Chính quyền Nam Phi buộc phải thực hiện NQ 435, rút quân đội về nước, LHQ và Nam Phi tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Namibia và SWAPO đã giành thắng lợi áp đảo, đứng ra thành lập C
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
-Vụ Thị trường Châu Phi - Tây Á - Nam Á
TÀI LIỆU CƠ BẢN CỘNG HOÀ NAMIBIA
Trang 2
-I Khái quát:
Vị trí địa lý: Cộng hoà Namibia ở phía Tây Nam châu Phi, phía Bắc giáp Angola, phía Nam giáp Nam Phi, phía Đông giáp Botswana, phía Tây giáp Đại Tây Dương
Diện tích: 824,292 km2
Dân số: 2,18 triệu người (2013) (người da đen chiếm 87.5%, da trắng chiếm 6%, người lai 6.5%)
Tôn giáo: đạo Thiên chúa giáo chiếm từ 80% đến 90%, tôn giáo bản địa
từ 10% đến 20%
Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức (7%), tiếng Hà Lan dùng ở châu Phi (60%), tiếng Đức (32%), tiếng địa phương
Thủ đô: Windhoek
Khí hậu sa mạc, khô nóng, lượng mưa thấp và không đều
Đơn vị tiền tệ: Đồng dollar Namibia 1 USD = 8,2 dollar Namibia (2013),
và đồng Rand của Nam Phi
Quốc khánh: 21 – 3 (là ngày độc lập, tách khỏi Nam Phi)
Tổng thống: Ông Hifikepunye POHAMBA (từ 2005)
Thể chế: Cộng hoà
II Lịch sử
Từ thế kỷ 15 về trước, trên lãnh thổ Namibia ngày nay các bộ tộc người Phi sinh sống Từ thế kỷ 15, người Bồ Đào Nha đến vùng đất Tây Nam Phi và đến giữa thế kỷ 19, người Anh và người Đức đến đây lập các cơ sở truyền giáo Năm 1883, Đức chiếm toàn bộ lãnh thổ Tây Nam Phi, riêng cảng Walvis thực dân Anh sát nhập vào tỉnh Cape của Nam Phi Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã diễn ra các cuộc nổi dậy của bộ tộc Herero (1904 - 1905) và bộ tộc người Hottentot (1905 - 1908) chống Đức xâm chiếm Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Đức thua trận, phải giao lãnh thổ Tây Nam Phi cho Hội quốc liên
và sau đó Nam Phi được trao quyền quản thác Năm 1920 lợi dụng tình hình đó, Nam Phi biến Tây Nam Phi thành thuộc địa của mình
Ngày 27/10/1966, Liên Hợp quốc (LHQ) ra nghị quyết 2146 chấm dứt quyền quản thác của Nam Phi ở Tây Nam Phi và lập ủy ban 14 nước để giải quyết tương lai của Tây Nam Phi và lấy tên là Namibia Năm 1967, Hội đồng của LHQ về Namibia được thành lập để cai quản Namibia về mặt pháp lý Tuy vậy, Nam Phi vẫn tiếp tục chiếm đóng trái phép lãnh thổ này
Cuối thập kỷ 50 đầu 60, nhiều tổ chức yêu nước ở Namibia ra đời như Tổ chức Nhân dân Ovambo do Sam Nujoma làm Chủ tịch (4/1959), Liên minh dân tộc Tây Nam Phi (9/1959) và Liên minh dân tộc Phi Caprivi (10/1964) Do đấu tranh, phân hoá nội bộ, nên ngày 19/4/1960, Chủ tịch Sam Nujoma đã thành lập
Trang 3Tổ chức Nhân dân Tây Nam Phi (SWAPO), tổ chức này phát triển nhanh chóng, được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Namibia và được Liên minh châu Phi (OUA), LHQ và Phong trào Không liên kết (KLK) công nhận
Sau khi Angola, Mozambique (1975) và Zimbabwe (1980) giành độc lập, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Namibia dưới sự lãnh đạo của SWAPO bước vào một giai đoạn phát triển mới Việc LHQ thông qua các nghị quyết 385 (31/1/1976) và NQ 435 (29/9/1978) lên án Nam Phi chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ Tây Nam Phi, đòi Nam Phi rút quân khỏi Namibia và trao trả độc lập cho nước này cùng với cuộc đấu tranh kiên cường của SWAPO và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đã dẫn đến ký kết Hiệp định hoà bình về Tây Nam Phi (22/12/1988) Chính quyền Nam Phi buộc phải thực hiện NQ 435, rút quân đội về nước, LHQ và Nam Phi tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Namibia và SWAPO đã giành thắng lợi áp đảo, đứng ra thành lập Chính phủ mới và ngày 21/3/1990, nước Cộng hoà Namibia ra đời, ông Sam Nujoma, Chủ tịch SWAPO được bầu làm Tổng thống, ông Hage Geingob được bổ nhiệm làm Thủ tướng Chính phủ Namibia
Ngày 28/2/1994, Nam Phi và Namibia đã ký 1 Hiệp định chính thức trả Vịnh Walvis cho Namibia, chấm dứt 84 năm chiếm đóng của Nam Phi đối với hải cảng này Walvis là hải cảng nước sâu rất thuận lợi cho tầu bè ra vào và có vị trí quan trọng đối với Namibia và cả Nam Phi
Trong cuộc bầu cử Tổng thống diễn ra vào tháng 11 năm 2004, Hifikepunye POHAMBA đã thay thế Sam Nujoma trở thành đại diện của SWAPO và đã trúng cử làm Tổng thống của Namibia và tiếp tục tái đắc cử vào năm 2005 đến nay SWAPO trở thành Đảng chiếm đa số tuyệt đối tại Nghị viện Namibia
III Kinh tế
Nền kinh tế của Namibia phụ thuộc chặt chẽ vào việc khai thác và sản xuất các khoáng sản để xuất khẩu Ngành khai khoáng đóng góp khoảng 20% GDP Namibia có nguồn dự trữ giàu có về kim cương và các kim loại quý hiếm Namibia là nước xuất khẩu khoáng sản (không phải là chất đốt) lớn thứ 4 ở châu Phi và là nước sản xuất vàng lớn thứ 5 của thế giới Ngoài ra, Namibia cũng là nhà sản xuất lớn các kim loại như bạc, thiếc, chì, kẽm, vonfam Ngành công nghiệp khai khoáng chỉ thu hút 3% lực lượng lao động trong khi gần một nửa dân số sống phụ thuộc vào nông nghiệp Namibia thường phải nhập khẩu khoảng 50% nhu cầu về ngũ cốc Trong những năm hạn hán, lương thực trở thành một vấn đề lớn ở khu vực nông thôn Sự chênh lệch rất lớn về GDP giữa các khu vực cho thấy sự bất bình đẳng lớn trong phân phối thu nhập
Nền kinh tế Namibia có mói liên hệ chặt chẽ với nền kinh tế Nam Phi và đồng dollar Namibia thường có tỷ lệ trao đổi 1/1 với đồng rand Nam Phi
Năm 2013, GDP của Namibia đạt 12,3 tỷ USD (theo tỷ giá chuyển đổi), tốc độ tăng trưởng GDP của nước này đạt 4,4% và GDP bình quân đầu người là trên 8.200 USD Tỷ lệ lạm phát được duy trì ở mức khá thấp là 2,7%trong giai
Trang 4đoạn 2001 đến 2006, tăng cao nhất lên đến 10,3% vào năm 2008 và năm 2013 ở mức 5,5%
Nông nghiệp thu hút 16,3% lao động và đóng góp vào 7,7% GDP Các nông sản chính của Namibia là kê, đậu phộng, lúa miến, vật nuôi, nho, cá…
Công nghiệp thu hút 22,4% lao động và đóng góp 29,6% GDP Trong khi
đó, dịch vụ thu hút 61,3% lao động và đóng góp vào 62,6% GDP
Về ngoại thương, kim ngạch xuất khẩu của Namibia đạt 5,1 tỷ USD Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước này là: kim cương, đồng đỏ, vàng, kẽm, thiếc, uranium, cá, gia súc, da cừu Các bạn hàng xuất khẩu chính của Namibia
là Nam Phi và Mỹ
Kim ngạch nhập khẩu của Namibia năm 2013 đạt 7,1 tỷ USD Nước này nhập khẩu phần lớn là: thực phẩm, sản phẩm xăng dầu, thiết bị máy móc, sản phẩm hoá học… Các đối tác chính mà Namibia nhập khẩu hàng hoá là Nam Phi
và Mỹ
IV Đối ngoại
Từ khi giành độc lập (3/90) đến nay, Namibia thực hiện đường lối đối ngoại không liên kết, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, tiếp tục duy trì quan hệ mọi mặt với Nam Phi, coi trọng quan hệ với các nước châu Phi, đặc biệt các nước miền Nam châu Phi, chú trọng quan hệ với Mỹ, phương Tây, tranh thủ Trung Quốc, Nhật Bản Namibia thi thành chính sách cân bằng quan hệ với các nước lớn, nhằm tranh thủ viện trợ, vốn, kỹ thuật
Namibia đã có những đóng góp tích cực vào việc thành lập Liên minh Châu Phi (AU); vào quá trình tìm giải pháp cho các cuộc xung đột tại Châu Phi Namibia là thành viên của LHQ, Phong trào KLK, AU, Cộng đồng phát triển miền Nam Châu Phi (SADC), Liên minh quan thuế miền Nam châu Phi (SACU), Khối Liên hiệp Anh và thành viên của các Tổ chức quốc tế IMF, WB
Năm 2000, Namibia là một trong 35 nước được hưởng ưu đãi của Đạo luật cơ hội và tăng trưởng Châu Phi (AGOA) của Mỹ
V Quan hệ Việt Nam – Namibia
Việt Nam đã công nhận SWAPO là người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân Namibia và luôn luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân Tây Nam Phi trước đây Tháng 1/1975, Chủ tịch SWAPO Sam Nujoma đã thăm Việt Nam Việt Nam cũng ủng hộ việc Nam Phi phải rút quân
và trao trả độc lập cho Namibia theo NQ 435 của HĐBA/LHQ (1978) Namibia luôn đánh giá cao sự ủng hộ của Việt Nam đối với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Namibia, coi Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng dân tộc của Namibia, người đoàn kết các chiến sĩ đấu tranh cho tự do của các dân tộc
Khi Namibia tuyên bố độc lập (21/3/1990), Việt Nam đã cử đặc phái viên đặc biệt của Chủ tịch nước sang dự và lấy ngày này làm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Năm 1997 Việt Nam đã bổ nhiệm Đại sứ kiêm nhiệm
Trang 5quốc gia này
Namibia cũng tích cực ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Ban chấp hành Tổ chức Kinh tế, Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) và tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Tháng 7/1997, Bộ trưởng Ngoại giao Namibia- Theo Ben Gurirab đã thăm Việt Nam Phía Bạn bày tỏ mong muốn hợp tác với Việt Nam về khai khoáng, đánh cá, du lịch, thương mại
Từ ngày 27 đến 29/07/2002, Tổng thống Namibia S.Nujoma thăm hữu nghị chính thức Việt Nam Hai bên đã ký Hiệp đinh khung về hợp tác kinh tế-thương mại, văn hoá, khoa và kỹ thuật; nhất trí trao đổi Dự thảo Hiệp định Thương mại và Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư; thoả thuận thành lập Nhóm công tác giữa hai Bộ Ngoại giao; trao đổi Dự thảo Nghị định thư về hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao
Cuối tháng 10/2002, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã thực hiện chuyến thăm một số nước châu Phi trong đó có Namibia Tháp tùng đoàn có các bộ ngành trong đó có Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển Nhân dịp này, hai bên đã trao đổi dự thảo Hiệp định Thương mại Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường Namibia nói riêng và các nước SACU nói chung, trong khi hai nước chưa ký Hiệp định Thương mại, Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Việt Nam đã thảo luận, thống nhất và ký Bản thoả thuận hợp tác giữa hai Bộ về xúc tiến các hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai nước với Bộ trưởng Công thương Namibia Ngoài ra, Bộ Công thương Namibia cũng trao cho Bộ trưởng Thương mại Việt Nam dự thảo Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư để hai bên có thể bắt đầu đàm phán
Tháng 5 năm 2003, Đoàn Bộ trưởng Bộ Thương mại Namibia đã sang thăm và dự hội thảo “Việt Nam – Châu Phi, những cơ hội hợp tác và phát triển trong thế ký 21” Nhân dịp này hai bên đã ký Hiệp định thương mại và Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư vào ngày 30 tháng 5 năm 2003
Tháng 8/2004, Bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Namibia
và Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại, Quốc phòng - An ninh, Quốc hội Namibia thăm Việt Nam
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Lương Minh dẫn đầu đoàn công tác liên Bộ/ngành và doanh nghiệp thăm chính thức Namibia, Botswana và Ethiopia từ ngày 11 đến ngày 17 tháng 4 năm 2012 nhằm mục đích tăng cường quan hệ, tìm hiểu thị trường và khả năng hợp tác về kinh tế, thương mại, nông nghiệp và đầu
tư với các nước này
Về quan hệ thương mại Việt Nam – Namibia, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước Năm 2000, ta xuất sang Namibia 103.000 USD chủ yếu gồm các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, nông sản chế biến Từ năm 2010 trở lại đây, trao đổi thương mại trực tiếp giữa Việt Nam và Namibia hầu như không có
Trang 6Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Namibia năm 2013 đạt 785.047 đô-la Mỹ Trong đó, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm hàng thủy sản, gạo, sản phẩm dệt may…
Về nhập khẩu, giá trị nhập khẩu từ Namibia năm 2013 đạt 13,2 triệu USD Trong đó, mặt hàng đá quý và kim loại quý đạt 11,8 triệu USD, chiếm tới 89,4% tổng kim ngạch nhập khẩu từ quốc gia này Các mặt hàng nhập khẩu khác
có thể kể tới như sắt thép phế liệu, nguyên phụ liệu dệt may da giày…
Một trong những nguyên nhân khiến trao đổi thương mại trực tiếp giữa hai nước còn thấp so với tiềm năng của mỗi bên là do nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu phải thông qua nước trung gian như Nam Phi Các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam xuất khẩu vào Namibia còn rất hạn chế và ngược lại các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Namibia như khai khoáng, thịt gia súc… cũng chưa được phía Việt Nam chưa khai thác nhiều
Lê Phương
Vụ Thị trường Châu Phi, Tây Á, Nam Á
Hà Nội, T4/2013