1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bao cao quy I nam 2021

16 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 177,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÍNH PHỦ TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH BẾN TRE CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Số 13/BC CTHADS Bến Tre, ngày 04 tháng 01 năm 2021 BÁO CÁO Kết quả[.]

Trang 1

CỤC THI HÀNH ÁN DÂN

SỰ TỈNH BẾN TRE

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/BC-CTHADS Bến Tre, ngày 04 tháng 01 năm 2021

BÁO CÁO Kết quả công tác thi hành án dân sự, hành chính Quý I/2021

Phương hướng nhiệm vụ công tác Quý II/2021

I Kết quả công tác thi hành án dân sự, hành chính

1 Công tác thi hành án dân sự

1.1 Kết quả thi hành án dân sự về việc, về tiền

a) Về việc

- Tổng số bản án quyết định đã nhận là 6.193 bản án, quyết định;

- Tổng số giải quyết là 10.157 việc1, trong đó: Số cũ chuyển sang (trừ số đã chuyển sổ theo dõi riêng) là 6.711 việc; Số thụ lý mới là 3.446 việc, giảm 482 việc

(giảm 12,27%) so với cùng kỳ năm 2020;

- Sau khi trừ đi số ủy thác 53 việc, tổng số phải thi hành là 10.104 việc, trong

đó: Số có điều kiện thi hành là 6.843 việc, giảm 1.399 việc; chiếm 67,73% trong

tổng số phải thi hành; Số chưa có điều kiện (trừ số đã chuyển sổ theo dõi riêng) là 2.922 việc, chiếm 28,92% trong tổng số phải thi hành;

Trong số có điều kiện thi hành, số thi hành xong là 2.011 việc, giảm 780 việc

(giảm 27,95%) so với cùng kỳ năm 2020; đạt tỉ lệ 29,39% (giảm 4,48%) so với

cùng kỳ năm 2020,

- Số việc chuyển kỳ sau 8.093 việc, giảm 1.479 việc (giảm 15,45%) so với

cùng kỳ năm 2020

b) Về tiền

- Tổng số giải quyết là 1.259 tỷ 540 triệu 840 nghìn đồng2, trong đó: Số cũ chuyển sang (trừ số đã chuyển sổ theo dõi riêng) là 933 tỷ 287 triệu 518 nghìn đồng; Số thụ lý mới là 326 tỷ 253 triệu 321 nghìn đồng, tăng 132 tỷ 446 triệu 547

nghìn đồng (tăng 68,34%) so với cùng kỳ năm 2020;

- Sau khi trừ đi số ủy thác là 16 tỷ 471 triệu 338 nghìn đồng, tổng số phải thi hành là 1.243 tỷ 069 triệu 502 nghìn đồng, trong đó: Số có điều kiện thi hành là

783 tỷ 510 triệu 652 nghìn đồng, chiếm 63,03% trong tổng số phải thi hành; Số

chưa có điều kiện (trừ số đã chuyển sổ theo dõi riêng) là 394 tỷ 771 triệu 100 nghìn đồng, chiếm 31,76% trong tổng số phải thi hành;

1

Số việc cùng kỳ năm 2020, Tổng số thụ lý là 12.422 việc; Số thụ lý mới là 3.928 việc; Tổng số phải thi hành là 12.363 việc; Số có điều kiện thi hành là 8.242 việc; Số thi hành xong là 2.791 việc; Số chuyển kỳ sau là 9.572 việc 2

Số tiền cùng kỳ năm 2020, Tổng số thụ lý là 1.143 tỷ 053 triệu 504 nghìn đồng; Số thụ lý mới là 193 tỷ 806 triệu

775 nghìn đồng; Tổng số phải thi hành là 1.126 tỷ 086 triệu 227 nghìn đồng; Số có điều kiện thi hành là 707 tỷ 430 triệu 957 nghìn đồng; Số thi hành xong là 105 tỷ 431 triệu 934 nghìn đồng; Số chuyển kỳ sau là 1.020 tỷ 654 triệu

294 nghìn đồng.

Trang 2

Trong số có điều kiện thi hành, số thi hành xong là 131 tỷ 970 triệu 761 nghìn đồng, tăng 26 tỷ 538 triệu 827 nghìn đồng (tăng 25,17%) so với cùng kỳ năm

2020; đạt tỉ lệ 16,84% (tăng 1,94%) so với cùng kỳ năm 2020, xếp thứ /63 tỉnh,

thành phố;

- Số tiền chuyển kỳ sau 1.111 tỷ 098 triệu 741 nghìn đồng, tăng 90 tỷ 444

triệu 447 nghìn đồng (tăng 8,86%) so với cùng kỳ năm 2020.

c) Về thi hành các vụ việc liên quan đến thu hồi nợ của tổ chức tín dụng

- Tổng số phải thi hành 414 việc, tương ứng với số tiền là 317.035.159.360 đồng, chiếm tỷ lệ 4,10% về việc và 25,50% về tiền so với tổng số việc và tiền phải thi hành trên địa bàn

- Thi hành xong: 20 việc, thu được số tiền là 22.804.695.853 đồng, đạt tỷ lệ

6,58% về việc và 10,89% về tiền (Giảm 01 việc, tỉ lệ tăng 0,97% và tăng 7.416.738.027 đồng, tương ứng 4,53% so với cùng kỳ năm trước).

d) Về tình hình giải quyết các vụ việc thi hành án dân sự trọng điểm: đơn vị không phát sinh

1.2 Đánh giá tồn tại, hạn chế

Do tình hình kinh tế phát triển, nên kéo theo phát sinh nhiều mối quan hệ pháp luật, các vụ việc Tòa án thụ lý tăng cao, tình hình biên chế thực hiện theo chủ trương chung sẽ giảm, nên ít nhiều ảnh hưỡng đến kết quả thi hành án Còn một ít Chấp hành viên chưa thật sự chủ động trong công tác giải quyết án Bên cạnh đó,

do quy định bán đấu giá tài sản không giới hạn số lần bán, nên dẫn đến việc thi hành án bị kéo dài, do tâm lý người mua mong chờ sự giảm giá để mua tài sản với giá thấp; Quy định về kê biên tài sản chung để thi hành án còn bất cập; Xử ý tài sản của người phải thi hành án đã bán sau khi bản án có hiệu lực pháp luật còn nhiều quan điểm khác nhau; Không có quy định trả đơn yêu cầu thi hành án, án chưa có điều kiện được chuyển sổ theo dõi riêng nhưng chưa có cơ chế giải quyết dứt điểm vẫn còn trên sổ thụ lý chung, sổ theo dõi riêng; Việc xét miễn giảm nghĩa

vụ thi hành án đối với người phải thi hành án đã bỏ địa phương, chưa xác định được nơi cư trú mới chưa được xem xét giải quyết; Công tác Thi hành án hầu hết phụ thuộc vào sự phối hợp của các ngành liên quan, vấn đề này đã được quan tâm,

có nhiều quy chế phối hợp nhưng vẫn còn một số vụ việc chưa được phối hợp trong bảo vệ cưỡng chế, nên việc án kéo dài; Các tổ chức Ngân hàng chưa có cơ chế miễn, giảm lãi cho người phải thi hành án, khi tài sản đảm bảo đã bị xử lý xong, không còn tài sản nào khác để đảm bảo thi hành án;

2 Công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ

2.1 Kết quả

- Về công tác kiểm tra:

Thực hiện công tác kiểm tra thường xuyên theo Thông tư 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp, Cục THADS chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng Kế hoạch kiểm tra, tổ chức tự kiểm tra tại bộ phận, đơn vị mình

Thực hiện các văn bản số 3569/TCTHADS-TCT ngày 15/10/2020, văn bản số 4072/TCTHADS-GQKNTC ngày 04/12/2020 của Tổ công tác phía Nam - Tổng cục THADS về thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác THADS tại khu vực phía Nam, Cục THADS ban hành Quyết định số 220/QĐ-CTHADS ngày

Trang 3

05/11/2020 kèm theo Kế hoạch kiểm tra việc giao nhận, quản lý, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, việc quản lý kho vật chứng tại Cục THADS và các Chi cục THADS trực thuộc

Cục THADS đã tiến hành kiểm tra 09 Chi cục THADS và Cục THADS, kết quả đã thực hiện kiểm tra xong trong tháng 11 năm 2020 Theo đó, có văn bản số 1475/BC-CTHADS ngày 10/12/2020 báo cáo kết quả thực hiện tự kiểm tra việc giao nhận, quản lý, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, việc quản lý kho vật chứng, văn bản số 1509/CTHADS-VP ngày 17/12/2020 chỉ đạo thực hiện công tác quản

lý, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ

Để nâng cao kết quả THADS cho tổ chức tín dụng, Ngân hàng thu hồi nợ xấu theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp và Tổng cục THADS, Cục THADS ban hành Kế hoạch số 1382/KH-CTHADS ngày 20/11/2020 trực tiếp làm việc với các Chi cục THADS Kết quả đến cuối tháng 12/2020 đã thực hiện việc kiểm tra tiến độ tổ chức thi hành án cho các tổ chức tín dụng Ngân hàng đối với 08/09 Chi cục (còn Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách sẽ tổ chức thực hiện trong tháng 01/2021)

Xây dựng kế hoạch tự kiểm tra, kiểm tra năm 2021 đối với các Phòng chuyên môn và Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc theo tinh thần Quyết định số 1069/QĐ-TCTHADS, ngày 23/12/2020 của Tổng Cục Thi hành án dân sự

- Về công tác hướng dẫn nghiệp vụ:

+ Số lượng văn bản xin ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ cơ quan thi hành án dân sự cấp trên: không

+ Tình hình thực hiện ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ của cơ quan thi hành án dân

sự cấp trên: 01 trường hợp

+ Số lượng văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho cơ quan thi hành án dân sự cấp dưới: không, đạt tỷ lệ 0 %

+ Tình hình theo dõi, kiểm tra việc chấp hành ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan cấp dưới; xử lý vi phạm (nếu có):

2.2 Đánh giá tồn tại, hạn chế

Qua công tác tự kiểm tra, kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới đã chỉ ra những hạn chế, thiếu sót, xác định trách nhiệm đơn vị, cá nhân đối với từng hành

vi sai phạm Mức độ sai phạm của các đơn vị đã được chỉ đạo kiểm điểm, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, thực hiện khắc phục kịp thời, hiện tại chưa có phát sinh vụ việc nào có khả năng phát sinh trách nhiệm bồi thường Nhà nước, bảo đảm tài chính trong vụ việc thi hành án; Kết quả thực hiện các Kết luận kiểm tra trong năm

2020 không có trường hợp tiêu cực, tham nhũng, không có trường hợp vi phạm bị

xử lý kỷ luật; Ngoài ra, hàng năm Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đã thực hiện việc giám sát thường xuyên và kiểm tra định kỳ 02 đợt/năm Qua các đợt giám sát, kiểm tra của Viện kiểm sát đã chỉ xảy ra các sai sót trong chuyên môn nghiệp vụ, không vi phạm về tham nhũng; Việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên hàng năm và đã đạt được những kết quả nhất định, kịp thời chỉ đạo giải pháp khắc phục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động THADS, góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa sai phạm, tham nhũng trong hệ thống THADS, hoàn thành nhiệm

vụ chung của ngành THADS và địa phương

Trang 4

Đối với các việc án có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan THADS đã tổ chức họp liên ngành với Viện kiểm sát nhân dân, trao đổi thống nhất quan điểm giải quyết và đồng thời đây cũng là cơ sở để cơ quan THADS hoàn tất hồ sơ xin ý kiến hướng dẫn nghiệp vụ theo quy trình Với những trường hợp này, cơ quan Viện kiểm sát đều phối hợp tốt

Công tác phối hợp giữa các Cơ quan THADS, Công an, Tòa án, Viện kiểm sát mặc dù có nhiều cố gắn, tuy nhiên từng lúc vẫn còn tồn tại những vụ việc án khó khăn, phức tạp, đương sự bức xúc khiếu nại chưa giải quyết dứt điểm được

dẫn đến vụ việc kéo dài nhiều năm chưa thi hành được (Điển hình: Vụ Công ty An Phát; Vụ Việp Bích Thủy, Cục THADS tỉnh thụ lý…)

3 Công tác tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị

3.1 Công tác tiếp công dân

- Thực hiện nghiêm việc tiếp công dân thường xuyên theo quy định của Luật Tiếp công dân năm 2013, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ và các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân; Lịch tiếp công dân được niêm yết công khai tại Phòng tiếp công dân của Cục THADS và thông báo cho các cơ quan có liên quan theo quy định; Thủ trưởng đơn vị trong Hệ thống THADS tỉnh đảm bảo trực tiếp công dân định kỳ 02 lần/tháng, qua đó để giải quyết kịp thời thắc mắc, khiếu nại, tố cáo của người dân khi có yêu cầu phát sinh Đối với các trường hợp có khiếu nại phức tạp đều được Lãnh đạo đơn vị trực tiếp chỉ đạo giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật, không để phát sinh thành “điểm nóng” gây phức tạp về an ninh, trật tự

- Tiếp tục thực hiện việc tiếp nhận và xử lý thông tin do các cơ quan, tổ chức,

cá nhân phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng của Cục THADS về tiêu cực trong công tác THADS, quản lý nhà nước về thi hành án hành chính (theo Quyết định số 993/QĐ-TCTHADS ngày 29/9/2016 và Quyết định số 1167/QĐ-TCTHADS ngày 12/12/2017 của Tổng cục THADS về Quy trình tiếp nhận và xử

lý thông tin phản ánh, kiến nghị qua đường dây nóng)

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ chế “một cửa” đối với một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực THADS theo Quyết định số 537/QĐ-TCTHADS ngày 11/5/2017 của Tổng cục Thi hành án dân sự; Thực hiện tiếp nhận, hỗ trợ trực tuyến đối với các thủ tục yêu cầu THADS; Xác nhận kết quả THADS; Tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về THADS theo Quyết định số 818/QĐ-TCTHADS ngày 01/10/2020 của Tổng cục Thi hành án dân sự ban hành Quy chế quản lý, sử dụng, khai thác Phần mềm Hỗ trợ trực tuyến THADS Theo

đó, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi việc giải quyết hồ sơ theo cơ chế “một cửa” và hỗ trợ trực tuyến, bảo đảm thực hiện hiệu quả cơ chế một cửa trong tiếp nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính đúng thời gian quy định

- Kết quả công tác tiếp công dân: Tính đến ngày 30/12/2020, toàn tỉnh đã tiếp

43 lượt/50 người/41 vụ việc (tại Cục Thi hành án dân sự 18 lượt/20 người/18 vụ việc, tại các Chi cục Thi hành án dân sự 25 lượt/30 người/23 vụ việc), giảm 06 lượt (12,24%) so với cùng kỳ năm 2020 Trong đó, số đoàn đông người (số lượng: 01 đoàn/06 người/01 vụ việc; Số lượt tiếp của Thủ trưởng đơn vị là 13 lượt/18 người/

Trang 5

13 vụ việc; Nội dung tiếp công dân có 02 việc khiếu nại, 01 việc tố cáo, 38 việc kiến nghị, phản ánh

3.2 Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

a) Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại:

Tổng số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan THADS trong tỉnh:

07 việc, giảm 04 việc (36,36%) so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: tại Cục THADS 02 việc, tại các Chi cục THADS 05 việc

Đã giải quyết 05 việc, đạt tỷ lệ 71,43%, thấp hơn 28,57% với cùng kỳ năm

2020 Trong đó đã ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với 04 việc và 01 việc giải quyết bằng văn bản trả lời đơn; Kết quả giải quyết: Đình chỉ 01 việc (20%) do đương sự tự nguyện rút đơn, Đúng toàn bộ 01 việc (20%), Sai toàn bộ 03 việc (60%) Còn lại 02 việc đang xem xét giải quyết (thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục THADS 01 việc, Chi cục THADS huyện Thạnh Phú 01 việc), chiếm tỷ lệ 28,57%

b) Tiếp nhận, giải quyết tố cáo:

Tổng số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan THADS trong tỉnh:

02 việc, tăng 01 việc (100%) so với cùng kỳ năm 2020 (Chi cục THADS huyện

Mỏ Cày Nam 01 việc, Chợ Lách 01 việc) Đã giải quyết 01 việc bằng Kết luận nội dung tố cáo là không có cơ sở, tố cáo sai toàn bộ, đạt tỷ lệ 50%, thấp hơn 50% với cùng kỳ năm 2020 Còn lại 01 việc đang xem xét giải quyết (Chi cục THADS huyện Chợ Lách), chiếm tỷ lệ 50%

Tổng số thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác: 01 việc

c) Tình hình giải quyết phản ánh, kiến nghị của công dân:

Tổng số thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan THADS trong tỉnh: 82 việc, giảm 11 việc (11,83%) so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: tại Cục THADS

11 việc, tại các Chi cục THADS 71 việc Đã giải quyết 76 việc, đạt tỷ lệ 92,68%, cao hơn 3,44% với cùng kỳ năm 2020 Còn lại 06 việc đang xem xét giải quyết (thuộc thẩm quyền của các Chi cục THADS Bình Đại 02 việc, Giồng Trôm 03 việc, Mỏ Cày Nam 01 việc), chiếm tỷ lệ 7,32%

Tổng số thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác: 01 việc

d) Tình hình thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận nội dung tố

cáo đã được ban hành:

Trong 06 việc khiếu nại, tố cáo đã giải quyết, có 04 việc được giải quyết bằng Quyết định giải quyết khiếu nại, 01 việc được giải quyết bằng Kết luận nội dung tố cáo và 01 việc giải quyết bằng văn bản trả lời đơn Kết quả giải quyết: Đình chỉ 01 việc do đương sự tự nguyện rút đơn, Đúng toàn bộ 01 việc, Sai toàn bộ 04 việc Cụ thể như sau:

1 Đơn khiếu nại của ông Nguyễn Dương Kim Hải, sinh năm 1964; Địa chỉ: D2 Cư Xá Phú Lâm B, phường 13, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tuyết Nga, sinh năm 1965 - Địa chỉ: ấp Phú Long, xã Hưng Khánh Trung B, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, là người được thi hành án

Trang 6

Nội dung: khiếu nại Chấp hành viên chậm tổ chức thi hành án theo Quyết định số 628/QĐ-CCTHADS ngày 24/02/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách

Kết quả giải quyết khiếu nại: Quyết định giải quyết khiếu nại số: 749/QĐ-CCTHADS ngày 03/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách Nội dung giải quyết khiếu nại không chấp nhận toàn bộ nội dung khiếu nại

Kết quả thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại: Chấp hành viên phụ trách giải quyết việc án đang xác minh làm rõ một số thông tin liên quan đến phần diện tích đất còn lại cấp cho hộ ông Tám, bà Năm, để làm cơ sở giải quyết theo quy định

2 Đơn khiếu nại bà Thị Thanh Liễu - Địa chỉ: ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre

Nội dung: khiếu nại việc Chấp hành viên Nguyễn Việt Hùng kê biên tài sản của bà để thi hành án cho ông Quách Văn Tuấn

Kết quả giải quyết khiếu nại: Quyết định giải quyết khiếu nại số 774/QĐ-CCTHADS ngày 15/12/2020 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách Nội dung không chấp nhận toàn bộ nội dung khiếu nại

Kết quả thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại: Chấp hành viên phụ trách giải quyết việc án đang xây dựng kế hoạch phối hợp Công an huyện để bảo vệ cưỡng chế

3 Đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị Bạch Mai - sinh năm 1960- Địa chỉ: 166C

áp Mỹ An C, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Nội dung: Tố cáo Chấp hành viên Nguyễn Minh Cường không nhận đơn đề nghị thu hồi tài sản của ông Nguyễn Văn Nhanh và hướng dẫn bà tìm giang hồ để giải quyết việc án

Kết quả giải quyết tố cáo: Kết luận số 03/KL-CCTHADS ngày 14/12/2020

có nội dung không có cơ sở giải quyết, không chấp nhận nội dung tố cáo

Kết quả thực hiện Kết luận tố cáo: Chấp hành viên đã có văn bản phối hợp với văn phòng công chứng nơi bà Bạch Mai cung cấp để xác minh hợp đồng công chứng chuyển nhượng tài sản là chiếc xe

4 Đơn khiếu nại của ông Trần Văn Rết - sinh năm 1953- Địa chỉ: ấp Tân Phước, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

Nội dung: Khiếu nại Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam chậm tổ chức thi hành án buộc bà Quan Thị Cẩm Hương trả số tiền 567.522.000 đồng

Kết quả: Rút đơn đình chỉ giải quyết

Kết quả thi hành án: Chấp hành viên đã thu được số tiền 147.819.369 đồng, hiện đang xác minh tài sản tại văn phòng đất để kê biên

5 Đơn khiếu nại của bà Trần Thị Thu - sinh năm 1949- Địa chỉ: ấp Thới Hòa,

xã Thành Thới A, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

Nội dung: Khiếu nại quyết định cưỡng chế thi hành án số: 07/QĐ-CCTHADS ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Chấp hành viên Nguyễn Minh Cường Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam

Trang 7

Kết quả giải quyết khiếu nại : Quyết định số 01/QĐ –CCTHADS ngày 22/12/2020 không chấp nhận toàn bộ nội dung khiếu nại

Kết quả thực hiện Quyết định: Do còn trong thời gian đương sự khiếu nại lên Cục trưởng Cục Thi hành án, Chấp hành viên chưa thực hiện giai đoạn tiếp theo

6 Đơn khiếu nại của bà Phùng Thị Kim, sinh năm 1976 - cư trú: ấp Hồ Sen,

xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre có nội dung: Khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại số 1000/QĐ-CCTHADS ngày 25/9/2020 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri và khiếu nại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri chậm giao tài sản cho người mua trúng giá theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 472 Quyển số 1TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/5/2019 do Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Tứ lập Tài sản do ông Nguyễn Văn Lo và Nguyễn Thị Bước đứng tên

Kết quả giải quyết khiếu nại : Quyết định số 239/QĐ –CCTHADS ngày 01/12/2020 Chấp nhận nội dung đơn khiếu nại của bà Phùng Thị Kim về việc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri chậm giao tài sản cho người mua trúng giá theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 472 Quyển số1TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/5/2019 do Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Tứ lập Tài sản do ông Nguyễn Văn Lo và Nguyễn Thị Bước đứng tên

Kết quả thực hiện Quyết định: Hiện nay Chấp hành viên đã ban hành Quyết định cưỡng chế số 23/QĐ-CCTHADS ngày 22/8/2020

e) Tình hình giải quyết các vụ việc do Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu

Quốc hội hoặc các cơ quan liên quan chuyển đến:

Đơn thư khiếu nại, phản ánh, kiến nghị do Đoàn Đại biểu Quốc hội, Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chuyển đến và yêu cầu báo cáo kết quả: Từ ngày 01/10/2020 đến ngày

31/12/2020 có 03 vụ việc đã giải quyết xong và có báo cáo kết quả (Danh sách các

vụ việc theo phụ lục đính kèm).

Đơn thư do các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương chuyển đến và yêu cầu báo cáo kết quả: không có phát sinh

f) Việc khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự phức tạp, kéo dài:

Thực hiện Quyết định số 295/QĐ-TCTHADS ngày 28/02/2017 kèm theo Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1397/QĐ-TCTHADS ngày 30/12/2016 của Tổng cục Thi hành án dân sự quy định tạm thời tiêu chí xác định việc khiếu nại, tố cáo về THADS phức tạp, kéo dài Cục Thi hành án dân sự có văn bản chỉ đạo Trưởng các Phòng chuyên môn, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự các huyện, thành phố tiếp tục thực hiện Quyết định số 1397/QĐ-TCTHADS ngày 30/12/2016 của Tổng cục Thi hành án dân sự rà soát việc khiếu nại, tố cáo về THADS phức tạp, kéo dài và báo cáo định kỳ theo quy định

Qua kiểm tra, rà soát, tổng hợp báo cáo trong Hệ thống Thi hành án dân sự tỉnh, Cục Thi hành án dân sự có văn bản báo cáo số 1568/BC-CTHADS ngày 30/12/2020, tính đến thời điểm hiện nay, tại các cơ quan Thi hành án dân sự trong tỉnh không có phát sinh vụ việc khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự phức tạp, kéo dài thuộc tiêu chí quy định tại Điều 3 Quyết định 1397/QĐ-TCTHADS ngày 30/12/2016

3.3 Đánh giá tồn tại, hạn chế

Trang 8

Công tác tiếp công dân của người đứng đầu đơn vị tại một số cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện thực hiện chưa hiệu quả, mang tính hình thức Bởi một

số Thủ trưởng đơn vị Thi hành án dân sự chưa nhận thức và trách nhiệm “đầy đủ” đối với công tác này, dẫn đến việc tiếp công dân hiệu quả chưa cao Chất lượng công chức làm công tác tiếp công dân còn thiếu kinh nghiệm, thường xuyên bị thay đổi nên việc giải thích, hướng dẫn công dân chưa được thỏa đáng Chưa phối hợp chặt chẽ giữa tiếp công dân với chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh từ hoạt động nghiệp vụ THADS tại đơn vị

Việc phân công trách nhiệm cho công chức làm nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo chưa rõ ràng; Chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực và trách nhiệm một số công chức tiếp công dân còn hạn chế dẫn đến chất lượng hiệu quả tiếp công dân chưa cao; Công tác chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc giải quyết vụ việc qua tiếp công dân chưa kịp thời, thiếu chặt chẽ, dẫn đến tình trạng khiếu kiện vượt cấp lên trên

Trách nhiệm một số Thủ trưởng đơn vị Thi hành án dân sự trong công tác chỉ đạo tổ chức thi hành các Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật thiếu kịp thời; Việc chỉ đạo đôn đốc, kiểm tra, theo dõi tiến độ giải quyết các việc

án có đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đối với Chấp hành viên thực hiện chưa thường xuyên, dẫn đến việc đương sự bức xúc, tiếp tục khiếu nại nhiều lần, vượt cấp, gửi đơn đến nhiều cơ quan, ban ngành với cùng nội dung

Nhiều vụ việc đương sự khiếu nại, tố cáo nhiều lần, khiếu nại vượt cấp, gửi đơn đến nhiều cơ quan, ban ngành với cùng nội dung để kéo dài tiến độ giải quyết

án, nhưng chưa có biện pháp xử lý dứt điểm

Xuất phát từ nhận thức của một số người dân, chưa nhận thức đầy đủ quyền

và nghĩa vụ công dân, việc khiếu nại đã được giải quyết đúng pháp luật, nhưng vẫn tiếp tục khiếu kiện, khiếu nại và yêu cầu; Một người gửi nhiều đơn khiếu nại, yêu cầu có cùng nội dung gửi đến nhiều cơ quan, nhằm kéo dài và trì hoãn việc thi hành án; Thông thường khiếu nại, tố cáo không nêu căn cứ pháp lý và cung cấp chứng cứ cụ thể

Qua các trường hợp đã giải quyết cho thấy nguyên nhân chính dẫn đến khiếu nại về việc chậm thi hành án là do tính chất việc thi hành án khó khăn, phức tạp, do vướng mắc các quy định của pháp luật chưa có sự thống nhất giữa các văn bản của các cơ quan có thẩm quyền nên thời gian tổ chức thi hành án kéo dài chưa có kết quả; Do lượng án hàng năm thụ lý tăng cao, giá trị tài sản phải thi hành rất lớn, ngày càng phức tạp, đa số án phải thi hành có liên quan đến quyền sử dụng đất, nên công tác kê biên xử lý tài sản để thi hành án gặp trở ngại do thủ tục từ cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai; Nhiều vụ việc đã tổ chức kê biên, định giá, bán đấu giá giảm giá nhiều lần do không có người mua tài sản; Ý thức tuân thủ pháp luật của người phải thi hành án còn hạn chế, cố ý trì hoãn né tránh việc thực hiện nghĩa

vụ Những vấn đề nói trên dẫn đến sự chậm trễ trong việc thi hành án, gây bức xúc cho người được thi hành án dẫn đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

4 Công tác tổ chức cán bộ

- Tổng số biên chế hành chính được giao: 124 (trong đó Cục Thi hành án dân sự: 23, Chi cục Thi hành án dân sự: 101)

Trang 9

+ Đã thực hiện: 119 (trong đó Cục Thi hành án dân sự: 22, Chi cục Thi hành

án dân sự: 97)

+ Chưa thực hiện: 05 (trong đó Cục Thi hành án dân sự: 01, Chi cục Thi hành

án dân sự: 04)

+ Nghỉ hưu, nghỉ thôi việc: Không

- Tổng số hợp đồng lao động: toàn tỉnh hiện có 33 Hợp đồng lao động (trong

đó có: 11 Lái xe, 16 bảo vệ, 06 Tạp vụ)

- Tình hình cơ cấu chức danh lãnh đạo Cục, các phòng chuyên môn thuộc cục, các Chi cục: Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre hiện có 04 Lãnh đạo (trong đó:

có 01 Cục trưởng, 03 Phó cục trưởng); 3/4 Phòng chuyên môn có Trưởng phòng và tương đương; 01/4 Phòng chuyên môn có Phó trưởng phòng; 9/9 Chi cục đều có Chi cục trưởng; 8/9 Chi cục có Phó chi cục trưởng

- Tình hình cơ cấu chức danh Chấp hành viên, Thẩm tra viên, thư ký: Toàn tỉnh hiện có 54 Chấp hành viên (01 cao cấp, 14 trung cấp, 39 sơ cấp), 13 Thẩm tra viên (01 Thẩm tra viên chính, 12 thẩm tra viên), 23 Thư ký (22 Thư ký thi hành án,

01 thư ký trung cấp)

- Công tác tinh giản biên chế: Lập hồ sơ đề nghị Tổng cục Thi hành án dân sự xét tinh giản biên chế đợt 1/2021 theo Nghị định số 108/NĐ-CP cho 02 công chức

- Công tác tiếp nhận công chức: Đăng ký nhu cầu tiếp nhận công chức vị trí

Kế toán viên cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm

- Công tác quy hoạch, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác: Cục Thi hành

án dân sự đã ban hành Quyết định điều động 01 công chức, chuyển công tác cho

01 công chức

5 Công tác quản lý tài chính, tài sản; đầu tư xây dựng cơ bản

Tình hình xây dựng, thực hiện dự toán và quản lý ngân sách: định kỳ tháng 11/2020, lập dự toán thu, chi ngân sách năm 2021 của các đơn vị dự toán trực thuộc theo quy định của pháp luật trình Tổng cục Thi hành án dân sự xem xét Điều chỉnh kinh phí giao thực hiện chế độ tự chủ và chế độ không tự chủ của các đơn vị trực thuộc đảm bảo không vượt tổng dự toán được giao

Tình hình thu - nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án: Thu nộp quản lý và

sử dụng phí thi hành án theo đúng quy định

Về đầu tư xây dựng cơ bản, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thi hành án dân sự: (Nêu rõ kết quả thực hiện trên cơ sở tiến độ, yêu cầu được giao) Theo dõi các bước tiếp theo khi có quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với xây dựng Trụ sở và kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, để giải ngân kế hoạch vốn được giao trong năm 2020 Về cơ sở vật chất trang thiết bị: đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất cho mọi cán bộ công chức: máy vi tính, bàn ghế, tủ hồ sơ…

6 Công tác chỉ đạo, phối hợp trong thi hành án dân sự tại địa phương

6.1 Kết quả

Trang 10

Công tác phối hợp, chỉ đạo tổ chức thi hành hình phạt tiền và trách nhiệm dân

sự của người phải thi hành đang chấp hành án phạt tù và việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá

Trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, Cục THADS hướng dẫn các Phòng chuyên môn và các đơn vị trực thuộc kịp thời phối hợp, tạo điều kiện cho các phạm nhân thực hiện nghĩa vụ dân sự trong việc thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các quyết định của cơ quan THADS để làm cơ sở cho việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, đặc xá theo quy định của pháp luật

Trong công tác phối hợp, cơ quan Công an thường xuyên cung cấp, trao đổi thông tin những phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, Nhà tạm giữ đã hoặc chưa chấp hành hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự cho cơ quan THADS biết Qua đó, thực hiện tốt công tác thu tiền, tài sản của người phải thi hành án là phạm nhân đang thi hành án phạt tù để phục vụ công tác đặc xá Công tác đặc xá là chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện để trở thành người có ích cho

xã hội Đồng thời, đặc xá là sự ghi nhận kết quả giáo dục, cải tạo của phạm nhân, kết quả thi hành phần trách nhiệm dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án

Tình hình, kết quả thực hiện các Quy chế phối hợp liên ngành tại địa phương

Trong quá trình thực hiện các Quy chế, các ngành thường xuyên phối hợp, trao đổi, họp bàn thống nhất quan điểm giải quyết, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác thi hành án dân sự, từ đó,

đã góp phần gắn kết trách nhiệm phối hợp giữa các ngành có liên quan trong công tác thi hành án dân sự, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác THADS

Trong các năm qua, từ khi triển khai thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan THADS, Công an, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân đã phát huy hiệu quả Trong quá trình thực hiện Quy chế, các ngành thường xuyên phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin, họp bàn thống nhất giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi cho nhau trong công tác thi hành

án dân sự Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về THADS được các ngành tập trung chỉ đạo để đương sự, công dân, cơ quan, tổ chức hiểu và thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật THADS góp phần đảm bảo an ninh, chính trị tại địa phương; công tác xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, bảo vệ cưỡng chế tài sản…được các ngành quan tâm phối hợp thực hiện tốt

Đối với cơ quan THADS, ngay từ khi tiếp nhận bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trong thời hạn luật định cơ quan THADS đã ra quyết định thi hành án và gửi cho Viện kiểm sát nhân dân theo quy định pháp luật

Đối với Viện kiểm sát nhân dân, đã kiểm sát chặt chẽ công tác THADS từ khi

ra quyết định thi hành án, thụ lý đến khi tổ chức thi hành xong Đảm bảo quá trình thi hành án luôn tuân thủ theo quy định pháp luật

Triển khai và thực hiện có hiệu quả Quy chế số 01/2020/QC-LN ngày 27/5/2020 phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác

Ngày đăng: 19/04/2022, 21:26

w