Vận dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lục học sinh trong dạy học Thủ công
Trang 1Mẫu bìa ngoài
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA………
BÀI TIỂU LUẬN Đề bài 5: Vận dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lục học sinh trong dạy học Thủ công – Kĩ thuật ở tiểu học. Tên học phần:………
Mã học phần:………
Mã lớp:………
Học kì , năm học………
Phú Thọ, tháng … năm……
Trang 2Mẫu bìa trong
Điểm kết luận của bài thi
Số phách (Do HĐ chấm thi ghi)
Số phách (Do HĐ chấm thi ghi)
Họ và tên SV/HV: Trần Thu Thanh GVHD:……… Ngày, tháng, năm sinh:
Tên lớp………
Mã lớp: 1917D03A
Mã SV: 195D030027
Ghi bằng
số
Ghi bằng chữ
Họ, tên và chữ ký của
cán bộ chấm thi 1
Họ, tên và chữ ký của
cán bộ chấm thi 2
Họ, tên và chữ ký của giảng viên thu
bài thi
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4STT NỘI DUNG TRANG
12,13
14 4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn
I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Ngày nay, cùng với sự phát triển đi lên của xã hội là sự phát trển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin Nó đã trở thành lực 1tôi đã suy nghĩ, tìm tòi và lựa chọn
đề tài: Áp dụng phương pháp dạy học lực lượng sản xuất trực tiếp không chỉ thay thế cho các hoạt động lao động chân tay mà còn thay thế cho cả hoạt động trí óc của con ngời Do đó đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao Với đặc điểm này cách mạng khoa học công nghệ đang ảnh hởng một cách sâu sắc và toàn diện tới mọi lĩnh vực hoạt động
Trang 5xã hội nói chung, chất lợng đào tạo trong nhà trường nói riêng Một trong những môn học đảm bảo cho thế hệ trẻ có khả năng hoà nhập với khoa học công nghệ, góp phần quan trọng vào việc rèn luyện phong pháp suy nghĩ, phơng pháp giải quyết vấn đề, phát triển t duy kĩ thuật cho học sinh đó là phân môn Thủ công - kĩ thuật ở tiểu học Đây cũng chính là môi trờng thuận lợi để hình thành các phẩm chất cần thiết của người lao động mới như : cần cù, cẩn thận,
có ý thức vợt khó, làm việc có nề nếp, có kế hoạch, tác phong khoa học, tính tự giác, ham hiểu biết và óc sáng tạo
Môn học này các em đã được làm quen một phần nào đó ở bậc học mầm non như là xé, dán Lên lớp 1, học sinh được làm quen với các kĩ thuật khác như kĩ thuật xé, cắt dán giấy theo các hình cơ bản hay các hình đơn giản như cái cây, con gà… và được làm quen với các nếp gấp cơ bản Đến lớp 2, độ khó của các kĩ thuật càng được tăng lên, gấp các hình phức tạp hơn, học sinh được học cắt, dán và phối hợp gấp - cắt - dán hình, tạo các sản phẩm đồ chơi, trang trí theo ý thích Tôi thấy nội dung các bài học Thủ công rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, giúp các em rèn sự khéo léo, tỉ mỉ của đôi bàn tay, các phẩm chất của người lao động như tính cẩn thận, tỉ mỉ và kích thích khả năng tư duy sáng tạo qua các bài như: Gấp con ếch, tên lửa, máy bay đuôi rời, thuyền phẳng đáy, tàu thủy hai ống khói; Gấp, cắt, dán biển báo giao thông; Gấp, cắt, trang trí thiệp chúc mừng; Làm đồng hồ đeo tay, đồng hồ để bàn, con bướm…Nội dung bài học đa dạng Các bài thực hành của học sinh thường chỉ mang tính khuôn mẫu theo yêu cầu của giáo viên chứ chưa có khả năng thực hành sáng tạo của học sinh Một số giáo viên cho rằng Thủ công chỉ là một môn phụ nên hiệu quả dạy học chưa cao Việc dạy Thủ công chưa được quan tâm thực sự thì làm sao có thể phát huy tính sáng tạo cho học sinh? Tiểu học là bậc học nền tảng cho những bậc học tiếp theo, là tiền đề cho quá trình đào tạo và phát triển năng lực của một công dân trong tương lai Điều này cho thấy, vấn đề nghiên cứu và phát huy tính sáng tạo của học sinh tiểu học là rất cần thiết Từ những nguyên nhân trên, tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học thủ công – kỹ thuật ở tiểu học ở lớp 1” nhằm góp phần vào nâng cao chất lượng giảng dạy môn Thủ công ở tiểu học
2.Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài chỉ ra hiện trạng mức độ tính sáng tạo của học sinh tiểu học trong học môn Thủ công – Kỹ thuật, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy tính sáng tạo cũng như sự phát triển phẩm chất năng lực của học sinh tiểu học trong dạy học môn Thủ công – Kỹ thuật.
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học thủ công - kỹ thuật ở tiểu học.
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra khảo sát: các phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học thủ công - kỹ thuật ở tiểu học.
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa
và cụ thể hóa các vấn đề lí luận liên quan đến năng lực sáng tạo của học sinh trong môn Thủ công.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thiết kế, tiến hành một số bài dạy về nội dung gấp, cắt, dán trong môn Thủ công ở tiểu học.
- Phương pháp thống kê toán học: điều tra tình hình dạy và học môn Thủ công - kỹ thuật của học sinh và giáo viên trong trường tiểu học.
II NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận
Trang 6Trong chương trình của môn Thủ công – Kỹ thuật lớp 1 hiện nay cung cấp cho học sinh các kỹ năng về những bài học rất gần gũi với các em như cách bọc vở, các trò chơi gấp tàu thủy, gấp con ếch, … cách làm môt số vật dụng trong nhà như đan nong mốt, làm lọ hoa, làm đồng hồ
để bàn hay làm quạt để bàn, Mỗi nội dung đều hướng dẫn cho học sinh những kỹ năng để các
em thực hiện cách làm qua đó các em biết cach vận dụng để làm một số sản phẩm quen thuộc xung quanh cuộc sống các em Sản phẩm thực hành chính là kết quả mà học sinh đã thực hành trong nội dung bài học Các phương pháp thực hiện theo truyền thống là
-Giáo viên làm mẫu các bước làm.
-Cho học sinh quan sát cách làm của giáo viên
-Tiến hành hướng dẫn từng bước để học sinh làm theo
Học sinh làm và giáo viên đánh giá kết quả: Sau khi thực hành xong nội dung mà giáo viên yêu cầu, giáo viên cho học sinh lên trình bày sản phẩm của mình trước lớp rồi nhận xét kết quả thực hành của các em Tuỳ thuộc vào sản phẩm của từng bài học mà giáo viên lựa chọn phương pháp trình bày của học sinh một cách hợp lý nhất, vừa đảm bảo tính khoa học trong phần kiểm tra, đánh giá, vừa tạo cho học sinh không khí thoải mái và hứng khởi khi trình bày Đối với những em có sản phẩm chưa tốt, chưa đạt yêu cầu kỹ thuật sau khi trình bày thì thêm phần khích lệ để sửa chữa cho tốt hơn.
2.2 Thực trạng
Thuận lợi – Khó khăn:
* Thuận lợi:
Ở lớp 2 đa số học sinh ngoan, lễ phép biết vâng lời thầy cô giáo và đoàn kết với bạn trong lớp học Số lượng học sinh giỏi chiếm tỷ lệ cao, các em rất mạnh dạn và tự tin trước tập thể Điều này rất thuận lợi cho việc sử dụng dạy học theo Hội đồng tự quản của chương trình dự án Vnen trong đó phương pháp dạy học theo nhóm đóng vai trò chủ đạo.
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển bùng nổ, sự phát triển vượt bậc của không gian mạng giúp cho các em thuận lợi hơn trong việc tiếp thu kiến thức thông qua các Video, hình ảnh trực quan sinh động, và những tấm gương trong học tập của các bạn học sinh khác trong trường cũng như các trường khác từ đó tạo động lực cho các em vươn lên trong học tập.
* Khó Khăn:
Bên cạnh đó vẫn còn một số khó khăn nhất định như số học sinh có hoàn cảnh gia đình nghèo trong lớp chiếm tỷ lệ khá cao, một số gia đình phụ huynh học sinh chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em mình Dẫn đến các em còn nhút nhát chưa thật mạnh dạn trong việc cùng với bạn tham gia phát biểu xây dựng bài, góp ý cho nhóm để hoàn thành nhiệm vụ Nhiều bậc phụ huynh chưa quan tâm các em đúng mức, còn để các em lạm dụng không gian mạng quá mức dẫn đến các em đi lệch hướng tham gia trú tâm vào các trò chơi tiêu khiển và dành quá nhiều thời gian vào nó gây ảnh hưởng lớn đến kết quả của bài học.
Thành công – Hạn chế:
* Thành công
Trong tất cả bài học của môn Thủ công lớp 2 đều tập trung vào kỹ năng gấp, cắt, dán theo mẫu của giáo viên, trong khi đó việc tổ chức dạy học môn học này theo chương trình dự án Vnen chủ yếu là xây dựng nội dung bài học theo hình thức tập trung, giáo viên nêu vấn đề để học sinh làm việc theo nhóm cho trước cùng nhau giải quyết vấn đề ma giáo viên đặt ra Chính vì vậy khi tổ chức dạy học môn thủ công theo hình thức dạy học này thì rất phù hợp với các em
do đó hiệu quả của tiết dạy đã được nâng lên rõ rệt.
Việc dạy học theo nhóm giúp các em tập bàn luận, tư duy sáng tạo, cùng suy nghĩ giải quyết vấn đề mà giáo viên giao Từ đó tạo không khi sôi nổi vui tươi phấn khởi đến với các em.
Trang 7Giúp các em tự tin hơn, các bạn còn yếu sẽ được các bạn học giỏi hơn kèm cặp từ đó nâng cao chất lượng của học sinh.
* Hạn chế :
Bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế nhất định:
– Việc sắp xếp nhòm của một số giáo viên còn lơ là, mang tính chủ quan, dẫn đến đưa các em học yếu vào cùng một nhóm gây mất cân bằng trong các nhóm.
– Giáo viên phải làm việc nhiều hơn.
– Gây ồn ào trong quá trình học sinh thảo luận
– Không được đồng bộ của một số sản phẩm.
Phân tích thực trạng:
Ở lớp 2, môn Thủ công luôn mang lại cho học sinh cảm giác thoải mái vui vẻ thực hành sau những tiết học căng thẳng Môn học này cung cấp cho học sinh nhiều yếu tố quan trọng như: làm tinh thần học sinh phấn chấn thoải mái, không căng thẳng, không ức chế, giảm sự lo âu Đây là môn học mang tính vừa học vừa chơi nên việc tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân không phát huy hết tính hiệu quả của nó bởi mục tiêu bài học chủ yếu là giúp học sinh xây dựng ý thức tự làm việc sáng tạo để tạo ra những sản phẩm quen thuộc phục vụ cho cá nhân mình.
Chính vì vậy hình thức dạy học theo Hội đồng tự quản và làm việc theo nhóm của chương trình dạy học theo dự án Vnen là đem lại hiệu quả cao nhất bởi hình thức tổ chức này là nêu cao ý thức làm việc tập thể, công đồng, trách nhiệm, phát huy tối đa tính sáng tạo độc lập của học sinh, xây dựng ý thức làm việc có tổ chức, có tính kỷ luật trong các nhóm.
Dựa trên những hướng dẫn của giáo viên, vật mẫu các em sẽ tạo cho mình những kỹ năng làm việc sáng tạo, có thể cao hơn cả nội dung yêu cầu.
Như vậy với những vấn đề nêu trên đã cho ta thấy mỗi phương án tổ chức dạy học đều khác nhau nhưng điều quan trọng là giáo viên phải làm sao để giúp học sinh hiểu được cách trình bày để vận dụng vào trong quá trình thực hiện sản phẩm của mình.
Do đó trong quá trình giảng dạy, tôi đã tìm nhiều biện pháp, nhiều hình thức để giúp cho các
em thực hiện tốt nhiệm vụ, tạo ra những sản phẩm đẹp, sáng tạo mà không ảnh hưởng đến mục tiêu dạy học chung của cả lớp.
2.3 Giải pháp
1 Mục tiêu của giải pháp:
Môn Thủ công ở tiểu học góp phần đạt mục tiêu chung của giáo dục tiểu học Qua môn học giúp học sinh biết cách sử dụng một số dụng cụ lao động đơn giản, biết mục đích cách tiến hành một số công việc lao động đơn giản trong gia đình, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, sự khéo léo của đôi tay Trong đó hình thành cho học sinh lòng yêu lao động, quý sản phảm lao động, tăng hứng thú học tập, tăng khả năng giao tiết, tinh thần hợp tác và học sinh được thể hiện sự hiểu biết trên snar phẩm.
2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:
Để thực hiện được những mục tiêu trên của phân môn thủ công thông qua giờ dạy của giáo viên Giáo viên có trách nhiệm chuyển tải nội dung và ý nghĩa của câu chuyện thì phải có phương pháp để thực hiện nhiệm vụ đó Ở chương trình dạy học theo dự án Vnen lớp 2, việc
sử dụng các phương pháp dạy học trong phân môn Thủ công rất phù hợp với đặc điểm tâm
Trang 8sinh lý học sinh Do đó tôi đã chọn hình thức dạy học theo chương trình này qua một số bài dạy theo nhữnghình thức như sau:
Bước 1: Sử dụng phương pháp quan sát: Để học sinh có hứng thú với nội dung bài học, trước
hết tôi cho các em cùng nhau quan sát sản phẩm thật kỹ và xác định mục tiêu quan sát: trong một bài học không phải mọi kiến thức học sinh cần lĩnh hội đều được rút ra từ quan sát, vì vậy tôi đã xác định rõ việc tổ chức cho học sinh quan sát nhằm đạt được mục tiêu, kiến thức nào.
Bước 2: Cho học sinh trình bày nhận xét về sản phẩm vừa được quan sát Đây là bước đánh
giá khả năng cảm nhận, quan sát của học sinh về sản phẩm, qua đó các em biết vận dụng những kỹ năng để chuẩn bị cho các bước thực hành.
Bước 3: Giáo viên giới thiệu cách làm: đây là bước giúp học sinh quan sát các thao tác để
chuẩn bị thực hành làm sản phẩm ( giáo viên hướng dẫn chi tiết cho học sinh về cách làm).
Bước 4: Hội đồng tự quản ( nhóm học) thực hiện nhiệm vụ: đây là bước quan trọng nhất, giáo
viên giao nhiệm vụ cho hội đồng tự quản tiến hành thực hiện các bước làm sản phẩm theo yêu cầu.
Bước 5: Kiểm tra đánh giá sản phẩm: đây là bước cuối cùng về kết luận quá trình làm việc
của Hội đồng tự quản Giáo viên cho các nhóm nhận xét lẫn nhau sau đó giáo viên chốt lại và đánh giá cụ thể từng sản phẩm của học sinh.
Ví dụ : Khi dạy bài 8 “ Gấp, cắt, dán biển báo giao thông cấm đi ngược chiều”
* Giáo viên có thể tiến hành như sau:
- Đưa ra 2 biển báo giao thông mẫu đã chuẩn bị, yêu cầu học sinh quan sát và trả lời các câu hỏi định hướng quan sát, nhận xét như:
Trang 9
Bước 1: Giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh biển hiệu đã được gấp sẵn hướng dẫn các
em quan sát (quan sát hình dáng, kỹ thuật gấp, độ bật của hình biển hiệu giao thông)
Bước 2: Cho học sinh trình bày nhận xét về con ếch vừa được quan sát.
-Hình 1 là biển báo giao thông nào?
- Biển báo giao thông có mấy phần? Đó là những phần nào?
- Hình dáng, màu sắc của chân biển báo, mặt biển báo như thế nào?
Bước 3: Giáo viên giới thiệu cách làm: đây là bước giúp học sinh quan sát các thao tác để
chuẩn bị thực hành làm sản phẩm.
- Muốn làm được biển báo giao thông cấm xe đi ngược chiều ta phải cắt dán những hình gì? Màu sắc của mỗi hình như thế nào?
- Các em tìm cho cô biển báo giao thông cấm đi xe ngược chiều ở hình 2:
- Biển báo giao thông có tác dụng gì?
- Khi ra đường nếu nhìn thấy người đi xe đạp, xe máy đi vào đường có biển báo như thế này (giáo viên chỉ vào biển báo cấm xe đi ngược chiều) thì em thấy người đó đi đúng đường hay đang vi phạm luật giao thông? Vì sao?
Bước 4: Hội đồng tự quản thực hiện nhiệm vụ:
Sau khi hướng dẫn các bước làm cụ thể, chi tiết, giáo viên giao nhiệm vụ để các nhóm tiến hành làm việc Các nhóm có thể làm mỗi người một con sau đó chọn con nào đạt yêu cầu n hất
để đem thi với các nhóm khác
Bước 5: Kiểm tra đánh giá sản phẩm:
Giáo viên cho mỗi nhóm cử một đại diện tham gia trình bày con ếch vừa làm được trước lớp Các nhóm khác nhận xét về sản phẩm của bạn
Kết thúc bước này giáo viên nhận xét sự trả lời của học sinh và tóm tắt những đặc điểm
cơ bản của biển báo giao thông và đưa ra quyết định đánh giá cuối cùng.
Những điểm cần lưu ý :
– Cần giải thích kịp thời khi các em quan sát mà chưa tìm ra ý câu hỏi.
– Không nên dùng những hình thức chê bai đối với những sản phẩm chưa dạt yêu cầu.
Trang 10– Cần biểu dương khen ngợi kịp thời những nhóm, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian và chính xác và khuyến khích các em khác (nhóm khác) học tập.
– Lập bảng đánh giá các nhóm và xếp loại các nhóm qua mỗi bài lên lớp trong quá trình giảng dạy.
I4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Qua một thời gian áp dụng thí điểm chuyên đề chúng tôi thu được một số thành quả như sau:
-Học sinh yêu thích môn học, hồi hộp chờ đón và reo vui chào đón cô giáo dạy Thủ công.
- Không khí mỗi giờ học trở nên sôi nổi, tất cả học sinh hứng thú, bận rộn làm sản phẩm.
- Học sinh làm được các sản phẩm đẹp, sáng tạo hơn.
Kết quả khảo sát học kỳ I:
Lớp lượng Số tiết
học
Hoàn thành tốt Chưa hoàn thành
Số lượng
III PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1.KẾT LUẬN.
Trong tiết học Thủ công giáo viên cần kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp và hình thức dạy học nhưng cần chú trọng hình thức hoạt động nhóm nhằm tạo cơ hội cho học sinh hợp tác với nhau và từng bước hình thành khả năng tự quản trong học tập và lao động Giáo viên luôn đặt mình trong vai trò là người hướng dẫn, là nhân tố kích thích, là trọng tài hướng dẫn học sinh huy động kiến thức và kinh nghiệm của bản thân, của nhóm hay cả lớp để tự tìm ra kiến thức mới
Cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi có khả năng giúp học sinh phát huy trí lực Lấy thực hành làm trọng tâm Tăng cường kết hợp đánh giá của thầy với sự tự đánh giá của trò, tạo điều kiện để học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau
2 KIẾN NGHỊ.
* Đối với giáo viên: Vị trí và tầm quan trọng của môn Thủ công – Kỹ thuật ở tiểu học rất quan trọng Vì vậy người giáo viên cần phải có năng lực sư phạm tốt, phải có đức tính kiên nhẫn, kiên trì, tỉ mĩ, cẩn thận, không nóng vội trong công việc Cần phải có lòng yêu nghề, hứng thú công việc, yêu thương học sinh Thường xuyên học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu Nắm được hoàn cảnh, tâm lí, lực học của học sinh và chuẩn bị tốt đồ dùng tiết dạy