1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Van hoc XVIII - XIX 6s9.ppt

121 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 390,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Van hoc XVIII XIX 6s9 ppt Chương VI NGUYỄN DU VÀ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH I THÂN THTHÂN THẾTHÂN THẾ VÀ STHÂN THẾ VÀ SỰTHÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYNGUYỄNGUYỄN DU 1 Thân thế Nguyễn Du • Nguyễn Du sinh nă[.]

Trang 1

Chương VI NGUYỄN DU VÀ

ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

I THÂN THTHÂN THẾTHÂN THẾ VÀ STHÂN THẾ VÀ SỰTHÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA

NGUYNGUYỄNGUYỄN DU

1 Thân thế Nguyễn Du

Trang 2

• Nguyễn Du sinh năm 1766, mất 1820 (Dương lịch).

• Tên tự của ông là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên

• Nguyễn Du quê gốc ở Tiên Điền, Hà Tỉnh

2

Trang 3

• Thân phụ Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775) đỗ Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), người làng Tiên Điền, Nghi Xuân phủ Nghệ An, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh

• Ông từng giữ chức Tham tụng trong triều Lê

3

Trang 4

• Thân mẫu Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740 - 1778), người làng Hoa Thiều, Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Quê hương bà có truyền thống hát bội

4

Trang 5

• Dòng họ Nguyễn Tiên Điền có nhiều người

Trang 6

• (Anh vợ ông là Đoàn Nguyễn Tuấn Anh rể ông là Vũ Trinh, Nguyễn Hành…).

6

Trang 7

• Anh cả (cùng cha khác mẹ) của Nguyễn Du

là Nguyễn Khản (1734 - 1786), đỗ Tiến sĩ năm Canh Thìn (1760), được chúa Trịnh Sâm trọng dụng

• Ông cũng là tay phong lưu đệ nhất chốn Kinh

kỳ, trong nhà "không lúc nào bỏ tiếng tơ, tiếng trúc" (Phạm Đình Hổ)

7

Trang 8

• Khi cha mẹ qua đời, Nguyễn Du được Nguyễn Khản nuôi nấng (từ 1775 - 1784)

• (Từ năm 1776 (11 tuổi): Mẹ qua đời

• Năm 1778 (13 tuổi): Cha qua đời

• Năm 1780 (15 tuổi): Nguyễn Khản bị bãi chức, bị giam) (Đoàn Nguyễn Tuấn đón về cho ăn học)

8

Trang 9

• Năm 1782 (17 tuổi), Trịnh Tông lên ngôi, Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại.

• Năm 1783 (18 tuổi) Nguyễn Du đỗ Tú tài, Nguyễn Khản được thăng Tham tụng

• Năm 1784 (19 tuổi) Kiêu binh phá dinh của Nguyễn Khản (hai năm sau thì Nguyễn Khản mất)

9

Trang 10

• Năm 1789 (24 tuổi) Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Nguyễn Du về quê vợ ở Thái Bình.

• Năm 1791 (26 tuổi) dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền bị Tây Sơn phá nát

10

Trang 11

• Năm 1796 (31 tuổi) ông trốn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, bị bắt ở Nghệ An.

• Năm 1802 (37 tuổi) là Tri huyện, vài tháng thăng Tri phủ Sơn Nam Thượng (Hà Nội)

• Năm 1805 (40 tuổi) thăng Đông Các đại học

sĩ, Du Đức hầu (Ngũ phẩm)

11

Trang 12

• Năm 1808 (43 tuổi), ông xin về quê nghỉ

• Năm 1809 (44 tuổi) ông làm Cai bạ Quảng Bình (Tứ phẩm)

• Năm 1813 (48 tuổi) được thăng Cần Chánh điện Đại học sĩ, làm chánh sứ

• Năm 1814 (49 tuổi) thăng Hữu Tham tri bộ

Lễ (hàm Tam phẩm)

12

Trang 13

• Năm 1820 (55 tuổi) ông được cử làm Chánh

sứ, bị bệnh mất (16-9 năm Canh Thìn)

• Có thể chia đường đời của Nguyễn Du thành bốn chặng:

13

Trang 14

• *Từ 1765 đến 1780: thời thơ ấu sống trong vàng son, nhung lụa

14

Trang 15

• *Từ 1780 đến 1786: cuộc sống yên ổn của Nguyễn Du trong gia đình người anh cả bị xáo trộn vì những biến cố lớn

• Vì vụ án năm Canh Tý 1780 Nguyễn Khản bị

Trang 16

• Năm 1784 (19 tuổi) kiêu binh nổi loạn, tìm giết Nguyễn Khản và phá nát dinh cơ của ông ở kinh thành

• Nguyễn Khản phải bỏ chạy, nương nhờ Nguyễn Điều ở Sơn Tây

16

Trang 17

• Từ đây, Nguyễn Du lâm vào cảnh:

“Bách niên thân thế uỷ phong trần

Lữ thực giang tân hựu hải tân"

(Thân thế trăm năm mặc cho gió bụi

Ăn nhờ hết miền sông đến miền biển

- Tự thán).

17

Trang 18

*Từ 1786 đến 1802:

18

Trang 19

• Năm 1789, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, diệt quân Thanh

• Lê Chiêu Thống phải bỏ chạy khỏi kinh thành, triều Lê - Trịnh hoàn toàn sụp đổ; chỗ dựa của họ Nguyễn Tiên Điền đã mất

19

Trang 20

• Nguyễn Du bàng hoàng, đau đớn và cũng từng cố gắng tìm cách khôi phục nhà Lê nhưng đều thất bại

20

Trang 21

• Nhà thơ lâm vào tình cảnh bế tắc:

"Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên"

(Người tráng sĩ đầu bạc buồn trông trời

Hùng tâm ần sinh kế đều mờ mịt

- Tạp thi).

21

Trang 22

*Từ 1802 đến 1820: Năm 1792, Nguyễn Huệ mất, triều Tây Sơn bị diệt vong (1802) và triều Nguyễn được Gia Long tạo dựng.

Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn

và được trọng dụng

22

Trang 23

• Năm 1813, ông được thăng Cần chánh điện học sĩ, được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.

23

Trang 24

• Nhưng Nguyễn Du không mặn mà với con đường công danh và tâm tư luôn chất chứa nhiều day dứt, mâu thuần

• Năm 1820, Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi, cử Nguyễn Du làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang, cầu phong nhưng chưa kịp

đi thì ông lâm bệnh nặng

24

Trang 26

2.2.12.1 Sáng tác2.1 Sáng tác chữ Hán

Trang 27

• Hiện thời, đã tìm được cả ba tập thơ chữ Hán của NguHiện thời, đã tìm được cả ba tập thơ chữ Hán của NguyHiện thời, đã tìm được cả ba tập thơ chữ Hán của NguyễHiện thời, đã tìm được cả ba tập thơ chữ Hán của NguyễnHiện thời, đã tìm được cả ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn DuHiện thời, đã tìm được cả ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du với 2Hiện thời, đã tìm được cả ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du với 25Hiện thời, đã tìm được cả ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn

Du với 250 bài thơ

27

Trang 28

*Thanh Hiên thi tập gồm 78 bài thơ, được sáng

tác trong những năm tháng bi thương

• Gia đình lớn tan tác, anh em chia lìa, cuộc sống riêng lâm vào cảnh cùng quẫn

• Nguyễn Du phải phiêu bạt, nương nhờ nhà người, đất khách cả chục năm trời

28

Trang 29

*Nam trung tạp ngâm gồm 40 bài, chủ yếu

được Nguyễn Du sáng tác trong thời kỳ làm quan cho triều Nguyễn

• Bao trùm tập thơ là nỗi chán nản, thất vọng

về chốn quan trường

29

Trang 30

• Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc

Nhất thân ngọa bệnh Đế Thành đông

(Ngẫu đề)

(Gào rã non Hồng mười miệng đói

Ốm co thành Huế một thân trơ)

(Tình cờ làm thơ)

30

Trang 31

* Bắc hành tạp lục gồm 132 bài, được Nguyễn

Du sáng tác trong thời gian đi sứ Trung Quốc

• Tập thơ cho ta thấy sự biến đổi lớn trong tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Du

31

Trang 32

• Nếu hai tập thơ đầu nghiêng về việc thể hiện những bi kịch trong tâm hồn tác giả thì

• Bắc hành tạp lục lại nghiêng hắn về con

người, cuộc sống bên ngoài, tái hiện và bình luận vạn sự cổ kim

32

Trang 33

• Nguyễn Du đã tìm thấy trên những nẻo

đường đầy cố cảnh, cựu tích của đất nước

Trung Hoa

lời giải đáp cho nhiều câu hỏi lớn về cuộc đời, về thân phận con người từng khiến ông day dứt

33

Trang 34

2.2 Sáng tác chữ Nôm

Trang 35

• Sáng tác chữ Nôm của Nguyễn Du gồm các tác phẩm:

• Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Thác lời trai phường nón, Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn - Chiêu hồn ca) và Đoạn trường tân thanh.

35

Trang 36

• Khi chiêu hồn chúng sinh, Nguyễn Du đã tái hiện không khí của một thời đại đầy biến động dữ dội, ảm đạm, thê lương,

• Trên nền bối cảnh chung đó, dần hiện lên hình ảnh của từng lớp người:

36

Trang 37

• Qua cách hình dung của Nguyễn Du, thế giới cõi âm đầy cô hồn vất vưởng phản ánh hiện thực cõi dương với bao cảnh đời đau khổ.

37

Trang 38

• Nhưng khi nói với những cô hồn, lòng thương cảm của nhà thơ đã ôm trùm tất cả:

Thương thay thập loại chúng sinh,

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

Hương lửa đã không nơi nương tựa,

Hồn mồ côi lần lữa bấy niên.

Còn chi ai quý ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu

38

Trang 39

• Có ý kiến cho rằng, Nguyễn Du vấp phải sự hạn chế trong tư tưởng nên không có thái độ phân biệt rạch ròi, dứt khoát,

• Nhưng thiết nghĩ, đó là cách Nguyễn Du thể hiện tinh thần từ bi của Phật giáo; tình yêu thương con người của một nhà nhân đạo lớn

39

Trang 40

• Tham khảo:

• “Nhân liễu thủ tâm, nhân tự độ Cập đáo phân kinh thạch đài hạ, Tài tri vô tự thị chân kinh” (Nguời ta hiểu được tâm, tức là tự độ rồi… Khi đến dưới đài phân kinh này, Mới biết kinh “Không chữ” mới thật là chân kinh) (Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch

đài)

40

Trang 41

• “Ngã độc Kim Cương thiên biến kinh” (Tụng niệm Kinh Kim Cương hơn ngàn vạn lần) (“Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch đài”).

• “Mãn cảnh giai không hà hữu tướng, Thử tâm thường định bất ly thiền” (Khắp cõi đều không đâu sắc tướng, Lòng này thường định, chẳng xa thiền,) (Đề Nhị Thanh động).

41

Trang 42

II TÁC PHẨM ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

(ĐTTT)

1 Một số vấn đề chung

1.1 Nguồn gốc Đoạn trường tân thanh

Trang 43

• Sáng tác ĐTTT, Nguyễn Du đã dựa vào đề tài, cốt truyện của tác phẩm Kim Vân Kiều

truyện (KVKT) (Thanh Tâm Tài Nhân)

43

Trang 44

• Ông đã thay đổi từ chủ đề, tính cách nhân vật đến phương thức phản ánh đời sống, thể loại, ngôn ngữ,

• khiến ĐTTT thấm đượm bản sắc riêng của

văn hoá và tâm hồn Việt

44

Trang 45

1.2 Vị trí của Đoạn trường tân thanh trong đời

sống của người Việt Nam

Trang 46

• ĐTTT của Nguyễn Du có vị trí đặc biệt trong

đời sống văn hoá, văn học của người Việt Nam

46

Trang 47

1.3 Phưong pháp nghiên cứu và giảng dạy

Trang 48

• Do mối quan hệ "liên văn bản" nên khi

nghiên cứu và giảng dạy ĐTTT của Nguyễn

Du, cần vận dụng phương pháp so sánh

48

Trang 49

2 Giá trị tác phẩm

2.1 Giá trị nội dung

2.1.1.Chủ đề Đoạn trường tân thanh

Trang 50

*Sự biến đổi chủ đề của KVKT

50

Trang 51

• Ở giai đoạn đầu, tác giả tập trung ca ngợi công trạng của Hồ Tôn Hiến Khởi đầu là tác

phẩm Ký tiễu trừ Từ Hải bản mạt của Mao

Khôn người đời Minh

51

Trang 52

• Hồ Thiếu bảo bình oa chiến công của Chu

Tiếp thời Sùng Chinh cũng tập trung ca ngợi

tài trí của Hồ Tôn Hiến

• Thuý Kiều thì được miêu tả như một người trung nghĩa chủ ý giúp Hồ Tôn Hiến trừ giặc

52

Trang 53

• Ở giai đoạn thứ hai, các tác giả ca ngợi Từ Hải anh hùng và Thúy Kiều trung nghĩa.

• Vương Thuý Kiều truyện của Hồ Khoáng ca

ngợi Từ Hải là một đấng anh hùng dám dấy quân chống lại triều đình

53

Trang 54

• KVKT của Thanh Tâm Tài Nhân đời Thanh

đã chuyển từ chủ đề trung nghĩa sang chủ

54

Trang 55

*Sự chuyển đổi chủ đề của ĐTTT

55

Trang 56

• Từ câu chuyện giai nhân - tài tử với chủ đề tình khổ, Nguyễn Du đã chuyển sang câu chuyện thân phận khổ đau của người phụ nữ tài sắc

=> số phận con người, số phận của những kiếp tài hoa

=> nỗi thương đời, niềm đau đời

56

Trang 57

2.1.2 Cảm hứng nhân văn sâu sắc

Trang 58

• ĐTTT là đỉnh cao của trào lưu nhân đạo

trong văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX

58

Trang 59

59

Trang 60

• Gia đình gặp đại hoạ, nàng không hề do dự,

hy sinh bản thân, hy sinh cả mối tình đẹp:

''Làm con trước phải đền ơn sinh thành”

60

Trang 61

• Trong tình yêu, Thuý Kiều mạnh mẽ, táo bạo,

• Nhưng cách suy nghĩ, ứng xử của nàng luôn toát lên vẻ đẹp của tâm hồn trong sáng, đức

61

Trang 62

• Sống ở lầu xanh, thân xác Kiều bị ném vào những cuộc ăn chơi xa hoa, truỵ lạc nhưng tâm hồn luôn hướng về miền thanh khiết, trong sạch của riêng mình.

62

Trang 63

• Trong cách ứng xử với người đời, Thuý Kiều

63

Trang 64

• Thuý Kiều của Nguyễn Du, ngồi bên Từ Hải,

mà giãi bày với Thúc Sinh thật ân cần, tha thiết

64

Trang 65

• Ngay với người bị coi là kẻ thù, cách đố xử của Thuý Kiều cũng vẫn bao dung độ lượng, thể tất tình đời

65

Trang 66

• Với bấy nhiêu tội lỗi, những tưởng ngày báo oán, Hoạn Thư khó được toàn tính mệnh, hay chí ít cũng phải chịu tội Với bấy nhiêu tội lỗi, những tưởng ngày báo oán, Hoạn Thư khó được toàn tính mệnh, hay chí ít cũng phải chịu tội giVới bấy nhiêu tội lỗi, những tưởng ngày báo oán, Hoạn Thư khó được toàn tính mệnh, hay chí ít cũng phải chịu tội

giống như trong KVKT:

• Đánh cho Hoạn thị như cá rơi than nóng, lươn phải nước sôi, kêu rên rầm trời, mình quay như chong chóng, khắp mình không còn chỗ nào lành lặn về nhà, an dưỡng nửa năm mới khỏi".

66

Trang 67

• Thế mà cuối cùng, Thuý Kiều của Nguyễn

Du đã tha bổng cho Hoạn Thư!

67

Trang 68

*Tác giả Nguyễn Du:

• Nguyễn Du đã cất lên tiếng nói cảm thương cho thân phận nhỏ nhoi, bất hạnh

của con người

68

Trang 69

• Bằng tấm lòng yêu thương, đồng cảm với con người, Nguyễn Du chia sẻ nỗi đau bị hành hạ về thân xác:

• Tú bà tốc thẳng đến nơi,/Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà/ Hung hăng chẳng nói chẳng tra,/ Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời/ Thịt

da ai cũng là người/Lòng nào hồng rụng thắm rời chẳng đau"

69

Trang 70

• Bằng tất cả lòng trân trọng quyền sống, quyền làm người, Nguyễn Du phơi bày những bi kịch của người phụ nữ có đầy đủ quyền được hưởng hạnh phúc mà trọn đời bất hạnh:

• "Người sao hiếu nghĩa đủ đường/ Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?” (Giác Duyên).

70

Trang 71

• Những giá trị tinh thần đẹp đẽ nhất ở Thuý Kiều đều bị chà đạp:

• Tâm hồn trong trắng, lòng vị tha, niềm tin vào

lẽ phải, tinh thần phản kháng,

71

Trang 72

• Dù có sự xuất hiện của bóng ma Đạm Tiên

và cuốn sổ đoạn trường

• nhưng "chính danh thủ phạm" gây nên mọi

nỗi khổ đau của con người hiện lên trong tác phẩm

• Đó là cái xã hội hỗn loạn, mục ruỗng - nơi

đồng tiền và cái ác ngự trị, ngang nhiên hoành hành

72

Trang 73

• Trân trọng quyền sống, quyền hạnh phúc của con người, Nguyễn Du đồng cảm, đồng tình với những khát vọng sống táo bạo, đối lập với tư tưởng phong kiến

• Trong đó, nổi bật khát vọng tự do yêu đương và khát vọng công lý.

73

Trang 74

*Về tình yêu: Trên trang thơ Nguyễn Du, tình yêu đã hoàn toàn "thoát xác" khỏi những quan niệm và lễ giáo phong kiến

• Nguyễn Du đã để cho những trái tim đang yêu hiện lên với tất cả những bồi hồi, xao xuyến, khắc khoải, nhớ nhung,

74

Trang 75

• Sau giây phút "Tình trong như đã, mặt ngoài

còn e", người thì bâng khuâng, thao thức

"Trăm năm biết có duyên gì hay không"\

người thì "Nỗi niềm canh cánh bên lòng

biếng khuây".

75

Trang 76

• Nguyễn Du đã mô tả thật tài tình nỗi tương

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình; Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều :,

76

Trang 77

• Khoảnh khắc ngỡ ngàng trước hạnh phúc

màng; hay giây phút nồng nàn, say đắm: Sóng tình dường đã xiêu xiêu,

77

Trang 78

• Mối tình hoàn toàn tự do, vượt khỏi lễ giáo

ấy trong sáng, cao thượng, bền vững bất chấp mọi khoảng cách của thời gian, không gian; sự chia lìa của số phận

78

Trang 79

• Từ lúc chia ly cho đến ngày đoàn tụ, Kim – Kiều đã luôn vì hạnh phúc của người mình

yêu, hạnh phúc của bản thân mình,

79

Trang 80

* Cùng với khát vọng tình yêu, khát vọng sống

tự do và giấc mơ công lý cũng được Nguyễn

Du thể hiện tập trung trong hình tượng người

80

Trang 81

2.2 Giá trị nghệ thuật

Trang 82

2.2.1 Kết cấu cốt truyện

• Đọc Kim Vân Kiều truyện, có thể dễ dàng

nhận thấy thế mạnh của Thanh Tâm Tài Nhân trong việc tạo dựng cốt truyện hấp dẫn

phản ánh hiện thực rộng lớn

82

Trang 83

• Nhưng khi sáng tác ĐTTT, Nguyễn Du lựa

chọn một hình thức thể hiện khác nên đã tổ chức lại cốt truyện, lược bỏ hoặc thay đổi

trình tự của nhiều chi tiết, sự kiện

83

Trang 84

• Phần gia biến trong KVKT kéo dài cả chục trang nhưng "trong Truyện Kiều được kể

bằng 24 câu thơ"

84

Trang 85

• “Vậy mà tác phẩm đọc vẫn lôi cuốn, câu chuyện vẫn rạch ròi, đầy đủ, đâu vào đó".

85

Trang 86

• Về mặt kết cấu, cốt truyện của ĐTTT vẫn

được xây dựng theo mô hình chung của truyện thơ Nôm với ba phần cơ bản:

• Gặp gỡ - Chia ly - Đoàn tụ nhưng trong mỗi phần, tác giả đều có những sáng tạo độc đáo

86

Trang 87

• Nếu hầu hết các truyện thơ Nôm triển khai

mô hình cốt truyện theo một tuyến nhân vật

thì ĐTTT lại dựng nên nhiều cuộc gặp gỡ,

điệp chia ly:

87

Ngày đăng: 22/04/2022, 21:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Cá thể hoá ngoại hình và ngôn ngữ nhân vật - Van hoc XVIII - XIX 6s9.ppt
th ể hoá ngoại hình và ngôn ngữ nhân vật (Trang 99)
• Trong đó, hình tượng thiên nhiên chiếm giữ vị trí rất đặc riệt. - Van hoc XVIII - XIX 6s9.ppt
rong đó, hình tượng thiên nhiên chiếm giữ vị trí rất đặc riệt (Trang 107)