưa, gồm: 88mẩu chuyện nhỏ
- Tác phẩm được viết đầuđời Nguyễn ( đầu
TK XIX)
quán ghi chépnhững việc xảy
ra trong xã hôi lúc đó, viết về một số nhân vật, di tích lịch
sử, khảo cứu vềđịa dư, chủ yếu
là vùng Hải Dương quê ông Tất cả những nội dung
ấy đều được trình bày giản
dị, sinh động
và hấp dẫn Tácphẩm chẳng những có giá trịvăn chương đặcsắc mà còn cung cấp những tài liệu quý giá về sử học, địa lí, xã hội học
->lũ hoạn quan gian thần thừa gió bẻ măng ức hiếp đầy đọa dân lành
bọn quan lại thời Lê – Trịnh, đồng thời kín đáo bộc lộ tâm
sự của tác giả
Thanh Oai, nay thuộc
huyện Thanh Oai, tỉnh
Hà Tây, trong đó hai tác
14, viết
về sự kiện Quang Trung đại phá Quân Thanh
- Thể chí :một lối vănghi chép sự vật,
sự việc, con người
- cũng có thể xem là 1 tiểu thuyết lịch
sử kết cấu theo kiểu chương hồi(như “Tam quốc chí”)
- Đoạn 1: từ
đầu đến 1788)”:
Được tín báo Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế thân chinh cầm quân dẹp giặc.
- Đoạn 2:
tiếp đến Thăng Long, rồi kéo vào
thành: Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng vủa vua Quang Trung.
- Đoạn 3:
còn lại: Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh
và tình trạng thảm bại của vua tôi Lê Chiêu Thống.
Đoạn trích miêu tảchiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung, sự thảm bại nhục nhã của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản nước, hại dân
Trang 3- Tự Tố Như, hiệu Thanh
Hiên, ngoài ra còn có biệt
hiệu Hồng Sơn liệp hộ,
Nam Hải điếu đồ, Nguyễn
Hầu, Nguyễn Tiên Điền.
- Cha: Nguyễn Nghiễm
(1708 – 1775) làm đến
chức Tể tướng triều Lê, là
người làng Tiên Điền, Nghi
Xuân, Nghệ An Làng Tiên
Điền bên bờ sông Lam, nổi
Du có dựa theo cốtchuyện Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm TàiNhân ( Trung Quốc)
* Nguyễn
Du sinh trưởng trong một thờiđại có nhiều biến
Có 2 loại truyện Nôm:
Truyện Nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả, được viết trên
cơ sở truyện dân gian;
truyện Nôm bác học phần nhiều có tên tácgiả, được viết trên cơ sở cốt truyện có sẵn của văn học Trung Quốc hoặc do tác giả sáng tạo ra
Truyện Nôm phát triển mạnh
mẽ nhất ở nửa cuối thế kỷ XVIII và thế kỷXIX
Nhan
đề “Đoạn
3 phầnGặp gỡ và đính ướcGia biến và lưu lạc 3 Đoàn viên
Vẻ đẹp
và thân phậnngười phụ
nữ, bộ mặt hiện thực xã hội qua cuộcđời 15 năm lưu lạc của Kiều
em Thuý Kiều
+ Bốn câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp Thuý Vân+ Mười hai câu còn lại: Gợi
tả vẻ đẹp Thuý Kiều
+ Bốn câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em
khắc hoạ rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em ThuýKiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và
dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thuý Kiều
là biểu hiện của cảm hứng nhân văn ở Nguyễn Du
Trang 4Tiến sĩ, là bạn thân chúa
Trịnh Sâm, rất giỏi thơ
12/1788, Nguyễn Huệ lên
ngôi Hoàng đế, năm 1789
đại phá quân Thanh, đuổi
Lê Chiêu Thống ra khỏi
Thăng Long Vua Lê chúa
Trịnh, chỗ dựa của dòng họ
Nguyễn Tiên Điền sụp đổ.
+ Quang Trung
mất(1792), triều Tây Sơn bị
diệt vong (1802), Triều
Nguyễn Gia Long thiết lập
Nguyễn Du làm quan cho
triều Nguyễn.
- Họ Nguyễn Tiên Điền
là đại danh gia vọng tộc, có
truyền thống học hành, đời
đời đỗ đạt làm quan to
“Bao giờ Ngàn Hống hết
dộng dữdội, xã hội phong kiến Việt nam khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa
nổ ra liên tục,đỉnh cao
là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
đã “ một phen thay đổisơn hà”
Nhưng Triều
trường tân thanh” : Theo Nguyễn Đăng
Na, “Tân thanh” là 1 thể thơ, là thơ tân nhạc phủ, bắt đầu khởi xướng
từ thời Sơ Đường, phát triển qua Lí Bạch, Bạch Cư Dị… Tân thanh
có 3 tiêu chí:
Viết về những điều mắt thấy tai nghe; khôngdùng để phổ nhạc như thơ nhạc phủ trước;
viết về nỗi khổ của người dân
“Đoạn trường”: đứt ruột, được hiểu với ý nghĩa ẩn
dụ là nỗi đau thương vô hạn tưởng như ai cầm dao cắt
cảnh ngày xuân
+ Tám câu tiếp theo:
khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh
+ Sáu câu cuối: cảnh
chị em Kiều du xuân trở về
bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, trong sáng và lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt
Trang 5cây/ Sông Nam hết nước,
họ này hết quan” (Ca dao
vùng Nghệ Tĩnh).
- Nguyễn Du thủy chung
với Triều Lê, là con người
có vốn hiểu biết sâu rộng,
vốn sống phong phú, trái
tim giàu lòng yêu thương
Thuở nhỏ Nguyễn Du sống
trong lộng lẫy vàng son, lớn
lên trải qua lưu lạc, nhuốm
- “Truyện Kiều” mang
giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Niềm thương cảm sâu
phúc của con người;
+ Trân trọng đề cao con
điêu luyện: có cả lời trực
tiếp, gián tiếp, nửa trực
“Lời văn tả….
( Mộng Liên Đường chủ nhân)
Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời nghìn thu Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng
mẹ ru những ngày
(Tố Hữu)
- Nguyễn
Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn
(Chế Lan Viên).
-
Đoạn trường tiếng ấy nghìn thu mới Trang cảo thơm còn dấu hiển linh
(Vũ Hoàng Chương)
ruột mình ra thành từng khúc
Cũng
có cách lý giải:
“Đoạn trường tân thanh” là
“tiếng kêu mới đứt ruột” Dù hiểu theo nghĩanào, nhan đề đãdiễn tả súc tích tâm ý sáng tác của Nguyễn
Du, bao trùm giá trị nhân đạo
và hiện thực của tác phẩm
Nhân dân quen
gọi “Đoạn trường tân thanh” là
+ Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều
+ Tám câu tiếp: Nỗi thương nhớ Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ của nàng
+ Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn,
âu lo của Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật
miêu tảchân thực cảnh ngộ
cô đơn, buồn tủi, đáng thương, nỗinhớ người thân da diết
và tấm lòngthuỷ chung,hiếu thảo vịtha của Thuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích
Trang 6danh không thành, tình
duyên trắc trở, lại gặp
buổi loạn li
- Vẫn ngẩng cao đầu mà sống, sống có ích
cho đến hơi thở cuối
cùng
- Là một thầy giáo danh tiếng vang
khắp miền Lục Tỉnh
- Là một thầy thuốc không tiếc sức cứu
nhân độ thế
- Là một nhà thơ
để lại bao trang thơ bất
hủ: Lục Vân Tiên, Chạy
giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần
tiếng chửi, một lời ca,
một ước mơ” – Hoài
Thanh
Khoảng đầu thập
kỷ 50 của thế
kỷ 19 (1850)
Vị trí đoạn trích:
Đoạn trích nằm ở phần đầu
truyện “ Lục Vân Tiên”
Trên đường trở về nhà thăm cha mẹ trước khi lên kinh
đô thi, gặp bọn cướp đang hoành hành, Lục Vân Tiên đã một mình cầm gậy xông vào đánh tan bọn cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga và
cô hầu Kim Liên.
Truyện thơ Nôm – 2082 câu thơ lục bát.
Mang tính chất để kể nhiều hơn đọc,
để xem nên chútrọng đến hành động của nhân vật hơn là miêu
tả nội tâm, tính cách nhân vật cũng được bộc
lộ chủ yếu qua việc làm, lời nói, cử chỉ Kếtcấu ước lệ:
Người tốt thường gặp nhiều gian truân, trắc trở trên đường đời,
bị kể xấu hãm hại nhưng vẫn được phù trợ, cưu mang để rồi cuối cùng tai qua nạn khỏi, được đền trả xứng đáng
Kẻ xấu bị trừngtrị
Với mục đích truyện truyền đạo đức thì kiểu kết cấu đó vừa phản ánh chân thực cuộc đời đầy rẫy bất công, vừa nói lên khát vọng ngàn đời của nhân dân ta: Ở hiền gặp lành, cái thiện bao giờ cũng chiến thắng cái ác, chính nghĩa thắng gian tà
- Phần 1: Lục Vân Tiên đánh cướp.
- Phần 2:
Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga.
* Giá trị hiện thực: Vạch trần cái
ác, cái xấu trong Xã hội thói gian ác, bất công, chửi những
kẻ bất nghĩa, bất nhân như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, chửi bọn người làm
ăn bất lương chuyên nghề lừa bịp, bóp nặn nhân dân ( bọn thầy bói, thầy pháp, bọn lang băm).
* Giá trị nhân đạo: Đề cao
đạo lý làm người:
- Xem trong tình nghĩa con người với con người trong xã hội:
- Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu khốn phò nguy.
- Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc đời
b) Giá trị nghệ thuật:
- mang tính chất là một truyện kể dân gian:
Chú ý đến cốt truyện, thể hiện hành động hơn miêu tả nội tâm
Nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu còn là hoá thân cho
lý tưởng hoặc thái
độ yêu ghét của ông.
- Truyện mang màu sắc Nam
Bộ cả về tính cách con người, cả về ngôn ngữ địa phương.
- thể hiện khát vọng hành đạo giúp đờicủa tác giả
- khắc họa những phẩm chất cao đẹp của
2 nhân vật chính: LVT tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, còn KNN hiền hậu, nết na,
ân tình
Trang 7CÁC TÁC PHẨM THƠ VĂN HIỆN ĐẠI ()
Tìm hiểu về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề:
Ý NGHĨA NHAN ĐỀ
là nhà thơ hiện đại Việt Nam
- Sáng tác chủ yếu tập trung vào hình ảnh người lính trong hai cuộc khángchiến Đặc biệt là tình cảm đồng chí, đồng đội, sự gắn bó của tiền tuyến với hậu phương (Đầu súng trăng treo (tập thơ
1966, Thơ Chính Hữu 1997, tuyển tập Chính Hữu 1998)
- Phong cách thơ: Bình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha, trầm hùng lại vừa sâu lắng, hàm súc
Thơ Chính Hữu không nhiều Chính Hữu là người khắt khe với mỗi con chữ, chỉ viết khi có ý tưởng và cảm xúc chín muồi Thơ Chính Hữu nhiều bài đặc sắc ,cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc Ông thường sử dụng thể thơ tự do giàu nhạc điệu, mà chủ yếu
là nhạc điệu của nội tâm, vừa lắng đọng, vừa âm vang
- Bài thơ được đánh giá là tiêu biểu của thơ ca kháng chiến giai đoạn 1946 –
1954, nó đã làm sang trọng một hồn thơ chiến sĩ của Chính Hữu
- Bài thơ sáng tác mùa xuân 1948, thời
kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ
-Chính Hữusáng tác sau trận
ốm nặng được đồng đội chăm sóc Cảm động trước tấm lòng đồng đội, viết bài thơ tri ân những người đồng chí của mình
-In trong tập
“Đầu súng trăngtreo”
“Chính Hữu
là nhà thơ quân đội thực thụ cả
về phía tác giả lẫn tác phẩm”.
(Vũ Quần Phương)
Nhan đề “Đồng chí”:(đồng: cùng; chí: chí hướng)
+Đồng chí là chung chí hướng, lí tưởng+ Thể hiện 1 tình cảm cách mạng mới mẻ nhưng vô cùng thiêng liêng, hội tụ kết tinh của bao tình cảm cao đẹp: tình giai cấp, tình bạn, tình người trong chiến tranh
+Là tiếng gọi nhau thiết tha cất lên từ trái tim những người cùng chí hướng, tiếng gọi đượckhai sinh từ cuộc kháng chiến chống Pháp
+ Khẳng định sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính Cụ Hồ, những con người chung giai cấp, chung lý tưởng, chung tâm tình, chung gian khổ…
+thể hiện bản chất cách mạng của tình đồng đội, thể hiện sâu sắc nhất tình đồng đội
- Nhan đề bài thơ khá dài, lạ , thu hút người đọc bởi sự khác lạ, độc đáo
- có tác dụng làm nổi
Trang 8đội xe
không
kính
Sư phạm Hà Nội, năm 1964, Phạm Tiến
Duật gia nhập quân đội, hoạt động trên
tuyến đường Trường Sơn và trở thành
một trong những gương mặt tiêu biểu của
thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu
Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh
thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua
các hình tượng người lính và cô thanh niên xung
phong trên tuyến đường Trường Sơn
- Phạm Tiến Duật được mệnh danh là "con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại", “thi sĩ
huyền thoại của đường mòn Hồ Chí Minh những
năm chống Mĩ:, “Viên ngọc Trường Sơn của thi
ca”, mang cả hào khí thời đại cùng dãy Trường
Sơn vào thơ Thơ ông thời chống Mỹ từng được
đánh giá là "có sức mạnh của một sư đoàn":
kháng chiến chống Mĩ diễn
ra rất ác liệt trêncon đường chiếnlược Trường Sơn
- Bài thơđược tặng giải nhất cuộc thi thơcủa báo Văn nghệ năm 1969
và được đưa vào
tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” của tác giả
bật hình ảnh độc đáo của toàn bài: Những chiếc xe không có kính Đây là 1 phát hiện mới mẻ, thú vị của tác giả, thể hiện sự am hiểu và gắn bó với hiện thực đời sống chiến tranh trên tuyến đường Trường Sơn
- Hai chữ “Bài thơ” tưởng thừa nhưng thể hiện
rõ +cách nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: đưa hiện thực thô ráp, tươi rói vào thơ
+ Không phải chỉ phản ánh hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà còn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ anh hung hiên ngang dũng cảm, vượt lên gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến vì lí tưởng cao đẹp
3 Đoàn
thuyền
đánh cá
- Huy Cận (1919 – 2005), tên đầy đủ là
Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Dụ
Quang (trước đây thuộc huyện Hương Sơn, sau
đó là Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh.
- Huy Cận đã nổi tiếng trong trào thơ
mới với tập thơ “Lửa thiêng” (1940) Ông tham
gia cách mạng từ trước năm 1945 và sau cách
mạng tháng Tám từng giữ nhiều trọng trách trong
chính quyền cách mạng, đồng thời là một trong
những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt
Nam
Các tập thơ của Huy Cận sau Cách mạng tháng 8: Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 ), Đất nở
hoa (1960), Bài thơ cuộc đời( 1963 ), Hai bàn tay
em (thơ thiếu nhi, 1967 ), Những năm sáu
mươi ( 1968 ), Chiến trường gần đến chiến trường
xa ( 1973 ),Họp mặt thiếu niên anh
- Giữa năm
1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng
mỏ Quảng Ninh
Từ chuyến đi thực
tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại, dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động
và niềm vui trước cuộc sống mới.
- Bài
“Đoàn thuyền đánh cá” được
sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập thơ
“Trời mỗi ngày lại sáng” (1958)
-Đoàn thuyền: ko phải con thuyền cô độc nhỏ bé mang khí thế của thời đại, của tinh thầndân tộc, của khí thế Kế hoạch 5 năm lần thứ 1 xây dựng đất nước-Đánh cá: công việc lao động trên biển khơi
bài ca về người lao động và công việc laođộng hăng say trên nền cuộc sống mới
Trang 9Bếp lửa
- Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Bằng
Việt – sinh năm 1941 tại Huế, quê ở huyện Thạch
Thất, tỉnh Hà Tây.
- Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm
60 và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong
thời kì kháng chiến chống Mĩ.
- Các tác phẩm chính: Hương cây-Bếp lửa (in chung với Lưu Quang Vũ) 1968, Những
gương mặt, những khoảng trời (1973), Đất sau
mưa (1977), khoảng cách giữa lời (1983)…
- Ngoài sáng tác thơ, Bằng Việt còn dịch thơ và tham gia biên soạn từ điển.
- Nét nổi bật trong thơ Bằng Việt là giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, ngôn từ điềm đạm, cấu tứ
mạch lạc, giàu chất nhạc, hệ thống thi ảnh đặc
sắc Thơ Bằng Việt đi sâu vào những ngẫm suy
về kiếp người, về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi
Thế giới thơ ông là thế giới của nỗi lòng, của
mộng tưởng và hoài tiếc xen với nỗi ngậm ngùi…
Thơ Bằng Việt giàu cảm xúc tinh tế, có giọng
điệu ân tình sâu lắng, giàu hình tượng, suy tư,
triết luận Nhà thơ Bằng Việt kể lại “Những năm
đầu theo học Luật tại đây tôi nhớ nhà kinh
khủng Tháng 9 ở bên đó trời se se lạnh, buổi
sáng sương khói thường bay mờ mờ mặt đất,
ngoài cửa sổ, trên các vòm cây, gợi nhớ cảnh
mùa đông ở quê nhà Mỗi buổi dậy sớm đi học,
tôi hay nhớ đến khung cảnh một bếp lửa thân
quen, nhớ lại hình ảnh bà nội lụi cụi dậy sớm
nấu nồi xôi, luộc củ khoai củ sắn cho cả
nhà(…)Tôi chẳng nhớ được gì ngoài tiếng hú còi
tàu và tiếng chim tu hú kêu khăc khoải Rồi lại
cũng tiếng chim tu hú ấy vẫn kêu suốt những mùa
vài chín dọc những triền sông dọc những bờ đê
của cả vùng quê tôi, những năm tôi ở cùng
bà(…) “Bếp lửa” của tôi được đưa vào giảng
dạy trong nhà trường có lẽ cũng bởi nó mang
tính khái quát và tiêu biểu cho một lớp người
trong cuộc kháng chiến ngày ấy”.
- Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên ngành luật ở nước ngoài (khoa Pháp lí trường
ĐH tổng hợp Ki-ép, Liên Xô cũ)
- Bài thơđược đưa vào
tập Hương cây – Bếp lửa (1968),
tập thơ đầu tay của Bằng Việt
và Lưu Quang
Vũ
- Bài thơgợi lại nhũng kỉ niệm về người
bà và tình bà cháu vừa sâu sắcthấm thía vừa rất quen thuộc
- “Bếp lửa”: nói lên
đề tài và hàm chứa chủ
đề, tư tưởng của bài thơ
- Bếp lửa vốn là 1 hình ảnh quên thuộc trong mỗi gia đình VN
- Hình ảnh bếp lửa gợi lại những kỉ niệmđầy xúc động về tình bà cháu, về tuổi thơ
- Bếp lửa gắn liền với đời bà vất vả và vẻ đẹp tâm hồn của bà
- Bếp lửa còn có ýnghĩa biểu tượng, mang ýnghĩa lớn lao về cội nguồn, về người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, củanghĩa tình, của niềm tin cho các thế hệ nối tiếp
- Thể hiện lòng kính yêu trân trọng, biết
ơn sâu sắc của người cháu đối với bà và cũng
là đối với gia đình, quê hướng, đất nước, bếp lửa
sẽ theo cháu suốt hành trình dài rộng của cuộc đời
trị Việt Nam Ông nguyên là Ủy viên Bộ
Chính trị , Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam khoá IX, Trưởng ban Tư tưởng
Văn hóa Trung ương ; Đại biểu Quốc hội Việt
Nam khóa X, Bộ trưởng Văn hóa - Thông tin
(nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch )
Ông là cựu sinh viên của trường Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Khoa Điềm sinh tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền ,
tỉnh Thừa Thiên - Huế Thân sinh của ông là
nhà báo Hải Triều , thuộc dòng dõi quan Nội
tán Nguyễn Khoa Đăng Huế nói riêng và
mảnh đất miền Trung văn hiến hữu tình nói
chung là chiếc nôi ru lớn bao hồn thơ dân
tộc: nơi đau đáu nỗi niềm nhớ nước thương
nhà của bà Huyện Thanh Quan, nơi ấp ủ
những vân thơ đau đời của Nguyễn Du, nơi
Bài thơ được sáng tác vào năm 1971, gia đoạn đầy cam go, thử thách của cuộc kháng chiến chống Mĩ, khi ông công tác ở chiến khu miền Tây Thừa Thiên
-Khúc hát ru:
+Quen thuộc, bình dị, thân thương gắn liền với vẻ đẹp người phụ nữ, những người bà người mẹ tảo tần giàu đức hy sinh.
+ Khúc hát ru là tâm hồn dân tộc nuôi dưỡng những đứa con từ thuở ấu thơ, là âm vang tha thiết nhất từ tấm lòng người mẹ -“Những em bé lớn trên lưng mẹ”:
+Hình ảnh thực cuộc sống của người dân miền núi gắn với sức mạnh vĩ đại của người mẹ.
+Hình ảnh biểu tượng cho sức mạnh của tình mẫu
tử, sức mạnh của nhân dân
Trang 10đã sinh ra chủ tịch Hồ Chí Minh và quy tụ
những ngôi sao sáng chói của nền văn học:
Hải Triều, Hoài Thanh, Huy Cận, Xuân
Diệu, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Lưu Trọng
Lư… Nguyễn Khoa Điềm còn được thửa
hưởng những phẩm chất ưu việt từ truyền
thống dòng họ từ tinh thần yêu nước, cách
mạng và văn hóa: nhiều đời cha ông làm
quan, bà nội là cháu nội của vua Minh Mạng,
bà nội có tư tưởng tiến bộ, viết nhiều bài
bênh vực phụ nữ và trẻ em Cha ông là
Nguyễn Khoa Văn – Tức Hải Triều
Đất ngoại ô (1973) Mặt đường khát vọng (1974) Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986) Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990) Cửa thép (1972)
Đất và khát vọng….
Thơ NKĐ là những nét phác họa về chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa những năm
chống Mĩ, là bức tranh về cuộc đấu tranh
chính trị của học sinh sinh viên trong đô thị
tạm chiến miền Nam Thơ NKĐ là sự kết tinh
của xúc cảm và trí tuệ.
- Nhan đề bài thơ có tính khái quát: Em Cu-Tai
là 1 hình ảnh cụ thể, nhưng còn có bao nhiêu em bé đã lớn trên lưng của những bà
mẹ người dân tộc Tà-ôi.
- Nhan đề bài thơ cũng
là 1 ý thơ: Bài thơ ca ngợi người mẹ miền núi, cũng là người mẹ Việt Nam, kết hợp lòng yêu thương con, yêu con với yêu thương bộ đội, yêu thương dân làng, yêu nước Hình ảnh người
mẹ là hình ảnh tượng trưng
đã nuôi lớn những người con của mình để hiến dâng cho cuộc kháng chiến giành độc lập của Tổ quốc.
của mình Thơ ông ngày càng đậm đà, ổn
định một phong cách, một giọng điệu
“quen thuộc mà không nhàm chán”
- Thơ Nguyễn Duy có giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với
những trăn trở, day dứt, suy tư
- Các tác phẩm chính: Cát trắng (thơ 1973), Ánh trăng (thơ 1984), Mẹ và
-Nguyễn Duy về công táctại Thành phố HCM
-Vầng trăng là hình ảnh quen thuộc của đất trời thiên nhiên , là cảm hứng muôn đời của thi ca-“Ánh trăng” là nguồn sáng dịu hiền, nhẹ nhàng nhưng len lỏi khắpnhững nơi khuất nấp trong tâm hồn con người
- Là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, cho đạo lý uống nước nhớ nguồn, ân nghĩa thủy chung của dân tộc
- Là lời nhắc chúng
ta về tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, nghĩa tình đối với thiên nhiên đất nước bình dị, hiền hậu, thức tỉnh những điều sai trái, hướng đến cuộc sống tốt đẹp
7 Con cò
Chế Lan Viên (1920-1989) là một nhà thơ, nhà văn hiện đại nổi tiếng ởViệt Nam.
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức
ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam
An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
- Được sángtác năm 1962, được in trong tập “Hoa ngày thường, chim
- Con cò là hình ảnh quen thuộc với đời sống làng quê xưa, là mô típ quen thuộc của ca dao dân ca
Trang 11ễng lớn lờn và đi học ở Quy Nhơn,
đỗ bằng Thành chung (THCS hay cấp II hiện
nay) thỡ thụi học, đi dạy tư kiếm sống Cú thể
xem Quy Nhơn, Bỡnh Định là quờ hương thứ
hai của Chế Lan Viờn, nơi đó để lại những
dấu ấn sõu sắc trong tõm hồn của nhà thơ.
Tỏc phẩm chớnh Thơ : Điờu tàn (1937), Gửi cỏc anh (1954), Ánh sỏng và phự sa (1960) ,
Hoa ngày thường - Chim bỏo bóo (1967),
Những bài thơ đỏnh giặc (1972), Đối thoại
mới (1973), Ngày vĩ đại (1976), Hoa trước
lăng Người (1976), Dải đất vựng trời (1976),
Hỏi theo mựa (1977), Hoa trờn đỏ (1984),
Tuyển tập thơ Chế Lan Viờn (tập I, 1985; tập
II, 1990), Ta gửi cho mỡnh (1986), Di cảo
thơ I, II, III (1992, 1993, 1995), Tuyển tập
thơ chọn lọc
Văn: Vàng sao (1942), Thăm Trung
Quốc (bỳt ký, 1963), Những ngày nổi
giận (bỳt ký, 1966), Bỏc về quờ ta (tạp văn,
1972), Giờ của đụ thành (bỳt ký, 1977),
Nàng tiờn trờn mặt đất (1985)
Tiểu luận phờ bỡnh: Kinh nghiệm tổ chức
sỏng tỏc (1952), Núi chuyện thơ văn (1960),
Vào nghề (1962), Phờ bỡnh văn học (1962),
Suy nghĩ và bỡnh luận (1971), Bay theo
đường bay dõn tộc đang bay (1976), Nghĩ
cạnh dũng thơ (1981), Từ gỏc Khuờ Văn đến
quỏn Trung Tõn (1981), Ngoại vi thơ (1987),
- Đõy là một trong nhữngbài thơ hay và độc đỏo của ChếLan Viờn ngợi
ca tỡnh mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc sống của con người
CLV được mệnh danh là nhà thơ – triết gia vỡ thơ ụng giàu suy tưởng, triết lý, đậm chất trớ tuệ
Hỡnh ảnh trong thơ ụng thường phong phỳ, đa dạng, độc đỏo kết hợp giữa thực và ảo, giàu
ý nghĩa biểu tượng, được sỏng tạo bằng sức mạnh của liờn tưởng, tưởng tượng, nhiếu lớ thỳ, bất ngờ
Phong cỏch thơ Chế Lan Viờn rất rừ nột và độc đỏo, thụng minh và tài hoa
-con cũ là hỡnh ảnh người nụng dõn, người phụ nữ trong cuộc sống cũn nhiều vất vả nhọc nhằn nhưng giàu đức tớnhtốt đẹp và niềm vui sống
- Hỡnh ảnh con cũ trong ca dao đó húa thõn thành hỡnh búng người
mẹ lam lũ trọn đời lo lắng cho con
- Hỡnh ảnh con cũ trong ca dao là nơi xuất phỏt, là điểm tựa cho những liờn tưởng sỏng tạo rộng mở của tỏc giả-Tỏc giả khai thỏc vàxõy dựng ý nghĩa biểu tượng của hỡnh ảnh con
cũ trong mối quan hệ với tấm lũng người mẹ và những lời hỏt ru
- Con cũ là hỡnh tượng bao trựm cả bài thơ, kết tinh cấu tứ và chủ đề của tỏc phẩm
11năm1930tại xó Phong Bỡnh, huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiờn-Huế
ễng xuất thõn trong một gia đỡnh trớ thức,
-Vào nhữngnăm 79-80, tại
VN xuất hiện làn súng di tản ồ
ạt đi tỡm miền
-“Nho nhỏ” là một tính từ hiện hữu có kích thớc, có hình khối Nh vậy cách
đặt tên của Thanh hải có sự sáng tạo
Trang 12nhưng nghốo Cha ụng làm nghề dạy học, mẹ
ụng là nụng dõn ễng là anh cả trong gia
đỡnh gồm ba anh em Hai em của ụng là
Phạm Bỏ Chất và Phạm Bỏ Liờn đều đúng
gúp cho cỏch mạng nhưng khụng được nhắc
đến nhiều như người anh của mỡnh
Thuở nhỏ, ụng đi học tại quờ nhà Năm
17 tuổi, Thanh Hải tham gia cỏch mạng ở
huyện Hương Thủy , làm Chớnh trị viờn Đoàn
Văn cụng Thừa Thiờn
Vào năm 1954 - 1964 , ụng ở lại quờ hương hoạt động, làm cỏn bộ tuyờn huấn
tỉnh Trong cỏc năm 1964 - 1967 , ụng phụ
trỏch bỏo Cờ giải phúng của thành phố Huế
Sau đú, ụng làm Ủy viờn chấp hành Hội Nhà
văn Việt Nam , Chi hội phú chi Hội văn nghệ
giải phúng Bỡnh Trị Thiờn
Từ sau năm 1975 , ụng làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bỡnh Trị Thiờn , đồng thời là
Ủy viờn thường vụ Hội Liờn hiệp văn học
nghệ thuật Việt Nam , Ủy viờn Ban chấp
hành Hội Nhà văn Việt Nam
Thanh Hải sở trường về thơ năm chữ
Sỏng tỏc thơ của ụng gồm cú: "Những đồng
chớ trung kiờn", "Huế mựa xuõn", "Dấu vừng
Trường Sơn", Cỏc bài thơ: "Mồ anh hoa
nở" "Chỏu nhớ Bỏc Hồ", "Mựa xuõn nho
nhỏ", là những bài thơ kiệt tỏc làm vẻ
vang một hồn thơ xứ Huế.Thơ của Thanh
Hải cú ngụn ngữ trong sỏng, giàu õm điệu
nhạc điệu, cảm xỳc thiết tha, chõn thành và
lắng đọng:
đất hứa NHững người ra đi bỏ quờ hương xứ sởđỏnh đổi cả số phận mỡnh trờn những chiếc thuyền mà trướcbiển cả chỉ nhỏ nhoi như vỏ trấu Đú cũng là thời điểm bài thơ ra đời
- Sống được
5 năm trong hũabỡnh thỡ ụng bị bệnh hiểm nghốo xơ gan cổtrướng, phải nằm Bệnh viện TrungươngHuế Khi đú, ụng viết bài thơMựa xuõn nho nhỏ.Chẳng bao lõu sau khi viết bài thơ này, nhà thơ Thanh Hải qua đời vào ngày 15thỏng
12năm1980
Bài thơ
"Mựa xuõn nho nhỏ" được in trong tập thơ
"Huế mựa xuõn"
đặc biệt, gợi sự hấp dẫn, ấn tợng.
- Hỡnh ảnh “Mựa xuõn nho nhỏ” là kết hợp
giữa danh từ “mựa xuõn” và tớnh từ “nho nhỏ”: biểu tượng cho những gỡ tinh tỳy, đẹp đẽ nhất của sự sống
và cuộc đời mỗi con người.
- Thể hiện 1 nhõn sinh quan, 1 quan điểm về
sự thống nhất giữa cỏi riờng với cỏi chung, giữa cỏ nhõn
và cộng đồng
- Thể hiện nguyện ước của nhà thơ muốn làm một mựa xuõn, nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mỡnh những rất khiờm nhường là một mựa xuõn nho nhỏ gúp vào mựa xuõn lớn của thiờn nhiờn, đất nước, của cuộc đời chung và khỏt vọng sống chõn thành, cao đẹp của nhà thơ Đú cũng chớnh
là chủ đề của bài thơ mà nhà thơ muốn gửi gắm.
- Thanh Hải đó gúp 1
“mựa xuõn nho nhỏ” của mỡnh vào “mựa xuõn rộng lớn” của thi ca dõn tộc, của đất nước Tuy 1 tõm hồn, 1 tài năng đó khộp lại, nhưng những gỡ thuộc về chất ngọc trong trỏi tim, tấm lũng của nhàthơ vẫn cũn để đời, cho hậu thế trõn trọng nõng niu
“Mựa xuõn nho nhỏ” là một sỏng tạo độc
đỏo, phỏt hiện mới mẻ của nhà thơ.
9 Viếng
lăng Bỏc
- Viễn Phương tờn khai sinh là Phan Thanh
Viễn, sinh năm 1928, quờ ở tỉnh An Giang
Chiến thắng Hũa Bỡnh (trường ca, 1952) Anh
1999) Thỏng bảy mưa ngõu (truyện và ký, 1999
Đó dịch sang tiếng Anh ).
Năm 1967
sau khi cuộc khỏng chiến chống Mĩ kết thỳc, đất nước thống nhất, lăng chủ tịch HCM vừa khỏnh thành, tỏc giả ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng
- nờu lờn đề tài và ngọn nguồn cảm xỳc của bài thơ
Trang 13Đá hoa cương (truyện và ký, 2000) Gió lay hương quỳnh (thơ, 2005) Ngôi sao xanh (truyện
thiếu nhi, 2003) Hình bóng thương yêu (ký,
2005)
- Trong kháng chiến chống Pháp và
Mĩ, ông hoạt động ở Nam Bộ, là một trong những
cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ
giải phóng ở niềm Nam thời kì chống Mĩ cứu
Thỉnh là Tổng thư ký Hội nhà văn VN.
Là nhà thơ chiến sĩ, là 1 cây bút tiêu biểu của phong trào thơ trẻ kháng chiến chống Mĩ, vừa
cầm súng vừa cầm bút.
Tác phẩm chính: Âm vang chiến hào (in
chung);
Đường tới thành phố (trường ca);
Từ chiến hào tới thành phố (trường ca, thơ ngắn);Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in
chung);Thư mùa đông.Trường ca biển.
Thương lượng với thời gian.
-Thơ Hữu Thỉnh đề tài rộng:
+Người lính trong chiến tranh +Quê hương, đất nước +Thế thái, nhân tình -Thơ HT thâm trầm, sâu lắng, giàu chất triết
lý mà vẫn tinh tế, chứa chan cảm xúc
Hữu Thỉnh: “Không có gì đặc hơn, sánh hơn cái màu, cái mùi ổi chín vàng nhuốm trong cái
nắng vàng của mùa thu….không gian cao vút, sâu
thẳm.” “Hương ổi tự nó xộc thẳng vào những
miền thơ ấu thân thiết nhất trong tâm hồn chúng
ta Mùi hương đơn sơ ấy lại trở thành quý giá vì
nó đã trở thành chiếc chìa khóa vàng mở thẳng
vào tâm hồn mỗi người, có khi là cả 1 thế hệ”
Thu 1977, khi Hữu Thỉnh tham gia trại viết văn quân đội ở ngoại ô Hà Nội, đời người đi qua chiến tranh, đời người đi qua mùa thu cuộc đời Cũng
là thời điểm đất nước đi qua chiến tranh, thanh bình trở lại trong cái mơ
hồ, phảng phất của gió thu, mơ hồ của
lá vàng Bài thơ được viết gần cuối năm 1977, in lần đầu tiên trên báo Văn nghệ Sau đó được in nhiều lần trong các tập thơ
Trong tập thơ “ Từ
chiến hào đến thành phố”, xuất
bản năm 1991.
-“Sang thu”, chứ ko phải “Thu sang” Động từ
“sang” đặt trước (phép đảo ngữ) nhấn mạnh sự chuyển động Mọi yếu tố trong bài thơ đều trong
sự chuyển động: hương phả, sương chùng chình, sông dềnh dàng,chim vội vã…
-Sang thu: nhấn mạnh thời khắc giao mùagiữa hạ và thu của thiên nhiên đất trời Không phải là thu đã sang, đã chính thu…
-“Sang thu”: Mùa thu sang và nhiều thứ khác cũng sang: 1 sự đồng hành trong không gian xao xuyến chuyển mùa giữa thiên nhiên, đấttrời và con người
- Thể hiện những rung cảm tinh tế của HữuThỉnh trước vẻ đẹp của tạo hóa, thẻ hiện tình yêu thiên nhiên cuộc sống của nhà thơ
về công tác tại Sở Văn Hóa – Thông tin
tỉnh Cao Bằng
- Từ năm 1993, ông là chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng Thơ
ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ
và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh
của con người miền núi
Nói với con (1980) Người núi
-Hiện thực sau chiến tranh thiếu thốn cả vật chất và tinh thần tác động sâu sắc đến con người.
đại bộ phận con người kiên trì, khắc phục vượt qua nhờ vào truyền thống, tinh thần, đạo lý ngàn đời mà ông cha để lại (cốt cách của
-nói với con : là nói
về người đồng mình-Cách nói giản dị, đơn sơ, chân thành , yêu thương
-“Nói với con” mở ra
1 không khí thân mật giữa cha và con, đặt trong 1 trường từ vựng giáo huấn, dạy bảo, khuyên răn thì “nói” vẫn
là điều đơn giản nhất, dễ cất thành lời nhất, tự
Trang 14Hoa (1982)
Tiếng hát tháng giêng(1986) Lửa hồng một góc(1987)
Lời chúc (1991) Đàn then(1996) Thơ Y Phương(2002)
Phong cách thơ Y Phương +Tiếng nói ngợi ca con người và cuộc sống miền núi
+ Thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh
mẽ và trong sáng, cách tư duy sống động
giàu hình ảnh của người miền núi
+Đậm chất suy tư, giàu trải nghiệm về
lẽ sống, đạo lý
Cảm hứng bao trùm: Lòng yêu thươngcon cái và ước mong thế hệ sau tiếp nối
xứng đáng, phát huy truyền thống của tổ
tiên, quê hương
người đồng mình) Bên cạnh đó,
1 bộ phận con người có sự tha hóa trong nhân cách, có lối sống ích kỉ, bon chen,
Từ hoàn cảnh khó khăn ấy,
Y Phương đã viết bài thơ để tâm sự với mình, động viên mình, nhắc nhở con cái sau này.
nhiên mộc mạc Giọng điệu tất yếu không phải là
“con phải làm”, “con làmthế này” 1 cách ra lệnh, cứng nhắc, mà là “con ơi”, “nghe con”
Cuộc trò chuyện thân mật, gần gũi, thân tình, song phương Chỉ khi gần gũi lắng nghe như 1 người bạn lớn bên con mới có thể “nói với con”
-“Nói với con”: còn
là nói với mình, với mọi người Bài thơ như 1 khúc đồng dao, ru trẻ răn mình, lời tâm sự với con cũng là với chính mình Bài thơ nói về 1 vấn đề
vô cùng thiêng liêng, trântrọng: truyền thống văn hóa của dân tộc Bởi văn hóa là cái còn lại sau khi mọi cái đã mất đi Mất văn hóa là mất tất cả
tháng tám năm 1945 Vốn gắn bó và am hiểu sâu
sắc cuộc sống ở nông thôn Kim Lân hầu như chỉ
viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người
nông dân.
+Trước CMT8: truyện Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, đứa con
người cô đầu, cô Vịa… Mang nhiều tính tự
truyện, thể hiện không khí ảm đạm tiêu điều của
nông thôn Việt Nam trước CMT8 và số phận lam
lũ lầm than của người nông dân Một số truyện
tái hiện những sinh hoạt văn hóa phong phú ở
thôn quê như Đôi chim thành, Con mã mái, Chó
Kim Lân còn là một diễn viên ấn tượng đậm
chất “quê”với các vai Lý Cựu trong phim “Chị
Dậu”, “lão Pẩu” trong phim “Con vá”, cụ lang
Tâm trong phim “Hà Nội 12 ngày đêm” …và đặc
biệt là vai lão Hạc phim “Chí Phèo”.
- Các tác phẩm chính: “Nên vợ nên
Truyện ngắn “ Làng”
được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, người dânphải chạy tản cư
và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ 1948
Truyện diễn tả sinh động và chân thực tình yêu làng, yêu quê hương, đất nước và tinh thần cách mạng của nhân vật ông Hai trong thời kì kháng chiến chống Pháp
-Làng: là đơn vị hành chính nhỏ nhất trong bộ máy nhà nước, là nơi sinh ra, lớn lên, gắn bó với cuộc đời của mỗi con người Việt Nam -“Làng” thường tượng trưng cho những giá trị cốt lõi của quê hương, của dân tộc, của gốc gác con người -Đặt tên “Làng” mà ko phải là “làng chợ Dầu” thì vấn
đề tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp của 1 làng cụ thể, mà là mọi làng quê, con người trên đất nước Việt Nam.
-Đặt tên “Làng” vì truyện
đã khai thác 1 tình cảm bao trùm, phổ biến trong con người thời kỳ kháng chiến chống Pháp: Tình yêu làng gắn liền, nằm trong tình yêu nước, yêu cách mạng -Tình cảm yêu làng, yêu nước không chỉ là tình cảm của riêng ông Hai mà còn là tình cảm chung của những người dân Việt Nam thời kỳ