UBND TỈNH VĨNH PHÚC UBND TỈNH VĨNH PHÚC SỞ LAO ĐỘNG – TB&XH Số 115/BC LĐTBXH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Vĩnh yên, ngày 12 tháng12 năm 2007 BÁO CÁO Kết quả thực hiện côn[.]
Trang 1UBND TỈNH VĨNH PHÚC
SỞ LAO ĐỘNG – TB&XH
Số: 115/BC-LĐTBXH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Vĩnh yên, ngày 12 tháng12 năm 2007
BÁO CÁO Kết quả thực hiện công tác Lao động – TB&XH năm 2007
Phương hướng nhiệm vụ năm 2008
Năm 2007, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục ổn định Trong sản xuất nông nghiệp diện tích một số cây trồng có hiệu quả cao tiếp tục tăng nhanh; sản xuất công nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, quy
mô sản xuất được mở rộng do có thêm nhiều Dự án đầu tư trong nước và nước ngoài đi vào sản xuất ổn định; một số vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, văn hoá
xã hội tiếp tục phát triển và có nhiều tiến bộ
Trong tình hình chung đó, Ngành Lao động - TB&XH Vĩnh Phúc đã có nhiều cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và Bộ Lao động – TB&XH giao Sau đây là tình hình và kết quả cụ thể:
A KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ:
I Lao động việc làm và xuất khẩu lao động.
1 Giải quyết việc làm
Tình hình sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết nhiều chỗ việc làm cho người lao động
Năm 2007, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 24.234 lao động đạt 101%
kế hoạch năm Trong đó:
- Trong nông nghiệp nông thôn 5.100 lao động do tiếp tục chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi
- Trong Công nghiệp - xây dựng 13.300 lao động do các Dự án đầu tư của doanh nghiệp được xây dựng, đi vào sản xuất
Trang 2- Trong Thương mại - Dịch vụ 3.600 lao động do thực hiện chuyển đổi nghề cho lao động có đất bị thu hồi để phát triển khu, cụm công nghiệp, mở rộng các trung tâm thương mại, tổ chức hội chợ thương mại
- Thực hiện cho vay 60 dự án từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm thu hút 600 lao động với tổng vốn vay 11,5 tỷ đồng
- Xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 1.634 người Năm 2007, theo kết quả điều tra: tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 2,03% năm 2006 giảm xuống còn 2,02%; tỷ lệ thời gian lao động của lao động nông thôn tại nơi cư trú 63,69%; Thời gian làm ngành nghề phi nông nghiệp tại nơi
thường trú 18,49% và thời gian làm việc nơi khác (không phải nơi thường trú)
12,34%
2 Quản lý lao động trên địa bàn
Tính đến ngày 20/11/2007, toàn tỉnh có 1.504 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng số 93.289 lao động Trong đó:
- Doanh nghiệp Nhà nước : 28 đơn vị, sử dụng 5.325 lao động;
- Doanh nghiệp cổ phần : 61 đơn vị, sử dụng 12.422 lao động;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài : 72 đơn vị, sử dụng 29.437 lao động;
- Doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp: 1.343 đơn vị, sử dụng 46.105 lao động
Tiền lương thu nhập bình quân của người lao động 1.420.000 đồng Lao động có thu nhập cao nhất 25 triệu đồng/tháng như công ty TOYOTA BOSHUKI – Hà Nội; thấp nhất là lao động phục vụ trong doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH 450.000 đồng/tháng
3 Xuất khẩu lao động (XKLĐ)
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 25 đơn vị XKLĐ thuộc các Bộ, ngành, địa phương được phép tuyển lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Tính đến ngày 15/11/2007 đã có 1.634 lao động xuất cảnh đạt 109% kế hoạch, tăng
6,4% so với năm 2006, chủ yếu là MalaySia (chiếm 31,6%), Đài Loan (chiếm
27,7%) còn lại là các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Quata, Tiểu vương
quốc ARập Một số huyện có số lao động xuất khẩu cao như Vĩnh Tường, Yên
Trang 3Lạc: Các đơn vị tuyển được nhiều lao động đưa đi xuất cảnh là Công ty cổ phần
du lịch Vĩnh Phúc, Công ty cổ phần Simco Sông Đà
Công tác phổ biến, tiếp thị, hướng dẫn người tham gia XKLĐ làm thủ tục trong vay vốn được đặc biệt quan tâm Tổng số tiền của ngân hàng cho người lao động vay năm 2007 đạt 37,4 tỷ đồng Đã có trên 1.500 người lao động đi xuất khẩu mở tài khoản ở ngân hàng; tổng số tiền người lao động làm việc ở
nước ngoài đã gửi gia đình trên 10 triệu USD (gần 170 tỷ đồng Việt Nam).
Kết quả XKLĐ đã góp phần giải quyết việc làm, XĐGN và chuyển đổi cơ cấu lao động, tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn cao, tác phong công nghiệp để phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh nhà trong tương lai
Tuy nhiên, công tác tuyên truyền về XKLĐ ở cấp cơ sở chưa thường xuyên, sâu rộng trong cộng đồng dân cư, có thông tin người dân tiếp cận không đầy đủ, thiếu chính xác nên có hiện tượng người lao động bị lừa gạt; một số đơn
vị tham gia XKLĐ chưa thực hiện thông báo công khai các khoản chi phí đóng góp, chế độ tiền lương, thu nhập nên người lao động hoài nghi, thiếu tin tưởng
Về phía người lao động, một số trường hợp đơn vị XKLĐ đã làm thủ tục nhưng không đi đã gây thiệt hại về kinh tế cho đơn vị XKLĐ
II Công tác Đào tạo nghề
Sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài tiếp tục tăng, nhu cầu tuyển dụng lao động thuộc nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau tăng cao tạo điều kiện công tác đào tạo nghề phát triển
Mạng lưới các cơ sở dạy nghề tiếp tục được củng cố, tăng cường phù hợp
với chuyển đổi dạy nghề theo 3 cấp trình độ (Sơ cấp, Trung cấp và Cao đẳng)
Toàn tỉnh hiện nay có 55 đơn vị dạy nghề Trong đó : 03 Trường Cao đẳng; 05 trường Trung cấp; 18 Trung tâm; 12 Trường Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và 17 cơ sở giáo dục khác có dạy nghề
Trong năm học 2006 – 2007, trên địa bàn tỉnh có 40.866 lao động được đào tạo ở các cấp trình độ khác nhau; trong đó có 6.737 người được đào tạo ở các cấp trình độ Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và 34.129 người
được đào tạo nghề (3.620 người học dài hạn, 17.840 người học ngắn hạn, 2.571
người học BTVH + nghề), chủ yếu là đào tạo tập Trung chiếm 70,4%, đào tạo tại
Trang 4doanh nghiệp, cơ sở SXKD, dịch vụ 25,28%, đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng 4,32%
Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 37,6%, tăng 4% so với năm 2006,
trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 27,9%, so với năm 2006 tăng
2,4%
Các loại hình đào tạo được đa dạng hoá, đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng lao động; tiếp tục phát triển các mô hình dạy nghề năng động, linh hoạt như dạy nghề tại các doanh nghiệp, dạy nghề cho lao động nông thôn, dạy nghề cho lao động ở các địa phương dành đất phát triển công nghiệp, dịch vụ, dạy nghề gắn với giảm nghèo và giải quyết việc làm cho người lao động của 17 xã thuộc vùng khó khăn của các huyện Tam Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch
Đối với dạy nghề cho người lao động nông thôn, lao động ở vùng dành đất phát triển công nghiệp, dịch vụ thực hiện theo Nghị quyết số 05/2005/NĐ-HĐND của 05/2005/NĐ-HĐND tỉnh giai đoạn 2005 – 2010 đã có 23.800 lao động được học nghề Từ tháng 01/2007 đến tháng 8/2007 đã có 6.013 người được cấp hỗ trợ kinh phí học nghề với tổng với tổng số tiền trên 4 tỷ đồng và 3.269 người thuộc đối tượng khác, số tiền hỗ trợ trên 700 triệu đồng
Tháng 7/2007, chương trình giảm nghèo và giải quyết việc làm được HĐND tỉnh thông qua tại nghị quyết số 16/NĐ-HĐND sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhiều hơn cho người lao động học nghề như đối tượng được hỗ trợ kinh phí mở rộng, mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ được tăng lên Thực hiện nghị quyết này, từ nay đến năm 2010, bình quân mỗi năm tỉnh sẽ đầu tư gần 9,3 tỷ đồng để hỗ trợ cho người lao động tham gia học nghề
Đề án “Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động xã
Quang Minh, huyện Mê Linh giai đoạn 2007 - 2010” do Sở Lao động - TB&XH
chủ trì xây dựng được UBND tỉnh phê duyệt với tổng kinh phí trên 2 tỷ đồng Đến nay đã có trên 200 lao động của xã được giải quyết việc làm; trên 300 lao động tại địa bàn xã được học các nghề tin học, hàn, lái xe để có cơ hội vào làm việc tại các doanh nghiệp trong thời gian tới
Chất lượng của cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề tiếp tục được nâng cao Toàn tỉnh hiện có 1203 giáo viên dạy nghề và cán bộ thuộc các trường, trung tâm dạy nghề, trong đó: Trình độ trên đại học chiếm 14,9%, trình độ Đại học, Cao đẳng chiếm 68,7%, thợ lành nghề, thợ bậc cao và trung cấp chiếm
Trang 516,4% Giáo viên đạt chuẩn theo quy định của Bộ Lao động - TB&XH chiếm tỷ
lệ 76,7% toàn bộ đội ngũ giáo viên dạy nghề So với năm học 2005 - 2006, các
tỷ lệ trên đều vượt từ 5 - 8%
Cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên dạy nghề, năm 2007 cơ sở vật chất thiết bị dạy nghề được tăng cường Trong năm, tỉnh đã đầu tư cho các cơ sở dạy nghề công lập trên 19,8 tỷ đồng – trong đó: Xây dựng
cơ bản, sửa chữa, nâng cấp nhà xưởng, phòng học gần 11,5 tỷ; tăng cường máy móc thiết bị dạy nghề trên 8 tỷ đồng, đào tạo bồi dưỡng giáo viên gần 250 triệu đồng
Chất lượng đào tạo nghề tiếp tục được nâng cao, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trên 95% Tỷ lệ học sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi học nghề đạt 90%
Tuy nhiên, hạn chế trong công tác đào tạo nghề vẫn chưa tương xứng với tốc độ phát triển của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đang diễn ra trong tỉnh, rõ nét nhất là: Chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo trình độ tay nghề cao về chất lượng và số lượng; cơ sở vật chất, máy móc thiết bị dạy nghề tuy được tăng cường nhưng vẫn thiếu và chưa tiên tiến hiện đại; hệ thống chương trình, giáo trình dạy nghề và tình độ giáo viên dạy nghề còn nhiều bất cập so với mặt bằng chung của nước trong khu vực;
Kinh phí đầu tư cho dạy nghề chưa đáp ứng với yêu cầu đào tạo, đặc biệt
là máy móc thiết bị dạy nghề ở trình độ cao Những tồn tại hạn chế nêu trên đang là vấn đề thách thức trong tiến trình hiện đại hoá – công nghiệp hoá ở tỉnh
ta trong hiện tại và tương lai
III Chính sách đối với người có công với cách mạng
1 Kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sỹ
Năm 2007 ngành LĐTB&XH đã tham mưu tỉnh uỷ, UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản để tổ chức các hoạt động hướng tới kỷ niệm 60 năm ngày TBLS
(27/7/1947 – 27/7/2007) như Thông tri của Tỉnh uỷ, Kế hoạch của UBND tỉnh,
quyết định thành lập Ban chỉ đạo về kỷ niệm 60 năm ngày TBLS
Sở Lao động TB&XH cũng đã ban hành 04 vàn bản hướng dẫn các huyện, thành thị, Sở, Ngành liên quan thực hiện kế hoạch của UBND tỉnh về các hoạt động hướng tới kỷ niệm ngày 27/7, công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện
Trang 6chính sách người có công, hỗ trợ làm nhà ở, hỗ trợ cho hộ nghèo là đối tượng gia đình chính sách, công tác khen thưởng tập thể, cá nhân làm tốt phong trào đền ơn đáp nghĩa
Công tác tuyên truyền về chủ đề Thương binh liệt sỹ được các cơ quan thông tin như Báo Vĩnh Phúc, Đài PTTH Vĩnh Phúc, Cổng thông tin điện tử Vĩnh phúc tuyên truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân Đã có hàng ngàn tin, bài, phóng sự được đăng tải, 430 băng đĩa CD, cat set được cấp cho cơ sở; hàng trăm pano, ap phích được dựng, treo tại các trung tâm huyện, thành, thị, xã, phường, thị trấn
Hướng tới kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh liệt sỹ, ngành Lao động TB&XH đã tổ chức đoàn đại biểu gần 40 thân nhân liệt sỹ thăm viếng nghĩa
trang liệt sỹ Trường Sơn, Đường 9 (Quảng Trị), đoàn đại biểu Bà mẹ VNAH về
thủ đô Hà Nội gặp gỡ lãnh đạo Đảng Nhà nước, viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Mnh; tổ chức đón nhận 16 hài cốt liệt sỹ hy sinh ở chiến trường Lào về nghĩa trang liệt sỹ địa phương; tổ chức liên hoan nghệ thuật quần chúng chủ đề về Thương binh liệt sỹ từ cấp xã, phường, huyện, thị với gần 100% đơn vị tham gia
và cử chọn liên hoan cấp tỉnh; tham mưu UBND tỉnh tổ chức Hội nghị toàn tỉnh
biểu dương tập thể, cá nhân tiêu biểu trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” Đã
có 1.199 tập thể, cá nhân được các cấp từ Trung ương đến tỉnh, huyện và xã, phường, thị trấn tặng bằng khen, giấy khen vì có thành tích trong phong trào
“Đền ơn đáp nghĩa”.
1 Về giải quyết chế độ chính sách và kết quả “Đền ơn đáp nghĩa”
Trong năm 2007, toàn tỉnh có 27 liệt sỹ được xác nhận mới và tổ chức báo
tử tại các địa phương; lập hồ sơ công nhận mới và nâng hạng thương binh 212
trường hợp, giải quyết 66 trường hợp vừa là thương binh vừa là bệnh binh (hoặc
MSLĐ) được hưởng cả hai chế độ theo quy định của chính sách; quyết định trợ
cấp mai táng phí và trợ cấp một lần trên 1200 trường hợp người có công từ trần; gần 1600 trường hợp người hoạt động kháng chiến; cấp 4500 sổ ưu đãi giáo dục cho con người có công, quyết định 120 người hưởng trợ cấp chất độc hoá học
Một số chính sách cụ thể khác đối với người có công cũng được quan tâm giải quyết triệt để như giải quyết tuất hàng tháng đối với thân nhân của liệt sỹ, thân nhân thương bệnh binh, người phục vụ thương bệnh binh nặng, trợ cấp 1 lần người có công giúp đỡ cách mạng, chế độ tù đày với tổng số trên 800 trường hợp
Trang 7Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh liệt sỹ, công tác chăm sóc người có công đã có bước chuyển biến tích cực, 5 chương trình cụ thể đã trở thành phong trào rộng khắp, có chiều sâu và mang tính xã hội hoá cao
Chương trình xây dựng quỹ “ Đền ơn đáp nghĩa” năm 2007 đạt cao, toàn
tỉnh thu được 4,279 tỷ đồng đạt 181,31% kế hoạch, trong đó quỹ cấp tỉnh 832
triệu đồng (đạt 202,92%), quỹ cấp huyện 912,36 triệu đồng (đạt 145,55% kế
hoạch), quỹ cấp xã thu được 1,763 tỷ đồng (đạt 134,58% kế hoạch).
Toàn tỉnh đã xoá bỏ hoàn toàn hộ chính sách nhà ở tranh tre, dột nát; 498
hộ gia đình chính sách nhà ở xuống cấp do xây dựng từ lâu đã được UBND tỉnh trích ngân sách hỗ trợ để sửa chữa mức 5 triệu đồng/ hộ với tổng kinh phí 2,49
tỷ đồng Trong năm 2007, toàn tỉnh có 86 nhà tình nghĩa được xây mới, tổng trị giá 1,469 tỷ đồng, trong đó huyện Vĩnh Tường là đơn vị cơ số nhà tình nghĩa
được xây mới nhiều nhất (28 nhà).
Chương trình ổn định đời sống gia đình liệt sỹ, thương bệnh binh, chăm sóc bố, mẹ, vợ liệt sỹ già yếu cô đơn, con liệt sỹ mồ côi được các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội quan tâm thông qua các hoạt động cụ thể, có hiệu quả
thiết thực như Tỉnh đoàn thanh niên có phong trào “ Tuổi trẻ Vĩnh Phúc – hành
trình đền ơn đáp nghĩa” đã tặng 500 áo lụa, 534 tấm chăn cho bố, mẹ, vợ, liệt
sỹ, tư vấn giới thiệu gần 200 thanh niên con gia đình chính sách có việc làm ổn định Các tổ chức đoàn thể khác như phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn viên thanh niên đã đóng góp trên 15 ngàn ngày công giúp đỡ gia đình chính sách trong sản xuất, tu sửa, vệ sinh nghĩa trang liệt sỹ , gần 900 gia đình thương binh, liệt sỹ được Hội LHPN giúp cây con giống mới đưa vào sản xuất; trên 2.300 người được các cơ sở y tế khám bệnh và cấp thuốc miễn phí trị giá trên 60 triệu đồng,
823 hộ gia đình được tặng sổ tiết kiệm trị giá 235 triệu đồng
Trong dịp tết Nguyên đán Đinh Hợi và ngày Thương binh liệt sỹ, UBND tỉnh đã trích ngân sách trên 8 tỷ đồng tặng trên 70 ngàn lượt người có công Ở cấp huyện, xã, phường, thị trấn và một số doanh nghiệp, tổ chức chính trị xã hội cũng đã trích ngân sách thăm hỏi tặng quà cho gần 17 ngàn người thuộc đối tượng có công với tổng kinh phí 606 triệu đồng
Có thể khẳng định, trong năm qua công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công trên địa bàn có sự phát triển cả về chiều rộng, chiều sâu với nhiều hoạt động thiết thực thúc đẩy phong trào, nâng cao nhận
Trang 8thức của toàn xã hội tạo tiền đề cho việc thực hiện xã hội hoá trong công tác
“Đền ơn đáp nghĩa” theo chủ trương chung Nhà nước.
IV Công tác xã hội thuộc ngành quản lý
1 Công tác giảm nghèo
Trong năm, có 38.438 hộ nghèo được cấp giấy chứng nhận hộ nghèo để người nghèo, hộ nghèo được hưởng thụ các chính sách ưu đãi xã hội; ngành Y
tế, BHXH đã cấp 155.081 thẻ BHYT cho người nghèo và người dân thuộc các
xã 135 với tổng kinh phí mua thẻ 12,4 tỷ đồng từ nguồn ngân sách tỉnh Tiến bộ hơn so với mọi năm giấy giấy chứng nhận hộ nghèo và toàn bộ thẻ BHYT đã được cấp đến từng hộ gia đình và từng người từ ngày 01/01/2007
Thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-HĐND ngày 04/7/2007 của HĐND tỉnh về chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm giai đoạn 2007-2010, Ngành Lao động – TB&XH tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 3104/KH-UBND ngày 31/8/2007 tổ chức thực hiện NQ 16/2007 bao gồm một
số nội dung cơ bản như: hỗ trợ lãi xuất cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách xã hội; hỗ trợ về giáo dục cho học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu số và đối tượng xã hội; hỗ trợ xây dưng nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; hỗ trợ kinh phí học nghề; hỗ trợ học ngoại ngữ, giáo dục định hướng xuất khẩu lao động
Mục tiêu cơ bản của chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 16/2007 là: giảm ít nhất 2% tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm, đến hết năm 2008 không còn hộ chính sách nghèo do nguyên nhân thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm; xoá cơ bản nhà tạm cho hộ nghèo
Năm 2007, ngân sách tỉnh cấp bổ sung 2 tỷ đồng để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế gia đình thuộc vốn ngân quỹ xóa đói giảm nghèo Đã có thêm
400 hộ nghèo được vay vốn tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, giúp người nghèo,
hộ nghèo từng bước thoát nghèo
Công tác điều tra, rà soát hộ nghèo có nhu cầu vay vốn, việc làm, đào tạo nghề thuộc 17 xã khó khăn trong tỉnh đã được triển khai thực hiện làm cơ sở xây dựng Đề án giảm nghèo, giải quyết việc làm đến năm 2010 để trình HĐND tỉnh trong năm 2008 ban hành cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho người dân của các xã nghèo thuộc vùng khó khăn của tỉnh
Trang 9Theo thống kê, báo cáo và tổng hợp của các huyện, thị, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc đến cuối năm 2007 còn 12,5%, giảm 2,4% so với năm
2006, đạt 99,2% so với mục tiêu đề ra Cụ thể từng huyện, thành, thị, tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2007 của từng đơn vị như sau: Tam Đảo 30,98%, Tam Dương 22,01%, Lập Thạch 16,9%, Mê Linh 10,77%, Bình Xuyên 9,19%, Yên Lạc 9,15%, Vĩnh Tường 8,6%, Phúc Yên 5,89%, Vĩnh Yên 4,08%
2 Công tác Bảo trợ xã hội
Năm 2007, toàn tỉnh đã tăng thêm 1.270 đối tượng hưởng trợ cấp xã hội
tại cộng đồng (trong đó: Vĩnh Tường 383 người, Yên Lạc 282 người, Lập Thạch
173 người, Vĩnh Yên 128 người, Bình Xuyên 110 người, Phúc Yên 55 người, Tam Đảo 33 người) nâng tổng số đối tượng hiện đang hưởng trợ cấp tại cộng
đồng lên 7.187 người, mức 65.000 đồng/người/tháng UBND tỉnh đã quyết định cấp bổ sung trên 1,2 tỷ đồng cho các huyện, thành, thị để trợ cấp cho đối tượng
do tăng thêm
Trong năm 2007, phòng Nội vụ Lao động - TB&XH các huyện, thị đã phối hợp với Trung tâm BTXH thực hiện rà soát, lập hồ sơ để tiếp nhận 93 đối tượng vào nuôi dưỡng tại Trung tâm Tổng số đối tượng được nuôi dưỡng tập trung tại Trung tâm hiện nay 154 người, trong đó chủ yếu là trẻ mồ côi, trẻ sơ sinh bị bỏ rơi chiếm trên 50%, còn lại là người già cô đơn, người tàn tật
Trong dịp tết Nguyên đán Đinh Hợi, toàn tỉnh có 2.080 hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được cứu trợ đột xuất với tổng kinh phí thực hiện 624 triệu đồng bằng nguồn ngân sách tỉnh, mức 300.000 đồng/hộ
3 Công tác Phòng chống Tệ nạn xã hội (TNXH)
Nội dung Phòng chống tệ nạn xã hội năm 2007 được tập trung vào việc thanh tra, kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ phòng ngừa tệ nạn mại dâm và cai nghiện phục hồi tập trung tại Trung tâm Giáo dục lao động xã hội
Toàn tỉnh có 215 cơ sở kinh doanh dễ bị lợi dụng hoạt động mại dâm với
tổng số trên 400 nhân viên phục vụ Số cơ sở được kiểm tra 43 đơn vị (17 khách
sạn, 21 nhà nghỉ, 5 cơ sở dịch vụ Karaok, Massage, cắt tóc gội đầu); các đơn vị
được kiểm tra chủ yếu vi phạm không khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động theo quy định
Trang 10Toàn tỉnh có 196 đối tượng liên quan đến hoạt động mại dâm, tập trung chủ yếu ở địa bàn thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên
Theo hồ sơ quản lý, Trung tâm GDLĐXH đang cai nghiện, chữa trị, giáo dục 477 học viên là ngựời nghiện ma tuý, gái bán dâm; trong đó 440 đối tượng
ma tuý, 37 gái bán dâm
Tình hình cai nghiện, chữa trị, giáo dục đối tượng TNXH tại Trung tâm Giaó dục LĐXH của tỉnh trong năm 2007 có những diễn biến phức tạp; một số đối tượng cầm đầu có tiền án, tiền sự tiếp tục kích động gây rối, chống người thi hành công vụ, gây mất ổn định tại Trung tâm Đã truy tố xét xử 02 đối tượng cầm đầu Hiện nay tình hình của đơn vị tạm thời ổn định và đang đẩy mạnh triển khai công tác giáo dục lao động và dạy nghề
Hoạt động của cộng tác viên phòng chống TNXH ở cấp xã, phường, thị trấn hiệu quả chưa cao; toàn tỉnh số xã, phường, thị trấn không có TNXH chiếm 22,36% (34/152 đơn vị)
V Công tác thanh tra
1 Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư
Tình hình khiều nại, tố cáo về các lĩnh vực lao động TB&XH trong năm
2007 giảm về số lượng và tính chất phức tạp do một số vụ việc đã được giải quyết kịp thời từ cơ sở
Trong năm, đã tiếp 245 lượt công dân đến hỏi, đề nghị hưởng chế độ, chủ yếu là chính sách đối với người có công với cách mạng, 02 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo về chính sách người có công
Việc tiếp công dân thường xuyên vào các ngày trong tuần của Lãnh đạo
Sở vào ngày 10 hàng tháng tiếp tục được duy trì Tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc cũng đã thực hiện các quy định về tổ chức tiếp dân theo hướng dẫn chung của Sở
Về giải quyết đơn thư: trong năm 2007, có 188 lượt đơn thư hỏi, đề nghị chính sách người có công đã được giải đáp, trả lời thoả đáng trên cơ sở chính sách nhà nước ban hành Đơn khiếu nại, tố cáo có 16 lượt đơn với 13 vụ việc, trong đó 05 vụ việc về pháp luật lao động, 05 vụ việc về người có công và 03 vụ việc liên quan đến chính sách BHXH và xã hội Qua đó cho thấy các vấn đề về quan hệ lao động, pháp luật lao động cũng đã được người lao động quan tâm