Việc ban hành cơ chế, chính sách thực hiện chương trình: Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương t
Trang 1HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
ĐOÀN GIÁM SÁT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 56/BC-ĐGS Thừa Thiên Huế, ngày 06 tháng 12 năm 2017
BÁO CÁO Kết quả giám sát “Việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh
giai đoạn 2011 – 2016”
Triển khai Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 31/03/2017 của HĐND tỉnh về
việc thành lập Đoàn giám sát "Việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng NTM gắn với công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011
- 2016", từ ngày 03/10/2017 đến ngày 24/10/2017, Đoàn giám sát của HĐND tỉnh
đã tiến hành giám sát tại các huyện, thị xã và các sở, ngành liên quan Đoàn giám sát báo cáo HĐND tỉnh kết quả như sau:
A KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
I TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1 Việc ban hành cơ chế, chính sách thực hiện chương trình:
Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010 - 2020, trong thời gian qua, Tỉnh ủy và HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành nhiều nghị quyết để triển khai; trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch thực hiện chương trình trong 05 năm (2011-2015) và kế hoạch thực hiện hàng năm
Các sở, ban, ngành tiến hành rà soát, điều chỉnh, tham mưu UBND tỉnh các văn bản hướng dẫn phù hợp với thực tế của địa phương1 Nhìn chung, hoạt động ban hành và triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách xây dựng NTM được quan tâm, kịp thời phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành
Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp, các ngành trong việc huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân; đồng thời góp phần nâng cao vai trò chủ thể của người dân trong thực hiện xây dựng NTM, cũng như trong các hoạt động khác ở cơ sở
2 Công tác tuyên truyền, vận động:
Công tác tuyên truyền, vận động được các cấp quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên, sâu, rộng Ban chỉ đạo (BCĐ) chương trình xây dựng NTM các cấp đã gắn với triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội đã chủ động tham gia, vận động, tuyên tuyền và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực góp phần đẩy mạnh việc thực hiện chương trình xây dựng NTM ở các địa phương
1 Qua 5 năm thực hiện, UBND tỉnh đã ban hành 06 Quyết định, 03 Kế hoạch; các Sở, ngành đã ban hành nhiều hướng dẫn thực hiện các cơ chế, chính sách và nội dung chương trình theo chuyên ngành;
Trang 2Các Sở, ngành đưa vào chương trình công tác hàng năm các nhiệm vụ của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM
Nhờ thực hiện tốt công tác này nên đến nay, nhận thức của cán bộ, công chức và người dân về xây dựng NTM đã có chuyển biến rõ rệt; người dân ngày càng tích cực, chủ động tham gia xây dựng NTM với nhiều cách làm sáng tạo; xây dựng NTM đang trở thành phong trào rộng khắp trong toàn tỉnh
3 Đánh giá các nội dung, tiêu chí của chương trình:
3.1 Đánh giá chung kết quả thực hiện
Sau 5 năm triển khai, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2011 - 2016 tỉnh Thừa Thiên Huế đã đạt được những kết quả tích cực trong tổ chức thực hiện, tạo chuyển biến về nhận thức của cán bộ và người dân, huy động hệ thống chính trị các cấp tham gia, hình thành được bộ máy BCĐ điều hành thống nhất từ cấp tỉnh xuống cấp huyện, xã, thôn Số tiêu chí đạt chuẩn tăng đáng kể hàng năm, nhờ đó, bộ mặt nông thôn của tỉnh đã khởi sắc, nhất là hệ thống giao thông nông thôn, kết cấu hạ tầng xã hội Mô hình sản xuất tập trung bước đầu được hình thành, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện Nhận thức của người dân được thay đổi từ chỗ còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước đã tích cực tham gia hiến đất, đóng góp ngày công, kinh phí vào xây dựng NTM
Tính đến ngày 31/12/2016, toàn tỉnh có 104 xã thực hiện xây dựng chương trình MTQG xây dựng NTM, kết quả thực hiện cụ thể như sau:
- Có 23 xã đạt chuẩn NTM, đạt tỉ lệ 22,1%2;
- 26 xã đạt từ 15-18 tiêu chí (25%);
- 50 xã đạt 10-14 tiêu chí (48,1%);
- 05 xã đạt 8-9 tiêu chí (4,8%)
Riêng năm 2016, có 03/07 xã (theo kế hoạch) đạt chuẩn NTM Nhiều xã
đạt chuẩn giai đoạn 2011-2015 nhưng so với chuẩn mới3 có 10 xã giảm từ 2-5 tiêu chí Số tiêu chí bình quân: 14,68 tiêu chí, giảm 0,17 tiêu chí/xã so với đầu
năm Số xã đạt các tiêu chí cơ bản (thu nhập, việc làm, hộ nghèo, môi trường)
35 xã/104 xã (đạt 33,65%) Đối với 02 huyện phấn đấu đạt huyện NTM giai đoạn 2016-2020, đến nay, huyện Nam Đông mới có 50%, huyện Quảng Điền mới chỉ có 10% số xã đạt chuẩn NTM
Về huy động vốn và cơ chế hỗ trợ: Trong 5 năm thực hiện, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn tỉnh đạt 6.376,725 tỷ đồng Cụ thể:
1 Vốn trực tiếp cho Chương trình NTM 1.202.389 18,86
1.
1.
2 Thấp hơn so với toàn quốc và trong khu vực: Toàn quốc là 29,76%, khu vực Bắc Trung bộ là 32,05%, Thanh Hóa (31,3%), Nghệ An (35,27%), Hà Tĩnh (35,37%), Quảng Bình (31,62%), Quảng Trị (26,5%);
3 Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 ban hành theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.
Trang 31.
2 Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác 1.310.918 20,56
5 Vốn huy động đóng góp của cộng đồng dân cư 601.178 9,43
Việc phân bổ nguồn lực từ ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước bảo đảm các quy định của chương trình Tuy nhiên, ngân sách trung ương hỗ trợ còn hạn chế trong khi ngân sách tỉnh còn khó khăn nên nguồn vốn để hỗ trợ trực tiếp cho chương trình chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Đa số các địa phương đều tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn lồng ghép, ưu tiên vốn tập trung cho các xã đăng ký đạt chuẩn hàng năm
Theo báo cáo của các địa phương, trong 5 năm thực hiện, người dân đã đóng góp tiền, đất đai, hoa màu, ngày công trị giá 601,178 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ
9,43%; trong đó, có hơn 144 ha đất và hơn 379.000 ngày công được đóng góp để
xây dựng đường thôn, đường ngõ xóm, nhà văn hoá thôn, chỉnh trang tường rào, cổng ngõ, nhà cửa… Các công trình đầu tư theo cơ chế đặc thù đã được triển khai bước đầu đạt kết quả khả quan, có sức lan tỏa rộng trong nhân dân
Các địa phương đã chủ động lựa chọn những công trình có tính cấp bách, cần thiết, phù hợp với khả năng huy động nguồn lực để đối ứng thực hiện Tuy nhiên, do nguồn lực của các địa phương còn khó khăn, việc huy động nguồn vốn trong dân còn hạn chế, do đó có nơi đã xảy ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản, đặc biệt là ở cấp xã Tính đến 31/01/2016, số nợ đọng xây dựng cơ bản trong toàn tỉnh là 83,814 tỷ đồng nhưng đến 15/7/2017 đã giảm xuống còn khoảng 26,489 tỷ đồng (trong năm 2016 đã trả nợ 62,59 tỷ đồng từ nguồn thu đấu giá quyền sử dụng đất và một phần ngân sách của các địa phương) Số nợ đọng còn lại dự kiến được xử lý dứt điểm trong 02 năm 2017-2018 (số nợ đọng này chủ yếu từ nguồn đối ứng của cấp huyện, xã); đối với phần nợ đọng từ ngân sách trung ương, trong các năm qua, UBND tỉnh đã bố trí dứt điểm theo từng dự án
3.2 Đánh giá việc thực hiện Bộ tiêu chí:
a) Về quy hoạch:
Công tác quy hoạch các xã NTM trên địa bàn tỉnh đã đã cơ bản hoàn thành trong những năm đầu tiên thực hiện (2011-2012); năm 2016, UBND tỉnh tiếp tục
bổ sung 12 xã của 06 huyện để lập quy hoạch, nâng tổng số xã thực hiện chương trình lên 104 xã4 Qua giám sát cho thấy, việc thực hiện lập quy hoạch xây dựng NTM của các xã được thực hiện trên cơ sở lồng ghép quy hoạch xây dựng; quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch sản xuất…
4 Giai đoạn 2011-2015, đã có 92/92 xã thực hiện việc lập quy hoạch xây dựng chương trình nông thôn mới Năm
2016, bổ sung 12 xã sau: Điền Hải, Điền Lộc (Phong Điền); Bình Điền (Hương Trà); Thủy Vân (Hương Thủy); Vinh Thanh (Phú Vang); Lộc Thủy, Lộc Vĩnh, Lộc Tiến (Phú Lộc); Sơn Thủy, A Ngo, Hồng Vân và A Đớt (A Lưới).
Trang 4Tuy nhiên, việc lập, thực hiện quy hoạch xây dựng NTM còn một số hạn chế là:
- Việc lập quy hoạch, kế hoạch, xây dựng đề án ở một số địa phương còn mang tính chủ quan, chưa sát thực tế Chất lượng lập quy hoạch và đề án xây dựng còn nặng về đầu tư hạ tầng, chưa chú trọng quy hoạch phát triển sản xuất; chưa đề
ra được các nhiệm vụ và giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn từng địa phương, nhất là đối với phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo
- Việc quản lý theo quy hoạch còn thiếu chặt chẽ Một số địa phương còn lúng túng trong việc chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện quy hoạch và đánh giá đạt chuẩn quy hoạch
- Kinh phí để lập quy hoạch xây dựng thấp (khoảng 150 triệu đồng/xã) nên các đơn vị tư vấn gặp khó khăn trong việc tổ chức triển khai, nhất là các xã tại vùng sâu, vùng xa và xã có diện tích lớn Thời gian lập quy hoạch kéo dài và chất lượng chưa cao, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng khó khăn, thậm chí còn hiện tượng sao chép quy hoạch
b) Về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội (tiêu chí số 2,3,4,5,6,7,8,9):
- Về giao thông nông thôn: Các địa phương đã đẩy mạnh thực hiện cơ chế đặc thù trong đầu tư xây dựng các công trình NTM, khuyến khích người dân góp tiền, tài sản, công sức tham gia, do đó, hệ thống giao thông đã có bước phát triển
cả về số lượng và chất lượng Đã đầu tư xây dựng mới được 1.104 km đường giao thông nông thôn đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ GTVT với tổng kinh phí thực hiện là 978,9 tỷ đồng Toàn tỉnh có 100% xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã Tính đến 31/12/2016, cả tỉnh có 54/104 số xã đạt tiêu chí về giao thông nông thôn, chiếm tỷ lệ 51,92%
- Về thủy lợi: Đã đầu tư xây dựng mới, sửa chữa nâng cấp 491km kênh mương nội đồng, 452 công trình khác như: đê bao, hồ chứa, trạm bơm, cống các loại, kè Nâng tổng số kênh mương được cứng hóa lên 1.360km, đảm bảo tưới tiêu cho 28.630 ha, chiếm tỷ lệ 98% diện tích trồng trọt theo quy hoạch toàn tỉnh Tổng kinh phí thực hiện 310,2 tỷ đồng Cuối năm 2016, có 69/104 (66,35%) xã đạt tiêu chí thủy lợi
- Điện nông thôn: Bằng các nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình dự
án, đã có 100% xã có số hộ sử dụng điện thường xuyên, có 103/104 xã đạt tiêu chuẩn về điện
- Trường học: Bằng nguồn vốn trực tiếp của chương trình cũng như lồng ghép đã đầu tư các phòng học, phòng chức năng, hàng rào, sân bãi cho trên 125 trường: 47 trường mầm non, 51 trường tiểu học và 27 trường trung học cơ sở với kinh phí 208,7 tỷ đồng Năm 2015, tỉnh đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt phổ cập mầm non 5 tuổi Cuối năm 2016 có 54/104 xã đạt tiêu chí trường học
- Cơ sở vật chất văn hoá: Đã đầu tư xây dựng mới được 33 nhà văn hóa trung tâm xã với tổng kinh phí thực hiện là 84,98 tỷ đồng Ngoài ra, có trên 200 nhà văn hóa thôn, đình làng, cổng làng được xây mới, sửa chữa, nâng cấp Cuối năm 2016, có 37/104 xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hoá
Trang 5- Trạm y tế xã: Trong 5 năm đã tiếp tục đầu tư xây dựng mới (như xã Hồng Thái, huyện A Lưới) và nâng cấp sửa chữa hệ thống Trạm y tế xã trên toàn tỉnh
Đã có 104/104 xã đạt tiêu chí y tế
- Nước sạch: Đến nay, trên địa bàn nông thôn toàn tỉnh tỉ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh đạt 95%, trong đó tỷ lệ sử dụng nước sạch đạt 75% Tuy nhiên, một
số xã, thôn, bản vùng sâu, vùng cao các huyện A Lưới, Nam Đông vẫn chưa có
hệ thống nước sạch do địa hình phức tạp, chia cắt, dân cư thưa thớt
- Nhà ở dân cư: Bằng nguồn lực từ nhân dân và các chương trình dự án đã xây dựng, sửa chữa hơn 6.000 nhà ở Đến cuối năm 2016, đã có 87/104 xã đạt tiêu chí về nhà ở dân cư Tuy nhiên, việc áp dụng tiêu chuẩn đánh giá mới theo
bộ tiêu chí quy định tại theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã làm cho tỷ lệ nhà không đạt chuẩn tăng, đặc biệt là tại hai huyện Nam Đông và A Lưới.5
Có thể khẳng định rằng, sau 5 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM
đã tạo nên những bước đột phá, bộ mặt nông thôn của các xã có nhiều sự thay đổi
rõ rệt; hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp đã góp phần tích cực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn Nhiều tiêu chí đã có mức tăng cao (tiêu chí giao thông năm 2010 có 1,92% số xã đạt đến cuối năm
2016 là 51,92%; cơ sở vật chất văn hóa từ 3,85% lên 85,6% ) Tuy nhiên, sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ và còn chênh lệch lớn giữa các huyện, xã Các địa phương miền núi có tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng chậm, trong khi nguồn lực của nhà nước cũng như khả năng đóng góp của nhân dân còn hạn chế Nhiều cơ sở nhà văn hóa… không được khai thác hiệu quả, gây lãng phí Một số xã lựa chọn các nội dung chưa sát thực tế, chưa chú trọng các công trình người dân được hưởng lợi trực tiếp Yêu cầu của tiêu chí dần được bổ sung, điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng nhưng nguồn vốn ngân sách hỗ trợ chưa đáp ứng nhu cầu; việc huy động dân đóng góp cùng lúc nhiều nội dung để đạt các tiêu chí là rất khó thực hiện
c) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo:
- Việc chuyển đổi mô hình hoạt động, thành lập, phát triển mô hình hợp tác
xã (HTX) kiểu mới theo Luật HTX năm 2012: Đến cuối năm 2016, toàn tỉnh đã có
164 HTX6 nông nghiệp được chuyển đổi theo Luật HTX năm 2012 (chiếm 72,5% trong số các HTX toàn tỉnh), với số lượng thành viên 97.659 hộ Trong đó, có 144 HTX hoạt động theo Luật, còn 17 HTX tuy đã được chuyển đổi song hoạt động không có hiệu quả, nguy cơ sẽ giải thể và 04 HTX thành lập mới Một số HTX nông nghiệp đã có sự đổi mới về phương thức hoạt động, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện liên kết với các doanh nghiệp Tuy nhiên, số lượng HTX tham gia liên kết sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với các doanh nghiệp chưa nhiều, mặc dù tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ
- Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động:
Đã triển khai thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn liền với xây dựng NTM, nâng cao hiệu quả quả sản xuất nông nghiệp và dịch vụ, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý, nhằm tăng thu nhập cho người dân
5 Thay đổi quy chuẩn xây dựng nhà theo quy định của Bộ Xây dựng.
6 Trong đó chuyển đổi từ HTX cũ 150 HTX, thành lập mới 14 HTX.
Trang 6nông thôn Đã xây dựng được hơn 400 mô hình sản xuất trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, phát triển ngành nghề thủ công, truyền thống, hỗ trợ phát triển thương hiệu có hiệu quả, phù hợp với điều kiện tiềm năng của từng địa phương, góp phần đẩy nhanh giảm nghèo, nâng cao thu nhập Giai đoạn 2016-2020, một số huyện đã chủ động xây dựng Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của địa phương mình đã tạo tiền đề để phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân, nhất là phát triển sản xuất, kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp theo hướng tập trung, hiệu quả cao
- Chuyển dịch cơ cấu lao động: Công tác đào tạo nghề cho nông dân, lao
động nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực Qua 5 năm, đã tổ chức đào tạo nghề cho 1.285 lao động nông thôn, tổ chức tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho 14.370 lượt lao động (nữ 5.073), trong đó có 1.258 người được tạo việc làm ổn định Xuất khẩu lao động cho 207 người đi làm việc ở nước ngoài Ngoài ra, thông qua một số chính sách, dự án, sự thành lập mới và mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp…đã giải quyết việc làm cho 16.081 lao động
Đến nay, đã có 74,04% số xã đạt tiêu chí về thu nhập; 93,27% số xã đạt tiêu chí về việc làm Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn giảm từ 11,16% năm
2010 xuống còn khoảng 4,1% năm 2015 (bình quân giảm 1,41%/năm), năm
2016 còn 7,19%7 Có 43,27% số xã đạt tiêu chí về hộ nghèo Riêng thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn toàn tỉnh tăng từ 12,6 triệu đồng năm
2010 lên đạt 24,15 triệu đồng năm 2016
d) Phát triển y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường:
- Y tế: Đến nay, tỷ lệ người dân tham gia các BHYT đạt 93% (cao hơn 15%
so với tỷ lệ bình quân của cả nước); 100% trạm y tế đều có bác sĩ biên chế tại trạm, hoặc tăng cường; 100% xã đạt chuẩn tiêu chí y tế
- Văn hóa: Có 89/104 xã đạt tiêu chí văn hoá, tỷ lệ 85,6%, giảm 6 xã so với
2015 Các hoạt động văn hoá thể thao quần chúng, các lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát triển; các thiết chế văn hoá cơ sở được tiếp tục xây dựng và nâng cấp đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá của từng địa phương
- Môi trường: Đến cuối năm 2016, có 55/104 xã đạt tiêu chí môi trường, các xã còn lại do chưa có hệ thống thu gom chất thải, hệ thống xử lý nước thải theo quy định Còn 18 xã chưa có hệ thống cấp nước sạch theo quy định8 Hiện
có khoảng 60% số xã nông thôn tiến hành thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt, 60% hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh
e) Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội:
Đến cuối năm 2016, có 92/104 xã đạt chuẩn tiêu chí 18 Tuy nhiên nội dung cải thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân tại các địa phương vẫn còn khó khăn trong thực hiện, đặc biệt ở các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
7 Theo tiêu chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều.
8 Trong đó: Huyện A Lưới 6 xã (Hương Nguyên, Bắc Sơn, Hồng Trung, Hồng Vân, Hương Lâm, A Đớt), Nam Đông 5 xã (Thượng Long, Thượng Nhật, Thượng Quảng, Hương Giang, Hương Hữu); Phú Vang 2 xã (Vinh An, Phú Diên), Phú Lộc 2 xã (Vinh Giang, Vinh Hải); Phong Điền 02 xã (Phong Mỹ, Phong Xuân); Hương Thủy 01 xã (Phú Sơn)
Trang 7Đối với tiêu chí quốc phòng và an ninh, đến nay, đã có 103/104 xã đạt chuẩn tiêu chí 19
II ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Phát triển nông thôn gắn với công tác xóa đói giảm nghèo là cơ sở và tiền
đề để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội Đây là một chủ trương lớn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị, được nhân dân đồng tình và hưởng ứng tích cực, có mối quan hệ tương hỗ để cùng thực hiện mục tiêu chung, đồng thời cũng là giải pháp chủ yếu, quan trọng
để thực hiện thành công các nghị quyết của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Giai đoạn 2011-2015, chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) giảm nghèo bền vững, tổng nguồn vốn được huy động từ ngân sách Trung ương, địa phương
và các nguồn lực khác là 3.159 tỷ đồng (trong đó: vốn chương trình MTQGGN: 316,327 tỷ đồng; tổng kinh phí lồng ghép thực hiện các chính sách giảm nghèo chung và huy động khác: 2.842,7 tỷ đồng) Kết quả cụ thể như sau:
1 Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững:
- Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) vùng bãi ngang ven biển và hải đảo: xây dựng mới và nâng cấp 205 công trình với số tiền 171 tỷ đồng; duy tu bảo dưỡng 99 công trình với số tiền 7,5 tỷ đồng
- Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã ĐBKK, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản ĐBKK vùng núi: tổng nguồn vốn là 135,2 tỷ đồng thực hiện xây dựng mới, nâng cấp sửa chữa 172 công trình; duy tu bảo dưỡng 75 công trình; xây dựng hơn 110 mô hình sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản
- Hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát đánh giá thực hiện chương trình: kinh phí hơn 2,7 tỷ đồng thực hiện các hoạt động đào tạo, tập huấn cho khoảng 4.200 lượt người; tổ chức các buổi tuyên truyền, các buổi tư vấn cộng đồng cho người dân, đặc biệt là người nghèo, cận nghèo và thực hiện công tác giám sát, đánh giá thực hiện chương trình
2 Đối với các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung:
Đã đảm bảo 100% hộ/người nghèo, hộ/người cận nghèo được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định bao gồm: chính sách tín dụng ưu đãi; hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo; hỗ trợ về giáo dục và đào tạo; hỗ trợ về y tế; hỗ trợ về nhà ở; hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý; hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin; hỗ trợ các chính sách an sinh xã hội khác
3 Đối với chính sách giảm nghèo đặc thù:
Giai đoạn 2011-2016, UBND tỉnh đã ban hành các kế hoạch giảm nghèo nhanh, bền vững và đảm bảo an sinh xã hội tại các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao trên
Trang 825% nhằm thúc đẩy giảm nghèo toàn diện và bền vững, hạn chế tái nghèo, đồng thời tạo cơ hội phát triển để người nghèo, hộ nghèo có điều kiện ổn định về sinh
kế, đa dạng hoá thu nhập, vượt qua nghèo đói để vươn lên; đồng thời từng bước giảm khoảng cách thu nhập của dân cư giữa các vùng
4 Các hoạt động xã hội hóa góp phần hỗ trợ giảm nghèo của Mặt trận, các
tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội:
- Thông qua các cuộc vận động, đã huy động được 891,9 tỷ đồng để hỗ trợ người nghèo và thực hiện chính sách an sinh xã hội
- Từ nguồn kinh phí này đã thực hiện các hoạt động như: hỗ trợ xây dựng công trình dân sinh (trường mẫu giáo, nhà cộng đồng ): 170 công trình; hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở cho 5.991 nhà ở; hỗ trợ vốn sản xuất cho 514.701 lượt hộ; hỗ trợ cho học sinh nghèo 64.423 suất; hỗ trợ khám chữa bệnh cho 256.804 lượt người; trợ giúp khó khăn đột xuất 211.601 suất
Như vậy, bằng việc lồng ghép nguồn vốn hỗ trợ từ 02 chương trình, cũng như huy động nguồn lực trong nhân dân đã thu lại những kết quả tích cực Thông qua các dự án đầu tư hạ tầng của chương trình MTQG giảm nghèo bền vững đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện CTMTQG xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh như hỗ trợ đầu tư trên các lĩnh vực giao thông nông thôn, trường học, thủy lợi, chợ (theo đúng quy chuẩn xây dựng NTM), các chính sách về dạy nghề, tạo việc làm đã từng bước góp phần nâng cao đời sống người dân, tăng thu nhập của
hộ gia đình, người nghèo đã từng bước tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin
Thông qua việc thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội và thực hiện đồng bộ các chính sách, dự án thuộc chương trình giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm, khoảng cách chênh lệch về nghèo giữa các vùng được thu hẹp Nhiều hộ gia đình nghèo, cận nghèo nhận được sự hỗ trợ từ các chính sách giảm nghèo đã
nỗ lực vươn lên, phấn đấu để thoát nghèo bền vững
Năm 2016, qua soát xét, đánh giá lại các tiêu chí theo bộ tiêu chí tại Quyết định 1980/QĐ-TTg, có 9/23 xã đã phê duyệt đạt chuẩn NTM có tỷ lệ hộ nghèo
lớn hơn 5% theo chuẩn nghèo đa chiều, điều này cho thấy một số xã đạt chuẩn
NTM nhưng chưa bền vững Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh trong năm 2016 giảm từ 8,36% xuống còn 7,19%
B TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN:
I TỒN TẠI, HẠN CHẾ :
Ngoài các tồn tại hạn chế đã nêu ở trên, việc thực hiện các chương trình MTQG xây dựng NTM và GN bền vững trên địa bàn tỉnh còn có những hạn chế
cơ bản sau:
1 Công tác tuyên truyền, vận động mặc dù đã được chú trọng thực hiện nhưng đến nay vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân chưa nhận thức rõ và đầy đủ về mục tiêu, ý nghĩa và nội dung của chương trình; còn trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước; ý thức tự giác, chủ động tham gia xây dựng NTM chưa cao Việc thay đổi tư duy, tập quán phong tục của bà con đồng bào dân tộc thiểu số cần có một quá trình lâu dài Các chủ trương, cơ chế, chính
Trang 9sách trong xây dựng NTM chưa được thông tin, cập nhập đầy đủ cho người dân Đặc biệt, nhiều địa phương thuộc diện xã đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang có tâm
lý không muốn thoát nghèo để được hưởng các chế độ, chính sách hỗ trợ của nhà nước
2 Việc áp dụng cơ chế đầu tư đặc thù trong xây dựng NTM ở một số địa phương thực hiện chưa hiệu quả; việc thực hiện thanh quyết toán trong cơ chế đặc thù còn nhiều vướng mắc, chưa đảm bảo thuận lợi cho cơ sở
3 Trong xây dựng NTM, một số nơi vẫn còn nặng về xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa tập trung cao cho việc phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, giảm nghèo, phát triển văn hóa, cải thiện môi trường Các tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất chuyển biến chậm, một số tiêu chí mới đạt ngưỡng so với quy định, chất lượng chưa cao và khó duy trì bền vững Một số xã đạt chuẩn nhưng đời sống người dân còn khó khăn, nhất là các xã miền núi
4 Nguồn vốn huy động cho chương trình đạt thấp so với yêu cầu, chủ yếu vẫn từ nguồn vốn lồng ghép và vốn tín dụng Nguồn lực đầu tư hỗ trợ trực tiếp
từ ngân sách nhà nước cho chương trình còn quá thấp so với yêu cầu, chưa tương xứng với mục tiêu đề ra, trong khi khả năng đóng góp của người dân và tham gia của doanh nghiệp còn hạn chế Ngoài ra, nguồn vốn ngân sách thông báo chậm; ngân sách tỉnh bố trí cho chương trình còn khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra
5 Chưa có nhiều vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh quy mô lớn và việc nhân rộng còn gặp khó khăn Sản xuất nông nghiệp một số nơi, nhất là vùng sâu vùng xa, miền núi, bãi ngang vẫn mang tính truyền thống là chính, vì vậy hiệu quả
và thu nhập còn thấp, không ổn định Việc đề xuất mô hình hỗ trợ ở các địa phương còn phân tán, nhỏ lẻ nên khó phát triển mở rộng theo hướng sản xuất hàng hóa Công tác tổng kết, nhân rộng các mô hình chưa được chú trọng
6 Môi trường nông thôn mặc dù được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề búc xúc tại một số địa phương như tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn do nước thải, rác thải, làng nghề; chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn đang là vấn đề được xã hội quan tâm; an ninh trật tự nông thôn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định
7 Tỷ lệ đào tạo lao động ở nông thôn và tỷ lệ xuất khẩu lao động còn thấp, chưa tương xứng với tiềm lực của tỉnh
II NGUYÊN NHÂN:
1 Nguyên nhân khách quan
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của một số vùng còn nhiều khó khăn; xuất phát điểm của một số xã còn thấp trong khi các tiêu chí đề ra trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới rất cao so với thực tế Nguồn lực của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp còn hạn chế, nhất là ở các địa phương miền núi
- Một số chính sách ban hành có mức đầu tư thấp, đa phần mang tính hỗ trợ nên ít có tác động đến giảm nghèo bền vững; các chính sách hỗ trợ sinh kế để phát triển sản xuất chưa nhiều, tổ chức thực hiện gặp nhiều vướng mắc
- Việc thực hiện Luật Đầu tư công bước đầu triển khai thực hiện, một số cơ chế chính sách, hướng dẫn cho giai đoạn 2016-2020 của các Bộ, ngành Trung
Trang 10ương ban hành chậm và thiếu động bộ nên các địa phương gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong triển khai thực hiện dẫn đến tiến độ thực hiện còn chậm so với
kế hoạch đề ra
- Mục tiêu và yêu cầu chất lượng xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020 cao hơn giai đoạn trước; bộ tiêu chí xã NTM theo chuẩn mới tuy vẫn giữ 19 tiêu chí nhưng nội dung tăng thêm 10 mục đánh giá so với trước đây (49/39 mục đánh giá), trong đó có một số tiêu chí có yêu cầu cao như: Tiêu chí số 13 (tổ chức sản xuất), tiêu chí 17 (môi trường và an toàn thực phẩm), tiêu chí 10 (thu nhập), tiêu chí 11 (hộ nghèo),…
2 Nguyên nhân chủ quan
- Công tác chỉ đạo có dấu hiệu chững lại trong thời gian gần đây Cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa quyết liệt trong triển khai, thiếu chủ động, sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện; vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại Vai trò chủ thể của người dân chưa được phát huy cao Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chưa chặt chẽ Công tác chỉ đạo thực hiện việc duy trì, nâng cao chất lượng tiêu chí ở hầu hết các địa phương còn lúng túng và có phần tự thỏa mãn với kết quả đã đạt được; một số xã đã đạt chuẩn NTM giai đoạn 2011-2015 nhưng năm 2016 không tiếp tục duy trì, nỗ lực để đạt theo chuẩn mới
- Tổ chức bộ máy, chất lượng công tác quản lý nhà nước về xây dựng NTM còn nhiều bất cập Đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế về trình độ chuyên môn, kiến thức kinh nghiệm về xây dựng NTM Bộ phận giúp việc cho BCĐ các cấp chủ yếu
là kiêm nhiệm (nhất là cấp huyện, xã), số lượng biên chế ít trong khi đó cơ cấu hoạt động không đồng bộ đã làm ảnh hưởng đến quá trình theo dõi, tổng hợp, tham mưu
- Trình độ dân trí, ý thức tự lực vươn lên trong cuộc sống của một bộ phận
hộ nghèo chưa cao, vẫn còn tồn tại một số suy nghĩ không muốn thoát nghèo để hưởng cơ chế, chính sách ưu đãi; vai trò của chính quyền và các hội đoàn thể ở một số địa phương chưa phát huy và chưa thực sự là chỗ dựa cho hộ nghèo
- Một số tiêu chí như: xây dựng hệ thống tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh và giữ gìn an ninh trật tự xã hội, môi trường, xây dựng mô hình phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, hộ nghèo… còn thiếu tính bền vững Chưa quan tâm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân Chưa có giải pháp cơ cấu lại nông nghiệp, nhất là các mô hình kinh tế hộ nông nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản, phát triển ngành nghề, nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo
C KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
I Đối với UBND tỉnh, BCĐ xây dựng chương trình NTM tỉnh:
1 Theo lộ trình đến năm 2020 phải có ít nhất 61 xã đạt chuẩn NTM nhưng hiện nay mới chỉ có 23 xã đạt chuẩn (trong đó có nhiều xã sẽ không đạt theo chuẩn mới), vì vậy, đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo UBND các huyện, thị xã trên cơ sở Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện rà soát, đánh giá đúng thực trạng các tiêu chí NTM trên địa bàn, từ đó xây dựng lộ trình, giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện nhằm hoàn thành chỉ tiêu đề ra