Sau nhiều lần thay đổi thì đến hiện nay theo quy định tạikhoản 1 điều 2 của Luật Công chứng số 53/2014/QH13 gọi tắt là Luật Công chứng năm 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của m
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN NGHỀ CÔNG CHỨNG VÀ CÔNG CHỨNG VIÊN
Chuyên đề: Quy định của pháp luật về quyền của người yêu cầu công chứng – Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Đà Nẵng, ngày 05 tháng 04 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3PHẦN I MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, hoạt động công chứng mới chỉ được tiếp tục khôi phục và hoạtđộng hơn ba mươi năm qua Sau nhiều lần thay đổi thì đến hiện nay theo quy định tạikhoản 1 điều 2 của Luật Công chứng số 53/2014/QH13 gọi tắt là Luật Công chứng
năm 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công
chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằngvăn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạođức xã hội của bản dịch, giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từtiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của phápluật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Trongnền kinh tế đã và đang phát triển như hiện nay ở nước ta thì các giao dịch dân sự cótính đa dạng và ngày càng phức tạp, tuy nhiên trình độ am hiểu pháp luật của ngườidân còn chưa cao, chính vì thế họ muốn tìm đến công chứng viên và tổ chức hànhnghề công chứng để đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của mình.Trong hoạt động công chứng, bên cạnh công chứng viên, tổ chức hành nghề côngchứng thì người yêu cầu công chứng là một chủ thể của hoạt động công chứng.Chúng ta có thể hiểu, quyền của người yêu cầu công chứng luôn đi cùng nhiệm vụ vàtrách nhiệm của công chứng viên trong quá trình công chứng Trách nhiệm của côngchứng viên càng cao thì quyền của người yêu cầu công chứng cũng được đảm bảomột cách đầy đủ nhất
Để tìm hiểu kỹ hơn quy định của pháp luật quyền của người yêu cầu công chứngtrong việc công chứng hợp đồng, giao dịch, cũng như thực tiễn thực hiện và giải pháp
hoàn thiện pháp luật, em xin trình bày qua bài thi tiểu luận kết thúc học phần: “Quy định của pháp luật về quyền của người yêu cầu công chứng – Thực tiễn thực hiện
và giải pháp hoàn thiện pháp luật”
Ngoài phần Mở đầu, Kết Luận, Danh mục tài liệu tham khảo thì em chia nộidung bài báo cáo gồm các phần sau:
- Quy định của pháp luật về người yêu cầu công chứng, điều kiện trở thành ngườiyêu cầu công chứng và các quyền của người yêu cầu công chứng
- Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Với vốn kiến thức còn hạn hẹn, khi làm bài không thể tránh khỏi sai sót, emmong nhận được những ý kiến góp ý của thầy cô để bài làm hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG
1 Quy định của pháp luật về người yêu cầu công chứng, điều kiện trở thành người yêu cầu công chứng và các quyền của người yêu cầu công chứng
1.1 Khái niệm người yêu cầu công chứng
Tại khoản 3 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 đưa ra khái niệm về người yêu
cầu công chứng Theo đó thì “Người yêu cầu công chứng là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài có yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của Luật này”.
Như vậy có thể thấy người yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứngtheo quy định của pháp luật Việt Nam là rất rộng Tuy nhiên không phải mọi cá nhân,
tổ chức Việt Nam hay nước ngoài đều trở thành người yêu cầu công chứng Để trởthành người yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng thì cá nhân, tổ chức ViệtNam hay nước ngoài phải có những điều kiện nhất định
1.2 Điều kiện để cá nhân, tổ chức trở thành người yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng
Điều kiện thứ nhất được quy định ngay trong khái niệm về người yêu cầu côngchứng tại khoản 3 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 Đó phải là cá nhân, tổ chứckhông phân biệt là Việt Nam hay nước ngoài có yêu cầu công chứng đồng thời phải làngười có quyền đưa ra yêu cầu công chứng Đó chỉ có thể là chủ thể của hợp đồng,giao dịch Chúng ta cần phân biệt giữa người yêu cầu công chứng và người đại diệncủa người yêu cầu công chứng
Điều kiện thứ hai được quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật Công chứng năm
2014, theo đó: “Người yêu cầu công chứng phải là cá nhân có năng lực hành vi dân
sự Trường hợp người yêu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đầy đủ giấy tờ liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của giấy tờ đó”.
Trong trường hợp, người yêu cầu công chứng là cá nhân thì để trở thành ngườiyêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng phải có năng lực hành vi dân sự Căn
cứ Điều 19 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Trang 5Điều 121 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Quy định tại Điều 20 Bộ Luật Dân sự năm 2015 Người có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ là người từ đủ mười tám tuổi trở lên, không bị Tòa án tuyên là: mất năng lực hành
vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì có thể trực tiếp thực hiện giao dịch dân sự hoặc cử người ủy quyền Chúng tacần lưu ý ở đây đó là độ tuổi của người thực hiện giao dịch dân sự Theo quy định củapháp luật, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên Giao dịch dân sự của ngườidưới sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Trong một số trườnghợp, giao dịch do người chưa thành niên thực hiện phải được sự đồng ý của người đạidiện theo pháp luật căn cứ Điều 21 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định rõ về điều này
Và luật cũng quy định rõ về việc tham gia giao dịch của những người có năng lực hành
vi dân sự không đầy đủ do Tòa án ra quyết định tuyên bố Căn cứ theo Điều 22 BộLuật Dân sự năm 2015 thì những người mà Tòa án ra quyết định tuyên bố là mất nănglực hành vi dân sự thì giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập, thựchiện; Người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi thì giao dịch dân sự đượcthực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định quy địnhtại khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Dân sự năm 2015; Người bị hạn chế năng lực hành vidân sự thì Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện căn cứtheo Điều 24 Bộ Luật Dân sự năm 2015
Trong trường hợp, người yêu cầu công chứng là tổ chức thì để tổ chức trở thànhngười yêu cầu công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật công chứng năm
2014 thì điều kiện được xác định thông qua tư cách của người đại diện theo pháp luậthoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó Tuy nhiên việc xác định điều kiệncủa người yêu cầu công chứng là tổ chức không chỉ đơn thuần thông qua tư cách củangười đại diện mà còn xét đến việc tổ chức này phải là tổ chức được thành lập và hoạtđộng theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.3 Quyền của người yêu cầu công chứng
1.3.1 Quyền lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng và lựa chọn công chứng viên
Tại khoản 5 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định thì: “Tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức
và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan” Và các công chứng viên hành nghề trong hai tổ chức hành nghề công
chứng này cũng có ba hình thức quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Công chứng năm
2014: “Công chứng viên của các Phòng công chứng; Công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng; Công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại
Trang 6Văn phòng công chứng” Việc lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng và lựa chọn
công chứng viên hoàn toàn thuộc về quyền của người yêu cầu công chứng sẽ khôngphân biệt giữa các hình thức Tuy nhiên việc lựa chọn cũng phải tuân thủ theo quy định
về phạm vi công chứng của Luật Công chứng năm 2014 Người yêu cầu công chứngchú ý đến quy định về thẩm quyền công chứng theo địa hạt của công chứng viên và tổchức hành nghề công chứng để lựa chọn cho đúng Căn cứ theo quy định tại Điều 42
Luật Công chứng năm 2014 thì: “Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản”.
1.3.2 Quyền được đưa ra yêu cầu công chứng và biết rõ lý do khi bị từ chối yêu cầu công chứng
Trong hoạt động công chứng thì việc đưa ra yêu cầu công chứng thuộc về ngườiyêu cầu công chứng Công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng chỉ thực hiệnviệc công chứng dựa trên yêu cầu công chứng của người yêu cầu công chứng Trongmột số trường hợp thì công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng chỉ giúpngười yêu cầu công chứng định hướng lại yêu cầu cho phù hợp với quy định của phápluật Căn cứ theo quy định về trách nhiệm nghề nghiệp trong quan hệ với người yêucầu công chứng tại khoản 1, 2 Điều 5 Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng ban
hành kèm theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP: “1.Công chứng viên phải tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp
để bảo đảm tốt nhất tính an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch; có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết yêu cầu công chứng của cá nhân, tổ chức một cách nhanh chóng, kịp thời khi yêu cầu công chứng đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội 2.Công chứng viên sẵn sàng tiếp nhận và giải quyết kịp thời yêu cầu công chứng của người yêu cầu công chứng bằng cách luôn có mặt tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng trong giờ làm việc theo quy định của pháp luật”
Và ngay cả trong Luật Công chứng năm 2014 thì tại điểm d, khoản 1, Điều 7
quy định về các hành vi bị nghiêm cấm: “Nghiêm cấm công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện các hành vi từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng”
Theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP thì côngchứng viên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồngđối với việc từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng
Trang 7Các điều trên khẳng định, quyền đưa ra yêu cầu công chứng là của người yêucầu công chứng, và công chứng viên phải có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thờicác yêu cầu đó và người yêu cầu công chứng được quyền biết rõ lý do khi bị chối yêucầu công chứng.
1.3.3 Quyền được công chứng viên giải thích để hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng
Tại Điều 3 Luật Công chứng năm 2014 quy định về Chức năng xã hội của công
chứng viên: “Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội”;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 có quy định về
nghĩa vụ của công chứng viên: “Giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng; trường hợp từ chối yêu cầu công chứng thì phải giải thích rõ lý do cho người yêu cầu công chứng”;
Căn cứ khoản 4 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014: “Công chứng viên hướng dẫn người yêu cầu công chứng tuân thủ đúng các quy định về thủ tục công chứng và các quy định pháp luật có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, giao dịch; giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc tham gia hợp đồng, giao dịch”;
Căn cứ khoản 3 Điều 5 Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng ban hành kèm
theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP: “Công chứng viên có nghĩa vụ giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ về quyền, nghĩa vụ, hậu quả pháp lý phát sinh của hợp đồng, giao dịch được yêu cầu công chứng; giải đáp một cách rõ ràng những thắc mắc của người yêu cầu công chứng nhằm đảm bảo cho hợp đồng, giao dịch đúng với ý chí của các bên giao kết hợp đồng, giao dịch; đảm bảo các bên có nhận thức đúng về pháp luật có liên quan và giá trị pháp lý của văn bản công chứng trước khi công chứng viên công chứng”;
Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP thì công chứngviên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối vớiviệc không giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi íchhợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng;
Trang 8Các điều trên đều khẳng định người yêu cầu công chứng có quyền được côngchứng viên giải thích rõ về hậu quả pháp lý phát sinh từ những nội dung thỏa thuậntrong hợp đồng, giao dịch Việc giải thích của công chứng viên là đối với tất cả các bêntham gia, khách quan không được nghiêng về bên nào.
1.3.4 Quyền được giữ bí mật thông tin về nội dung công chứng
Căn cứ tại điểm đ khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 quy định về
nghĩa vụ của công chứng viên: “Giữ bí mật về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác”;
Căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 7 Luật Công chứng năm 2014 quy định về các
hành vi nghiêm cấm công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện: “Tiết
lộ thông tin về nội dung công chứng, trừ trường hợp được người yêu cầu công chứng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin về nội dung công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức”;
Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng ban hành
kèm theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP: “ Công chứng viên có trách nhiệm giữ bí mật các thông tin trong hồ sơ yêu cầu công chứng, hồ sơ công chứng và tất cả thông tin biết được về nội dung công chứng trong quá trình hành nghề cũng như khi không còn
là công chứng viên; trừ trường hợp được sự đồng ý bằng văn bản của người yêu cầu công chứng hoặc pháp luật có quy định khác”.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP thì công chứngviên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối vớiviệc tiết lộ thông tin về nội dung công chứng mà không được sự đồng ý bằng văn bảncủa người yêu cầu công chứng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Các quy định về nghĩa vụ của công chứng viên, các hành vi bị nghiêm cấm,trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên về việc giữ bí mật thông tin về nội dungcông chứng chính là quyền được giữ bí mật thông tin về nội dung công chứng củangười yêu cầu công chứng trong hoạt động công chứng
1.3.5 Quyền được tự mình soạn thảo hoặc đề nghị công chứng viên soạn thảo dự thảo hợp đồng, giao dịch
Căn cứ theo quy định tại Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 công chứng hợpđồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn, Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 côngchứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêucầu công chứng Theo quy định tại hai điều luật này thì trong thành phần hồ sơ yêu cầu
Trang 9công chứng có thể là dự thảo hợp đồng, giao dịch do người yêu cầu công chứng mangđến hoặc người yêu cầu công chứng nêu nội dung, ý định giao kết hợp đồng giao dịch
để Công chứng viên hiểu và soạn thảo theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng.Đây chính là quyền của người yêu cầu công chứng được tự mình lựa chọn phươngthức soạn thảo hợp đồng, giao dịch
1.3.6 Quyền được yêu cầu cấp bản sao văn bản công chứng
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 65 Luật Công chứng năm 2014 thì việc cấp bản
sao văn bản công chứng được thực hiện: “Theo yêu cầu của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng, giao dịch đã được công chứng” Điều này có nghĩa khi việc công chứng đã hoàn tất, người yêu cầu công
chứng có quyền được yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng cấp bản sao văn bảncông chứng bất cứ lúc nào Và theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật Công chứng
năm 2014 thì: “Việc cấp bản sao văn bản công chứng do tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ bản chính văn bản công chứng đó thực hiện”.
1.3.7 Quyền được mời người làm chứng cho hợp đồng, giao dịch
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Luật Công chứng năm 2014 thì: “Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký, điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng Người làm chứng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng Người làm chứng do người yêu cầu công chứng mời, nếu người yêu cầu công chứng không mời được thì công chứng viên chỉ định”
Đồng thời pháp luật cũng quy định về chế tài xử lý hành vi vi phạm trong quátrình làm chứng của người làm chứng trong hoạt động công chứng Căn cứ điểm akhoản 2 Điều 12 Nghị định 82/2020/NĐ-CP phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến15.000.000 đồng đối với hành vi gian dối, không trung thực khi làm chứng
1.3.8 Quyền được yêu cầu thực hiện việc công chứng ngoài trụ sở trong những trường hợp đặc biệt
Căn cứ khoản 2 Điều 44 Luật Công chứng năm 2014 thì: “Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng” Người yêu cầu công chứng được quyền
Trang 10yêu cầu công chứng ngoài trụ sở làm việc của tổ chức hành nghề công chứng trongmột số trường hợp theo quy định.
1.3.9 Quyền được yêu cầu công chứng đúng thời hạn
Căn cứ khoản 2 Điều 43 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Thời hạn công chứng không quá 02 ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc” Căn
cứ điểm b khoản 2 Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến7.000.000 đồng đối với hành vi công chứng không đúng thời hạn quy định Căn cứtheo quy định trên người yêu cầu công chứng được quyền yêu cầu công chứng đúngthời hạn, công chứng viên và tổ chức hành nghề có thể bị phạt nếu vi phạm về thời hạncông chứng theo quy định
1.3.10 Quyền được yêu cầu sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch
Căn cứ khoản 1 điều 51 Luật Công chứng năm 2014 có quy định công chứng
việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch thì: “Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó” Với quy định này của Luật thì người yêu cầu công chứng có quyền yêu cầu
công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng,giao dịch Tuy nhiên người yêu cầu công chứng cũng chú ý quy định tại khoản 2 Điều
51 Luật Công chứng năm 2015: “Về việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công
chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành Trường
hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy
bỏ hợp đồng, giao dịch”.
1.3.11 Quyền được yêu cầu sửa lỗi kỹ thuật và thông báo về việc sửa lỗi kỹ thuật
Tại khoản 1, 2, 3 Điều 50 Luật Công chứng năm 2014 giải thích về lỗi kỹ thuật
và quy định rõ về trách nhiệm, thẩm quyền sửa lỗi kỹ thuật cũng như sau khi hoàn tấtviệc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng, công chứng viên sửa lỗi kỹ thuật cótrách nhiệm thông báo về việc sửa lỗi kỹ thuật đó cho người tham gia hợp đồng giaodịch Căn cứ theo quy định của Điều 50 Luật Công chứng năm 2014 thì trách nhiệmcủa công chứng viên chính là quyền của người yêu cầu công chứng
Trang 111.3.12 Quyền được đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Căn cứ Điều 52 Luật Công chứng năm 2014: “Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật”.
Căn cứ khoản 6 Điều 27 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu tuyên bố vănvăn bản công chứng vô hiệu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Điều luật đãkhẳng định rõ ràng người yêu cầu công chứng có quyền được đề nghị Tòa án tuyên bốvăn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm phápluật
1.3.13 Quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại
Căn cứ theo khoản 3 Điều 2 Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng ban hànhkèm theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP công chứng viên chịu trách nhiệm trước phápluật về văn bản công chứng, bồi thường thiệt hại do lỗi của mình trong trường hợp việccông chứng dẫn đến thiệt hại cho người yêu cầu công chứng
Căn cứ khoản 1 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014: “Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng” Trong hoạt động công
chứng khi người yêu cầu công chứng là chủ thể bị gây thiệt hại thì có quyền yêu cầucông chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng bồi thường
1.3.14 Quyền được đề nghị công chứng hợp đồng, giao dịch theo đúng quy định của pháp luật.
Quy định tại khoản 1 điều 2 của Luật Công chứng số 53/2014/QH13 gọi tắt là
Luật Công chứng năm 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch, giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 thì công
chứng viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng vềvăn bản công chứng của mình Căn cứ theo khoản 5 Điều 9 Quy tắc đạo đức hành nghềcông chứng ban hành kèm theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP quy định những việc