1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) thế giới nghệ thuật trong thơ trẻ thái nguyên

93 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Giới Nghệ Thuật Trong Thơ Trẻ Thái Nguyên
Tác giả Nguyễn Thị Tuyến
Người hướng dẫn TS. Hoàng Điệp
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thái Nguyên là một trong những trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội lớn của vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam; là nơi hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn hóa các tộc

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ TUYẾN

TRONG THƠ TRẺ THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Điệp

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp mới của luận văn 6

8 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 7

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NÓI CHUNG VÀ THƠ TRẺ THÁI NGUYÊN NÓI RIÊNG 7

1.1 Thế giới nghệ thuật 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Thái Nguyên thế kỉ XXI 9

1.1.2.1 Khái niệm cái tôi trữ tình 9

1.1.2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ nói chung 11

1.2 Vài nét khái quát về thơ Thái Nguyên và thơ trẻ Thái Nguyên đầu thế kỉ XXI 12

1.2.1 Khái quát thơ Thái Nguyên 12

1.2.2 Khái quát thơ trẻ Thái Nguyên 14

1.2.2.1 Khái niệm thơ trẻ 14

1.2.2.2 Những mạch nguồn phát triển của thơ trẻ Thái Nguyên 14

1.2.2.3 Quá trình vận động và phát triển của thơ trẻ Thái Nguyên 22

* Tiểu kết chương 1: 27

Trang 4

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ CẢM HỨNG VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH 29

TRONG THƠ TRẺ THÁI NGUYÊN 29

2.1 Cảm hứng thế sự trong thơ trẻ Thái Nguyên 29

2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Thái Nguyên 37

2.2.1 Cái tôi trong trẻo, hồn nhiên 37

2.2.2 Cái tôi cô đơn, nhỏ bé 44

* Tiểu kết chương 2: 56

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VỀ NGÔN NGỮ, KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRẺ THÁI NGUYÊN 57

3.1 Về ngôn ngữ 57

3.1.1 Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc 57

3.1.2 Ngôn ngữ lạ hóa 64

3.2 Về không gian 70

3.2.1 Không gian phố thị 70

3.2.2 Không gian làng quê 72

3.3 Về thời gian 76

* Tiểu kết chương 3: 83

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Công cuộc đổi mới năm 1986 là mô ̣t sự kiê ̣n quan tro ̣ng làm nước ta thay đổi trên tất cả các mă ̣t: kinh tế, chính tri ̣, văn hóa và văn ho ̣c Tính từ năm

1986 đến nay, thơ Việt Nam có nhiều bước tiến vượt bâ ̣c với nhiều thử nghiê ̣m

đa da ̣ng xuất phát từ sự thay đổi sâu sắc về tư duy nghê ̣ thuâ ̣t của các tác giả Đó là cái nhìn cuô ̣c đời bằng ánh mắt tỉnh táo, sắc la ̣nh và thơ ca như một sự an ủi cho những con người đang không ngừng tự tra vấn mình Họ đã truyền tải và kết nối thơ ca đến bạn đọc bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú và hơn thế nữa là góp phần tạo ra những hiệu ứng tích cực cho đời sống thơ ca trước sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông nghe, nhìn…

1.2 Thái Nguyên là một trong những trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị,

xã hội lớn của vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam; là nơi hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn hóa các tộc người miền núi và miền xuôi; nơi tập trung đông đảo đội ngũ trí thức, nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo ; Có lẽ bởi vâ ̣y nên văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng ở mảnh đất này đã có một chặng đường dài phát triển với sự xuất hiện của nhiều thế hệ các nhà thơ nối tiếp nhau sáng tạo, góp phần không nhỏ tạo nên một diện mạo thơ Thái Nguyên – vừa có những nét chung vừa có những đặc điểm riêng trong đời sống thơ ca thời kì hiện đại và đổi mới Đặc biệt, trong những năm gần đây thơ ca Thái Nguyên đã

có sự chuyển mình một cách ma ̣nh mẽ với các hiê ̣n tượng thơ và những cách tân, những thử nghiê ̣m mới mẻ, đa da ̣ng bên cạnh một dòng thơ truyền thống

1.3 Cuối thế kỉ XX sang đầu thế kỉ XXI cùng với quá trình đổi mới của xã hội nói chung và văn học nói riêng, thơ ca Thái Nguyên đã có nhiều

nỗ lực trong quá trình tìm tòi, cách tân để tự làm mới bản thân và đã gặt hái được những thành công đáng kể, ghi dấu ấn trên thi đàn đương đại với những tên tuổi như: Võ Sa Hà, Hồ Triệu Sơn, Trần Thị Vân Trung, Nguyễn

Trang 6

Thúy Quỳnh, Mai Thắng Họ có vai trò quan trọng, tạo tiền đề cho sự đổi mới và phát triển của các cây bút ở giai đoạn sau

Trong gần hai thập kỉ đầu thế kỉ XXI, thơ Thái Nguyên đã xuất hiện một thế hệ các cây bút trẻ sung sức, tài năng, mang khát vọng đổi mới, sáng tạo Có thể kể tên một số tác giả tiêu biểu như: Dương Thu Hằng, Vũ Thị Tú Anh, Phạm Văn Vũ, Nguyễn Nhâ ̣t Huy, Trần Thi ̣ Nhung, Doãn Long, Hoàng Thị Hiền, Gia Hân Họ sinh ra và lớn lên giữa thời đa ̣i mà đất nước có nhiều biến

đô ̣ng về mo ̣i mặt; sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thi ̣ trường, sự mở cửa giao thương rô ̣ng rãi không chỉ khiến ảnh hưởng đến tình hình xã hô ̣i, mà hơn thế nữa cũng để lại những dấu ấn đậm nét trong cả đời sống tâm lí con người Các tác giả trẻ cũng dần thích ứng với cuô ̣c số ng, họ chi ̣u ảnh hưởng từ văn hóa

củ a các nước phương Tây và không ngừng ho ̣c hỏi, tiếp thu xu hướng phát triển chung củ a nền văn ho ̣c hiện đa ̣i thế giới Điều này thể hiện rõ qua sự nỗ lực

cách tân và tinh thần thể nghiê ̣m, tìm tòi những điều mới la ̣ trong quá trình sáng

tạo nghê ̣ thuật Có thể nói đây là sự phát triển có tính kế thừa liên tục, góp phần đem lại một sinh khí mới, một diện mạo mới cho thơ Thái Nguyên, là cơ sở giúp thơ ca Thái Nguyên có được một nền tảng vững vàng và ẩn chứa những tiềm năng lớn

Xuất phát từ những lí do nói trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài:

luận văn của mình vớ i mong muố n đóng góp mô ̣t cái nhìn đầy đủ hơn về thơ ca Thái Nguyên trong dòng chảy chung của nền thơ ca Việt Nam đương đa ̣i

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về thơ Thái Nguyên

Thái Nguyên là mảnh đất có truyền thống văn hóa, văn học, có những điều kiện thuận lợi để nuôi dưỡng và phát triển văn học nói chung và thơ ca nói riêng Thơ Thái Nguyên thời kì hiện đại đã có một chặng đường lịch sử lâu dài với những tên tuổi như: Khánh Kiểm, Trần Văn Loa, Ma Trường Nguyên,

Trang 7

Nguyễn Thúy Quỳnh,Võ Sa Hà, Trần Thị Vân Trung, Ba Luận, Hồ Thủy Giang, Nguyễn Đức Hạnh… Sáng tác của các tác giả này cũng được quan tâm trong nhiều bài báo khoa học, là đối tượng nghiên cứu của nhiều luận văn, khóa luận tốt nghiệp Đại học, … Có thể nói, với những nghiên cứu đó, sáng tác của các nhà thơ Thái Nguyên tiêu biểu đã được tìm hiểu trên nhiều phương diện, từ nội dung đến hình thức nghệ thuật, từ ngôn ngữ, hình ảnh đến cấu trúc, nhịp điệu hay những sáng tạo mới mẻ và những nỗ lực cách tân nghệ thuật trong thơ Việc nghiên cứu về thơ Thái Nguyên đã và đang diễn ra không ngừng, đó vẫn là mảnh đất đầy tiềm năng cho những ai quan tâm và yêu mến thơ của các nhà thơ Thái Nguyên có thể tìm hiểu, khai thác để tìm ra những cái hay, cái mới, cái thú vị trong những sáng tác đầy tâm huyết của các nhà thơ trên mảnh đất này

2.2 Lịch sử nghiên cứu về thơ trẻ Thái Nguyên

Thơ trẻ là những nhà thơ thuộc thế hệ 8X 9X, họ trẻ về tuổi đời và cả tuổi làm thơ Họ mang sinh khí mới, diện mạo mới và đang là mối quan tâm của nhiều nhà phê bình Thơ trẻ Thái Nguyên là một bộ phận của thơ Thái Nguyên từ đầu thế kỉ XXI đến nay Tuy nhiên, những nghiên cứu về thơ trẻ Thái Nguyên còn rất khiêm tốn và chưa thực sự nhận được sự quan tâm sâu sắc của cả người đọc và giới nghiên cứu, trừ một số ít sáng tác đã đạt các giải thưởng trong các cuộc thi thơ trong những năm gần đây

Có thể nói, cho đến thờ i điểm hiê ̣n ta ̣i chưa có công trình nào nghiên

cứ u một cách công phu, có cái nhìn tổng quát, có hệ thống và chi tiết về thế giới nghệ thuật trong thơ trẻ Thái Nguyên Các tài liệu về thơ trẻ Thái Nguyên đến nay chủ yếu là những bài cảm nhận ngắn, những đoạn giới thiệu trên các trang mạng, các diễn đàn văn học của một số nhà phê bình và bạn bè của các tác giả Tiếng nói của thơ trẻ Thái Nguyên chủ yếu thông qua diễn đàn báo chí, mạng internet, những trao đổi tự bạch, hoặc đánh giá

về thế hệ mình thông qua tham luận tại các buổi gặp mă ̣t, hội nghị, hội thảo

về văn học

Trang 8

Nhìn chung, lịch sử vấn đề nghiên cứu về các cây bút trẻ Thái Nguyên

còn là khoảng trống ít người đă ̣t chân đến Chúng tôi hiểu rằng, điều đó vừa là thuận lợi nhưng đồ ng thờ i cũng là thách thức không nhỏ trong quá trình thực hiện luận văn Vớ i tinh thần làm việc nghiêm túc và sự cố gắng trong quá trình nghiên cứ u, chúng tôi hi vọng luận văn sẽ góp thêm cái nhìn đầy đủ, toàn diê ̣n hơn trong công tác nghiên cứu, đánh giá và phê bình các cây bút trẻ hiê ̣n nay Đồ ng thời chúng tôi cũng mong muốn, khi hoàn thành luâ ̣n văn sẽ là mô ̣t trong những công trình giới thiệu thơ trẻ Thái Nguyên đến với bạn đọc gần, xa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Toàn bộ thơ trẻ của Thái Nguyên từ đầu thế kỉ XXI đến nay Tập trung vào nghiên cứu một số sáng tác của các tác trẻ tiêu biểu như: Dương Thu Hằng, Phạm Văn Vũ, Vũ Thị Tú Anh, Nguyễn Nhật Huy, Trần Thị Nhung, Doãn Long, Hoàng Thị Hiền, Gia Hân…

Phân tích một số tác phẩm thơ của các tác giả thuộc các thế hệ nhà thơ Thái Nguyên để đối chiếu, so sánh… và chỉ ra sư ̣ tương đồ ng và khác biê ̣t, từ

đó có những nhận xét, đánh giá về thế giới nghệ thuật trong sáng tác của một

số tác giả trẻ Thái Nguyên tiêu biểu

Luận văn này nghiên cứ u các sáng tác của một số tác giả thơ trẻ Thái Nguyên từ năm 2000 đến nay Đi sâu nghiên cứu thơ của một số tác giả trẻ tiêu biểu như:

Trang 9

Dương Thu Hằng thể hiện qua tập thơ: Men đầu (2000), Đón lá (2005)

Phạm Văn Vũ thể hiện qua hai tâ ̣p thơ: Trong nỗi nhớ màu chàm

Nguyễn Nhật Huy thể hiê ̣n qua: Tuyển tập thơ Thái Nguyên (2006 -

tạp chí

Ngoài ra luận văn còn tìm hiểu thơ của các tác giả trẻ Thái Nguyên như

Vũ Thị Tú Anh, Trần Thị Nhung, Doãn Long, Hoàng Thị Hiền, Gia Hân… đã công bố trên các sách, báo, tạp chí của trung ương và địa phương

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những vấn đề chung có liên quan tới thế giới nghệ thuật như khái niệm Thế giới nghệ thuật, nghệ thuật thể hiện cái Tôi trữ tình; về ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ,…

- Tìm hiểu và phân tích một số đặc điểm cơ bản của thế giới nghệ thuật trong thơ trẻ Thái Nguyên như: đặc điểm về cảm hứng và cái tôi trữ tình, đặc điểm về ngôn ngữ, không gian, thời gian nghệ thuật

6 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp thống kê khảo sát: Trong quá trình triển khai luận văn,

chúng tôi tiến hành thố ng kê, khảo sát trên các phương diện của thế giới nghệ thuật để từ đó làm cơ sở cho việc so sánh, đối chiếu và đưa ra nhận xét

- Phương pháp so sánh đối chiếu: Trên cơ sở kết quả của phương pháp

thống kê khảo sát, chúng tôi tiến hành so sánh đố i chiếu trên nhiều phương diện của thế giới nghệ thuật từ hình tượng nghệ thuật, cái tôi trữ tình, ngôn ngữ, hình ảnh, cấu trúc, nhịp điệu thơ giữa các sáng tác của cùng một tác giả, giữa sáng tác của tác giả này với tác giả khác, giữa những tác phẩm

̣ tương đồ ng và khác biê ̣t, từ đó có những

Trang 10

nhận xét, đánh giá về thế giới nghệ thuật trong sáng tác của một số nhà thơ trẻ Thái Nguyên tiêu biểu

- Phương pháp hệ thống: Chúng tôi quan niệm sáng tác của mỗi nhà thơ

là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn Vì vậy, song song với việc thống kê, khảo sát và so sánh, đối chiếu; chúng tôi cũng nhìn nhận thế giới nghê ̣ thuâ ̣t trong mối quan hệ hệ thống với các phương diện khác của tác phẩm để có được cái nhìn đầy đủ và toàn diện

Ngoài ra, luâ ̣n văn của chúng tôi còn sử du ̣ng các phương pháp nghiên

́ u khác như: phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích

tổng hợp tác phẩm…

7 Đóng góp mới của luận văn

Trong phạm vi luâ ̣n văn, chúng tôi cố gắng chỉ ra những nét nổi bật trong thế giớ i nghê ̣ thuâ ̣t trong thơ của các tác giả trẻ Thái Nguyên Tính tới thời điểm hiện ta ̣i, luận văn này là một trong những công trình đầu tiên tìm hiểu về thế giớ i nghệ thuật trong thơ của các tác giả trẻ Thái Nguyên Từ đó góp phần khẳng định cá tính sáng tạo độc đáo và đóng góp của các tác giả trẻ với nền văn

học Thái Nguyên nói riêng và với thơ hiê ̣n đa ̣i Việt Nam nói chung

Qua luận văn, chúng tôi mong muốn góp thêm cái nhìn đầy đủ, toàn diê ̣n hơn trong công tác nghiên cứu, đánh giá và phê bình đối với các cây bút trẻ hiện nay

8 Cấu trúc của luận văn

Luận văn của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về thế giới nghệ thuật trong thơ nói chung và thơ trẻ Thái Nguyên nói riêng

Chương 2: Đặc điểm về cảm hứng và cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Thái Nguyên

Chương 3: Đặc điểm về ngôn ngữ, không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ trẻ Thái Nguyên

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NÓI CHUNG VÀ THƠ TRẺ THÁI NGUYÊN NÓI RIÊNG

1.1 Thế giới nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm

Nghệ thuật là một sản phẩm thẩm mĩ độc đáo phản ánh ý thức xã hội, đồng thời là sự bày tỏ thái độ của người sáng tạo trước đời sống hiện thực, thế giới thực tại Tuy nhiên, đó lại là một sản phẩm được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp và hướng đến khát vọng chân, thiện, mĩ nên thế giới trong tác phẩm nghệ thuật không đơn thuần là sự phản ánh thế giới hiện thực mà là một thế giới được sáng tạo theo những nguyên tắc riêng

Thế giới nghệ thuật là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong sáng tạo nghệ thuật Nói đến tác phẩm nghệ thuật không thể không nói đến thế giới nghệ thuật được thể hiện trong tác phẩm đó Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thế giới nghệ thuật ở những phạm vi rộng, hẹp khác nhau của nội hàm khái niệm Chúng tôi có thể điểm lại một số định nghĩa tiêu biểu

Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa thế giới nghệ thuật là “khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng, chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [27, tr.302-303]

Trang 12

Trong cuốn Lí luận văn học tập 2 (Trần Đình Sử chủ biên), khẳng định:

“Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn Thế giới này chỉ có trong tác phẩm và trong tưởng tượng nghệ thuật… Thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mỹ, thế giới tinh thần của con người” [53, tr.81-

82] Rõ ràng, thế giới nghệ thuật là một thế giới đặc biệt, nó có thể phản ánh hiện thực nhưng không phải là thế giới hiện thực, nó là thế giới tồn tại trong mỗi tác phẩm văn học Khi đọc một tác phẩm văn học cũng là bước vào một thế giới nghệ thuật mà nhà văn, nhà thơ đã xây dựng, trong đó chưa đựng bao buồn vui, bao tâm tư, bao suy ngẫm, bao cảm xúc sống động Chính vì thế giới nghệ thuật là linh hồn, là bầu khí quyển bao trùm, là không gian cho mọi sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ nên khám phá thế giới nghệ thuật trong tác phẩm cũng là tìm hiểu những quan niệm của tác giả về thế giới, về cuộc đời, khám phá chiều sâu trong tâm hồn người nghệ sĩ Khám phá thế giới nghệ thuật trong tác phẩm còn mở ra vô vàn điều thú vị về nhà thơ và phong cách nghệ

thuật của nhà thơ đó Có thể nói, “Một thế giới nghệ thuật nhất định với tư cách là hệ thống không chỉ đặc trưng cho tác phẩm đó, mà còn đặc trưng cho

cả nhà văn nói chung… Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật” [53, tr.83]

Từ những định nghĩa trên có thể thấy rằng, thế giới nghệ thuật là một phạm trù rất quan trọng của sáng tạo nghệ thuật Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những nghiên cứu đã có, để tiện cho quá trình nghiên cứu, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đưa ra cách hiểu của mình thế giới nghệ thuật như sau:

Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học là thế giới được xây dựng trên những nguyên tắc tư tưởng, thẩm mĩ nhất định Nó là một chỉnh thể của

Trang 13

sáng tạo nghệ thuật, phản ánh những quan niệm của người nghệ sĩ về thế giới, đồng thời thể hiện chiều sâu cảm xúc trong tâm hồn người viết Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật, bao gồm những thành tố được cấu trúc theo những quy tắc thống nhất, là thế giới xuất hiện một cách ước lệ trong tác phẩm nghệ thuật

Thơ trữ tình là thể loại văn học bộc lộ trực tiếp thế giới cảm xúc với những trạng thái tình cảm, những suy tư, nỗi niềm trăn trở của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước những vấn đề, các hiện tượng trong cuộc sống Thơ là tiếng hát của tâm hồn, nơi phản ánh những biểu hiện phức tạp và sâu sắc trong thế giới nội tâm của người nghệ sĩ Chính vì vậy, thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình vừa mang những đặc điểm chung của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói chung, vừa có những đặc điểm riêng biệt Đó là kết quả của quá trình “nội cảm hóa thế giới khách quan”, khi người nghệ sĩ biến những cảm xúc, tình cảm thẩm mĩ, cách khám phá và cắt nghĩa thế giới khách quan phản ánh vào các hình tượng nghệ thuật, các phương diện của thế giới nghệ thuật

Có thể nói, thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình là sự thống nhất giữa các yếu tố là kết quả của quá trình tư duy đặc biệt đó Mặc dù thế giới nghệ thuật bao gồm rất nhiều phương diện nhưng trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ trẻ Thái Nguyên tiêu biểu trên các phương diện tiêu biểu là sự biểu hiện của thế giới nghệ thuật trong việc phản ánh cuộc sống xã hội đa chiều, sự biểu hiện của thế giới nghệ thuật trong việc đi sâu vào cái tôi cá nhân con người và sự biểu hiện của thế giới nghệ thuật qua ngôn ngữ, không gian, thời gian nghệ thuật

1.1.2 Nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Thái Nguyên thế kỉ XXI

1.1.2.1 Khái niệm cái tôi trữ tình

Cái tôi là sự khẳng định bản thân, khẳng định cá tính, bản chất vốn có của mỗi con người Đó là khái niệm đánh dấu ý thức của con người về bản thể

tồn tại của chính mình Trong cuốn Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện

Trang 14

đại, Hà Minh Đức khẳng định: “Sáng tác thơ ca là một nhu cầu tự biểu hiện, một sự thôi thúc tự bên trong nhiều khi mãnh liệt, dồn dập do sự tác động của đời sống gây nên Trong thơ, vấn đề chủ thể, cái tôi trữ tình có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng” [21, tr 61] Cái tôi trữ tình trong thơ là sự thể hiện một cách

nhận thức, sự cảm nhận về thế giới thông qua các hình tượng của cái tôi trữ tình trong tác phẩm Qua hình tượng cái tôi trữ tình, một thế giới độc đáo qua cảm nhận của nhà thơ được gửi đến người đọc

Từ cái tôi của nhà thơ đến cái tôi trữ tình trong tác phẩm thơ ca là một quá trình Những cung bậc cảm xúc được thể hiện trong thơ vừa gắn liền với hiện thực đời sống, nhưng sâu xa hơn là tiếng nói của chính trái tim và tâm hồn

người nghệ sĩ “Sự thống nhất giữa cuộc đời nhà thơ với cái tôi trữ tình trong sáng tác là một hiện tượng khá phổ biến với thơ… Tuy nhiên một vấn đề quan trọng cần quan tâm là không thể đồng nhất cái tôi của nhà thơ trong đời sống với cái tôi trữ tình trong tác phẩm” [21, tr.64–65] Mặc dù không đồng nhất

nhưng cái tôi nhà thơ thống nhất với cái tôi trữ tình trong tác phẩm Bởi lẽ, từ cái tôi nhà thơ đến cái tôi trữ tình trong tác phẩm về căn bản vẫn là con người

ấy, tâm hồn ấy; có thể ở từng giai đoạn, từng thời điểm khác nhau trong hành trình sáng tác, cái tôi trữ tình được biểu hiện dưới những hình thức khác nhau nhưng vẫn là sự thống nhất trong một chủ thể sáng tạo Và chính nhà thơ – con người ấy, tâm hồn ấy – là cơ sở sáng tạo của thơ ca

Khi đi vào tác phẩm, từ cái tôi của nhà thơ đến cái tôi trữ tình là một quá trình nâng cao hơn, qua trái tim đầy suy tư và trăn trở của nhà thơ để biểu hiện dưới những hình thức phong phú, mang chiều sâu trong tác phẩm Cái tôi trữ tình có liên hệ chặt chẽ với cái tôi nhà thơ, nhưng từ cái tôi nhà thơ đến cái tôi trữ tình trong tác phẩm là cả một quá trình với sự chi phối của nhiều yếu tố Cái tôi trữ tình trong thơ nhiều khi vượt ra khỏi cái tôi của nhà thơ, thậm chí có một đời sống riêng độc lập tương đối với chủ thể sáng tạo nghệ thuật sản sinh ra nó

Trang 15

Trong sáng tác của các nhà thơ trẻ Thái Nguyên tiêu biểu như Phạm Văn

Vũ, Dương Thu Hằng, Vũ Thị Tú Anh, Nguyễn Nhật Huy, Trần Thị Nhung, Doãn Long, Hoàng Thị Hiền… mỗi nhà thơ lựa chọn cho mình một hướng đi riêng, một cách thể hiện cá tính và cái tôi trữ tình độc đáo trong thơ

1.1.2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ nói chung

Sáng tác thơ ca trước hết là một nhu cầu tự biểu hiện, một sự thôi thúc mãnh liệt từ bên trong khiến mọi cảm xúc bộc lộ thành ý thơ Cái tôi trữ tình là một vấn đề quan trọng trong thơ ca Cái tôi trữ tình của mỗi nhà thơ có sự gắn

bó mật thiết với cuộc đời tác giả: “Những cung bậc tình cảm của nhà thơ dù là một niềm vui hồ hởi hay một nỗi buồn sâu lắng thiết tha, dù kéo dài triền miên trĩu nặng tâm hồn hay thoáng qua trong giây lát đều gắn liền với một cái gì của đời sống bên ngoài, nhưng sâu xa hơn là tiếng nói thầm kín của trái tim và tâm hồn người nghệ sĩ” [21, tr.62] Có thể nói, giữa cuộc đời riêng của mỗi nhà

thơ và sáng tác thơ ca có mối quan hệ gắn bó sâu sắc Thơ là nơi in đậm dấu ấn cảm xúc, dấu ấn từ cuộc đời riêng của mỗi nhà thơ trong sáng tác

Cái tôi trữ tình trong thơ có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có khi trực tiếp, có khi gián tiếp Cái tôi nhà thơ khi thể hiện những tình cảm riêng tư hay những câu chuyện, những sự việc gắn với cuộc đời riêng của nhà thơ là cái tôi trữ tình được bộc lộ dưới hình thức trực tiếp Cuộc đời thực tế của nhà thơ trở thành chất liệu cho cuộc sống được miêu tả trong thơ, cái tôi trữ tình của nhà thơ cũng gần gũi hoặc nhiều khi chính là cái tôi trữ tình của tác giả Trong những trường hợp ấy, cái tôi trữ tình thường được bộc lộ qua chữ

“tôi” hoặc chữ “ta”

Cái tôi trữ tình trực tiếp rất phổ biến trong thơ, vì thơ trước hết là một hình thức tự biểu hiện Nhà thơ sáng tác không phải nói những vấn đề xa xôi,

mà muốn hướng ngòi bút của mình về những điều đang diễn ra trong cuộc sống của chính mình, từ đó thể hiện thái độ, quan niệm, cách nhìn nhận của mình riêng về cuộc sống Khi nhà thơ cảm nhận về chính mình, về cuộc sống của

Trang 16

chính mình, về những điều riêng tư của bản thân là khi cái tôi trữ tình trực tiếp được sử dụng đắc lực để bộc lộ những điều về chính bản thân tác giả

Bên cạnh hình thức biểu hiện trực tiếp, cái tôi trữ tình trong thơ nhiều khi cũng được thể hiện dưới hình thức gián tiếp Trong trường hợp những hoàn cảnh, những sự việc trong thơ không phải cảnh ngộ của cuộc đời tác giả, cái tôi trữ tình thường được bộc lộ dưới hình thức gián tiếp Khi đó, nhà thơ không miêu tả, thể hiện cuộc sống của chính mình mà nói lên cảm nhận, suy nghĩ về những điều từng chứng kiến hoặc từng trải qua Trong những hoàn cảnh đó, cái tôi trữ tình thường là nhân vật trữ tình chủ yếu trong bài thơ Ngoài ra, cái tôi trữ tình của nhà thơ còn được thể hiện khi nhà thơ miêu tả về một loại, một kiểu nhân vật cụ thể (chẳng hạn như bà mẹ kháng chiến, anh bộ đội cụ Hồ…) Những nhân vật này xuất phát từ những điển hình, từ những nguyên mẫu trong thực tế, họ tiêu biểu cho một kiểu nhân vật điển hình là sản phẩm của một giai

đoạn lịch sử - xã hội nhất định Ở kiểu sáng tác đó, “nhân vật trữ tình của sáng tác tồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ” [21, tr.74]

Có thể nói, dù biểu hiện dưới hình thức nào thì cái tôi trữ tình cũng là nhân vật trữ tình quan trọng trong thơ Cái tôi trữ tình là một phương diện quan trọng, là một đặc trưng không thể thiếu của thơ ca Trong thơ của các nhà thơ trẻ Thái Nguyên, mỗi nhà thơ lựa chọn cho mình những dạng thức phù hợp để thể hiện cái tôi trữ tình trong sáng tác, đó có thể là cái tôi trong trẻo, hồn nhiên;

có khi lại là cái tôi cô đơn, nhỏ bé; đôi khi lại lắng đọng với những suy tư, trăn trở và đặc biệt luôn nỗ lực trên hành trình tự ý thức, tự hoàn thiện mình Nghiên cứu sáng tác của các nhà thơ trẻ Thái Nguyên tiêu biểu sẽ làm rõ hơn những dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ

1.2 Vài nét khái quát về thơ Thái Nguyên và thơ trẻ Thái Nguyên đầu thế

kỉ XXI

1.2.1 Khái quát thơ Thái Nguyên

Đầu thế kỉ XXI là giai đoạn đánh dấu sự thay da đổi thịt của mảnh đất Thái Nguyên Cùng với sự chuyển mình của đời sống xã hội, đời sống văn học,

Trang 17

thơ ca cũng có những đổi thay đáng kể Trước hết, sự lớn mạnh của thơ ca Thái Nguyên được thể hiện ở một đội ngũ sáng tác đông đảo Nhiều nhà thơ Thái Nguyên là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, có những tác phẩm tạo được tiếng vang như Trần Thị Vân Trung, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh… Đặc biệt, hai nhà thơ nữ Thái Nguyên là Trần Thị Vân Trung và Nguyễn Thúy Quỳnh là hai

gương mặt nữ nhà thơ tiêu biểu trong cuốn “33 gương mặt thơ nữ tiêu biểu”

của tác giả Vũ Nho Bên cạnh đó, thơ Thái Nguyên còn đạt được nhiều thành tựu, nhiều giải thưởng như Giải nhì về thơ của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh (2004), Giải Ba về thơ của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho tác giả Võ Sa Hà (2004), Giải khuyến khích cuộc thi thơ trên báo Tài hoa trẻ của tác giả Phạm Văn Vũ (2005), Giải C Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam của tác giả Ma Trường Nguyên (2007), Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu và Võ Sa Hà đã được nhận giải thưởng về thơ của báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội Như vậy có thể nói, những nhà thơ đầu thế kỉ XXI đã góp phần khẳng định vị thế của thơ Thái Nguyên trong dòng chảy chung của thơ ca Việt Nam hiện đại

Bên cạnh những tác giả tiêu biểu với những giải thưởng khẳng định vị thế của thơ Thái Nguyên, sự phát triển và lớn mạnh của thơ ca trong đời sống

xã hội còn được khẳng định ở sự tham gia của đông đảo những người yêu thơ trong những chi hội thơ như: Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Thái Nguyên, Hội Văn học Nghệ thuật Định Hóa, Chi hội Văn học Nghệ thuật Phổ Yên, Chi hội Văn học Nghệ thuật Đại Từ , các Câu lạc bộ thơ như: Câu lạc bộ thơ Mùa thu, Câu lạc bộ thơ Tháng năm, Câu lạc bộ thơ Đường… và các nhóm bút trong các nhà trường phổ thông, đại học, cao đẳng… Điều đó góp phần tạo ra sức lan tỏa của thơ ca trong đời sống xã hội hiện đại Chính đội ngũ sáng tác đông đảo

ấy và sự lan tỏa của thơ ca vào từng ngóc ngách của đời sống là tiền đề cho sự phát triển của thơ Thái Nguyên hôm nay

Trang 18

Thái Nguyên là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, văn học, là cửa ngõ giao lưu giữa miền núi và đồng bằng nên có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thơ ca Hơn thế nữa, các nhà thơ Thái Nguyên đa phần là những trí thức, nhà giáo, nhà báo… nên có điều kiện nghiên cứu, sáng tác văn chương nghệ thuật Cùng với niềm đam mê nghệ thuật, vốn tri thức, vốn văn hóa, mỗi nhà thơ Thái Nguyên là những con người luôn nỗ lực hết mình trên hành trình sáng tạo không ngừng để khẳng định vị thế của thơ ca Thái Nguyên hôm nay

1.2.2 Khái quát thơ trẻ Thái Nguyên

1.2.2.1 Khái niệm thơ trẻ

Nói về thơ trẻ Thái Nguyên, trước hết cần xác định phạm vi của khái niệm Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm thơ trẻ là thơ của những tác giả thuộc thế hệ 8X, 9X, họ trẻ về tuổi đời và cả tuổi làm thơ Đó là những con người mang sinh khí mới, là mối quan tâm của nhiều nhà phê bình

Bên cạnh đó, còn có những người viết trẻ về tuổi nghề nhưng không còn trẻ về tuổi đời như Phan Thái, Dương Văn Mưu, Dương Văn Oanh… Ở giai đoạn hiện nay, thơ trẻ Thái Nguyên phát triển sôi nổi và có nhiều thành tựu hơn

cả so với văn xuôi với một lực lượng sáng tác rất đông đảo Trong luận văn này, chúng tôi điểm qua một số cây bút trẻ Thái Nguyên tiêu biểu, có nhiều sáng tác khẳng định được vị trí của mình trong nền thơ ca Thái Nguyên đương đại như: Dương Thu Hằng, Vũ Thị Tú Anh, Phạm Văn Vũ, Nguyễn Nhật Huy, Doãn Long, Hoàng Thị Hiền, Trần Thị Nhung, Gia Hân…

1.2.2.2 Những mạch nguồn phát triển của thơ trẻ Thái Nguyên

Thái Nguyên được biết đến là nơi phát hiện những dấu tích từ rất sớm của người Việt cổ, đồng thời cũng là mảnh đất có vị trí địa lý là cửa ngõ giao lưu của nhiều nền văn hóa Văn học đương đại nói chung và thơ ca đương đại nói riêng đều được nuôi dưỡng từ nguồn mạch chung của văn học dân gian Lịch sử lâu đời cùng bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa là điều kiện nuôi dưỡng và thúc đẩy sự ra đời, phát triển của văn học Quá trình giao thoa văn

Trang 19

hóa giữa các dân tộc cùng sinh sống trong một phạm vi địa lý đã tổng hòa thành đời sống văn hóa, văn học dân gian của một địa phương Đồng thời, vốn văn hóa, văn học dân gian ấy cũng chịu sự chi phối của những điều kiện địa lý

tự nhiên, lịch sử, xã hội trong quá trình giao thoa, hòa nhập để trở nên phong phú về nội dung, bền vững về phong cách, đa dạng về sắc thái

Văn học Thái Nguyên vừa mang sự pha trộn trong quá trình giao lưu văn hóa, vừa mang nét bản sắc đặc trưng của địa lý tự nhiên và đời sống cộng đồng của dân cư Thái Nguyên, là sự thống nhất trong đa dạng Có thể nói, sự phát triển nói chung của văn học Thái Nguyên đương đại được nuôi dưỡng từ mạch nguồn văn học dân gian của các dân tộc nơi đây Những bài hát Sli, Lượn; những câu ca dao mượt mà, đằm thắm; những câu tục ngữ, các bài hát mo là những hình thức sinh hoạt dân gian còn lưu giữ đến ngày nay có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của thơ ca Thái Nguyên Văn học dân gian

là nơi hội tụ những giá trị văn hóa tinh thần, tình cảm, trí tuệ trong cộng đồng các dân tộc anh em cùng nhau sinh sống trên địa bàn Thái Nguyên; là cội nguồn, là nền tảng cho sự phát triển của thơ ca Thái Nguyên đương đại nói chung và thơ trẻ Thái Nguyên nói riêng

Cùng với quá trình phát triển lịch sử của văn học Việt Nam đương đại nói chung, văn học Thái Nguyên, thơ ca Thái Nguyên cũng có quá trình phát triển gắn liền với từng bước đi của lịch sử dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, hòa chung nhịp đập với thơ ca của các nhà thơ dân tộc thiểu số vùng chiến khu cách mạng Việt Bắc, các nhà thơ Thái Nguyên đã có những sáng tác bằng tiếng dân tộc (Tày, Nùng…) góp thêm màu sắc đa dạng cho văn nghệ kháng chiến, đồng thời cổ vũ tức thời tinh thần đấu tranh của đồng bào Việt Bắc trong kháng chiến

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, để kịp thời động viên phong trào cách mạng của quân và dân các dân tộc Việt Bắc trong kháng chiến, ngày 19/8/1946, Báo Chiến khu thuộc Chiến khu I – tiền thân của Báo Quân

Trang 20

khu I ngày nay phát hành số đầu tiên Báo Chiến khu thời kì đó luôn bám sát

các chỉ thị, chủ trương, nghị quyết của cấp trên, phản ánh kịp thời các hoạt động và phong trào thi đua quyết thắng địa phương, hướng đến mục tiêu chung

là cổ vũ cách mạng, cổ vũ kháng chiến giành thắng lợi: “Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, mỗi phóng viên, biên tập viên, công nhân viên Tòa soạn đều hành động quên mình dưới bom rơi, đạn nổ để có những bài phóng sự, ghi nhanh, tin tức nóng hổi từ mặt trận gửi về, từ hậu phương gửi ra tiền tuyến” [65] Tờ báo Quân khu I là nơi góp phần tạo nên những tên tuổi như:

Đặng Vương Hưng, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Anh Nông…

Sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, để phù hợp với

điều kiện cách mạng trong tình hình mới, Trung ương Đảng và Bác Hồ rời thủ

đô Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc Thái Nguyên được chọn làm trung tâm kháng chiến, thủ đô cách mạng của cả vùng Việt Bắc Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), Thái Nguyên cũng như nhiều tỉnh thuộc

an toàn khu Việt Bắc đã trở thành cái nôi của văn chương cách mạng, văn học kháng chiến Đến những năm 1949 – 1950, Hội Văn nghệ Việt Nam và Báo Văn nghệ đặt trụ sở tại xóm Chòi, xã Mỹ Trạng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Mặc dù chỉ trong một thời gian ngắn nhưng có thể nói, đây là cái nôi văn nghệ trong kháng chiến, một mảnh đất gắn liền với lịch sử cách mạng của dân tộc, đồng thời in dấu lịch sử báo chí, văn chương nghệ thuật Việt Nam trong kháng chiến Trong bối cảnh đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Pháp, văn nghệ sĩ không chỉ là người cầm bút mà đồng thời cũng là những chiến sĩ tham gia chiến đấu trên chiến trường ác liệt Đó là những năm tháng không thể nào quên trong lịch sử dân tộc, cũng là điều kiện cho sự bồi dưỡng, phát triển, nuôi dưỡng mầm sống, cũng là nơi khởi sinh những truyền thống và di sản văn chương đồ sộ, hào hùng thời chiến của văn học nghệ thuật Thái Nguyên nói riêng và văn học Việt Nam trong kháng chiến nói chung

Trang 21

Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thành công, Trung ương Đảng và Bác Hồ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Đến năm 1957, Hội Văn nghệ Việt Bắc được thành lập ở thị xã Thái Nguyên Sự kiện này không chỉ có ý nghĩa đối với văn học Thái Nguyên nói riêng mà đã tạo nên một cuộc hội tụ, giao lưu giữa các nhà thơ ở sáu tỉnh Việt Bắc đã từng sát cánh trong kháng chiến chống Pháp Trụ sở của Hội Văn nghệ Việt Bắc được đặt ở chính thủ đô gió ngàn, thủ

đô kháng chiến Thái Nguyên Không chỉ là trung tâm của các tỉnh miền núi phía Bắc, Thái Nguyên còn là trung tâm văn hóa, văn nghệ của cả chiến khi Việt Bắc nói chung Hội Văn nghệ Thái Nguyên là một tổ chức văn học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với văn học các tỉnh miền núi phía Bắc Có thể kể đến những tên tuổi tiêu biểu như các tác giả dân tộc thiểu số: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn… Có thể nói, những tác giả người dân tộc thiểu số trong giai đoạn này cũng là những tên tuổi đầu tiên làm nên nền văn học chiến khu Việt Bắc và văn học Thái Nguyên sau này Sự thành lập của Hội Văn nghệ Việt Bắc đã tạo điều kiện cho nền văn học của các dân tộc Việt Bắc, trong

đó có Thái Nguyên, có điều kiện phát triển mạnh mẽ Có thể kể đến những

sáng tác tiêu biểu như: Tiếng ca người Việt Bắc của nhà thơ dân tộc Tày Nông Quốc Chấn, Muối của Cụ Hồ, Xuân về trên núi của nhà thơ người Dao

Bàn Tài Đoàn… đều ra đời trong giai đoạn này Sự thành lập của Hội Văn nghệ Việt Bắc có trụ sở ở Thái Nguyên là điều kiện thuận lợi cho văn học Thái Nguyên có sự giao lưu giữa các dân tộc, các vùng miền, là tiền đề quan trọng tạo nên tính đa dạng nhưng vẫn thống nhất của văn học trên quê hương cách mạng anh hùng

Khi đất nước một lần nữa chìm trong bom đạn của cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân Thái Nguyên đem sức mình đóng góp vào cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và văn học Thái Nguyên cũng không nằm ngoài dòng mạch chung của văn học kháng chiến giai đoạn này Những tác phẩm văn học giai đoạn này mang hơi thở của thời đại, cổ vũ cho sự nghiệp

Trang 22

đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương Có thể kể đến những sáng

tác tiêu biểu của văn học kháng chiến giai đoạn này như: Trận địa giữa ruộng bậc thang (Nông Minh Châu); Suối gang; Lên cao (Xuân Cang); Người chia ánh sáng (Vi Hồng); Suối Lê Nin (Trần Văn Loa); Gái Quan Lang (Lê Thoa)…

Nói đến văn học nghệ thuật Thái Nguyên không thể không nhắc đến văn nghệ khu gang thép một thời Ngày 20/12/1963, khu gang thép Thái Nguyên được khánh thành Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, khu gang thép Thái Nguyên ngày ấy, Công ty Cổ phần gang thép Thái Nguyên ngày nay đã phát triển, lớn mạnh Trong suốt chặng đường phát triển ấy, khu gang thép Thái Nguyên không chỉ khẳng định mình với “tinh thần thép” trong lao động, sản xuất mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa, văn nghệ, tạo nên một thời văn nghệ gang thép lừng danh với những tên tuổi như: Trịnh Thanh Sơn, Xuân Cang, Nguyễn Khắc Trường, Hoàng Đình Quang… Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh – Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Thái Nguyên, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam – nhân dịp kỷ niệm 50 năm xây dựng và phát triển của Công ty cổ phần gang thép Thái Nguyên đã nói về một lịch sử xây dựng, trưởng thành của công ty gắn liền với đời sống văn hóa, văn học luôn được quan tâm dù trong bất kì hoàn cảnh khó

khăn nào: “Nhưng có một điều thật lạ Công ty gang thép vẫn duy trì các hoạt động văn hóa nghệ thuật sinh động và sung mãn Vào thời đó mà Gang thép tổ chức được hẳn hai trại viết văn Những người viết như nhà văn Xuân Cang nhà văn Chu Hồng Hải nhà thơ Trịnh Thanh Sơn và các cây bút Ngô Khuyến Phong (Đội phòng cháy chữa cháy) Hồng Nguyên (Xưởng Vật Liệu chịu lửa) Phan Chừng (xưởng Xe máy) Đào Thành Lạng (Xưởng cơ khí) Trọng Thể (Xưởng Công trình I) Vũ Đảm (Xưởng Luyện gang) vẫn được triệu tập về dự trại viết Nhờ thế mà Khu Gang thép đã có được một tập truyện ngắn và một tập ký mang đầy không khí của Khu Gang thép Thái Nguyên lúc ấy” [48]

Chính sự quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần ấy đã làm nên sức mạnh của

Trang 23

khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên dù trong bất kì hoàn cảnh khó khăn nào, đồng thời tạo nên một phong trào văn hóa, văn nghệ có ảnh hưởng sâu rộng và những tên tuổi có nhiều thành tựu sáng tác được ghi nhận

Sau khi đất nước bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đến năm 1987, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên được thành lập đã tạo nên một dấu

ấn quan trọng, đánh dấu một bước ngoặt mới của thơ ca Thái Nguyên trong thời kì đổi mới Từ chỗ là trụ sở của Hội Văn nghệ Việt Bắc (năm 1957), cho đến nay, Thái Nguyên vẫn ghi dấu với những tác giả lớn có kinh nghiệm sáng tác dày dặn như: Khánh Kiểm, Trần Văn Loa, Ma Trường Nguyên, Thế Chính, Trần Thị Vân Trung, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh, Hiền Mặc Chất, Nguyễn Long, Nguyễn Đức Hạnh, Hữu Tiệp, Mai Thắng, Minh Hằng, Ba Luận, Vũ Đình Toàn… Trong thơ của mình, mỗi nhà thơ đều cố gắng tạo cho mình một phong cách nghệ thuật riêng, khẳng định cá tính sáng tạo và cái tôi riêng không hòa lẫn Những tên tuổi tiêu biểu của thơ ca Thái Nguyên không chỉ khẳng định được vị trí của mình trên chính quê hương Thái Nguyên mà còn được đón nhận, khẳng định mình trong sự phát triển chung của thơ ca Việt Nam đương đại

Bước sang thế kỷ XXI, với sự phát triển không ngừng của đất nước, trong bối cảnh quá trình hội nhập, giao lưu và phát triển, thơ ca Thái Nguyên cũng đạt được những thành công mới, đánh dấu vị trí của mình trong sự phát triển chung của thơ ca Việt Nam đương đại Thơ ca Thái Nguyên khẳng định vị trí của mình cả về số lượng và chất lượng, cả về lực lượng sáng tác và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Bên cạnh những tên tuổi có nhiều kinh nghiệm như Trần Thị Vân Trung, Võ Sa Hà, Ma Trường Nguyên, Nguyễn Thúy Quỳnh, Hoàng Tố Nga, Cao Hồng, Lưu Thị Bạch Liễu, Minh Thắng… một lực lượng đông đảo các tác giả đã xuất hiện từ cuối thế kỷ trước đang dần được khẳng định vị trí của mình ở đầu thế kỉ này như: Dương Thu Hằng, Phan Thái, Nguyễn Kiến Thọ, Hồ Triệu Sơn, Ngọ Quang Tôn… Ở giai đoạn văn học này, nếu như văn xuôi Thái Nguyên chỉ phát triển một cách bình lặng, không có

Trang 24

nhiều tên tuổi được chú ý như những giai đoạn trước cũng như không có những giải thưởng đánh dấu sự thành công của đội ngũ sáng tác thì thơ ca lại phát triển rất sôi nổi Những giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong các năm 2004 đến 2011 trao cho các

tập thơ Mưa mùa đông của Nguyễn Thúy Quỳnh, Cánh chim về núi của Võ

Sa Hà, Rét ngọt của Minh Thắng; Ba giải thưởng thơ của hai tờ báo lớn: Văn

nghệ Quân đội và Báo văn nghệ trao cho ba tác giả: Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu và Võ Sa Hà - đã khẳng định vị thế của thơ ca Thái Nguyên trong sự phát triển chung của thơ ca đương đại, đưa vị thế thơ của Thái Nguyên lên một tầm cao mới trong cả nước

Thái Nguyên là mảnh đất có truyền thống lịch sử, văn học từ rất sớm với trụ sở của Hội Văn nghệ Việt Bắc, từng là trụ sở của Hội Văn nghệ Việt Nam

và Báo Văn nghệ trong những năm 1949 – 1950, có khu gang thép Thái Nguyên với bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa văn nghệ sôi nổi, có tờ báo Quân khu I (Tiền thân là báo Chiến khu), có Hội Văn học Nghệ thuật Thái Nguyên luôn quan tâm bồi dưỡng, phát triển đội ngũ sáng tác của tỉnh nhà… Tất cả những điều kiện ấy tạo thuận lợi cho các nhà thơ, nhà văn Thái Nguyên

có cơ hội được tiếp xúc và thừa hưởng truyền thống văn hóa, văn học của địa phương làm nền tảng và mạch nguồn nuôi dưỡng tình yêu văn chương nghệ thuật trong thế hệ trẻ

Thái Nguyên là tỉnh có điều kiện địa lý thuận lợi, là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với vùng đồng bằng và thủ đô Hà Nội, là trung tâm vùng của các tỉnh trung du miền núi, đồng thời là khu vực đông dân cư, là trung tâm đào tạo, giáo dục lớn (đứng thứ ba cả nước

và thứ nhất ở khu vực miền núi phía Bắc) Ở Thái Nguyên, lực lượng trí thức chiếm một số lượng đông đảo và được tỉnh quan tâm, tạo điều kiện phát triển nên có ưu thế hơn so với các địa phương khác Chính những điều kiện đó đã giúp các nhà thơ trẻ Thái Nguyên có điều kiện tiếp xúc với một nền văn hóa,

Trang 25

giáo dục để phát triển bản thân và tạo thuận lợi cho quá trình bồi dưỡng, phát triển năng khiếu trong sáng tác văn chương nghệ thuật Hơn thế nữa, hầu hết các nhà thơ trẻ Thái Nguyên đều là nhà giáo nên có điều kiện, môi trường thuận lợi để tiếp xúc với giới sáng tác, phê bình, có điều kiện giao lưu học hỏi

và kế thừa kinh nghiệm của những người đi trước Lực lượng sáng tác trẻ của tỉnh Thái Nguyên luôn nhận được sự quan tâm của các cơ quan, đều được tham gia lớp tập huấn viết văn do Hội Văn nghệ tổ chức Bên cạnh đó, những người

có đam mê trong sáng tác văn học, những cây bút trẻ cũng được tham dự nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, nói chuyện với các nhà văn, nhà thơ lớn, qua đó có thêm kinh nghiệm trong sáng tác

Ngoài các nhà thơ với kinh nghiệm sáng tác đã đạt được những thành công góp phần khẳng định vị thế của thơ Thái Nguyên thì giai đoạn hiện nay, thơ Thái Nguyên còn ghi dấu với hàng loạt những tên tuổi trẻ như Dương Thu Hằng, Vũ Thị Tú Anh, Phạm Văn Vũ, Nguyễn Nhật Huy, Doãn Long, Trần Thị Nhung… với những cá tính riêng, những cách tân nghệ thuật độc đáo tạo nên những nét riêng biệt trong thơ Sự xuất hiện của đội ngũ các nhà thơ trẻ bên cạnh những nhà thơ cũ ghi dấu tên tuổi mình với nhiều phong cách nghệ thuật riêng, nhiều sáng tạo độc đáo với những tìm tòi trên hành trình sáng tạo nghệ thuật đã tạo cho thơ ca Thái Nguyên sự đa dạng, phong phú Trong sáng tác của các nhà thơ trẻ Việt Nam nói chung và thơ trẻ Thái Nguyên nói riêng, mỗi nhà thơ đều cố gắng xác lập cho mình một quan niệm nghệ thuật riêng biệt, độc

đáo, không trùng lặp: “Có nhà thơ còn quan niệm thơ hay phải là thơ không thể hiểu được Càng bí hiểm càng tốt Không ít bài thơ cứ như những câu đố không có lời giải Hỏi, tác giả cũng không biết gì hơn Ông bảo, nếu ông biết bài thơ nói gì thì ông đã nói toẹt ra rồi, còn làm thơ làm gì nữa Ngược lại, có nhà thơ lại tìm đến sự giản dị, khai thác những số phận riêng của mỗi con người Có bài thơ như truyện ngắn, hoặc như cả một cuốn tiểu thuyết, có cốt truyện, có nhân vật, có mở, có thắt” [30]

Trang 26

Thế kỉ XXI đánh dấu sự phát triển nổi bật của thơ Thái Nguyên nói chung và thơ trẻ Thái Nguyên nói riêng với những cây bút có ý thức tìm tòi và đổi mới thơ Có thể nói rằng, thơ Thái Nguyên thế kỉ XXI đã có sự thay đổi về chất Một số cây bút trẻ như Phạm Văn Vũ, Nguyễn Nhật Huy bước đầu được ghi nhận thành công qua các Giải thưởng thơ của Văn nghệ Quân đội và Báo Văn nghệ, giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam Họ đã và đang không ngừng cố gắng để khẳng định bản thân trong nền thơ ca của tỉnh nhà Để làm được điều đó, mỗi cây bút đều cố gắng lựa chọn cho mình một phong cách, một lối đi riêng, hướng ngòi bút của mình vào những biểu hiện muôn màu của cuộc sống hiện đại Có người lựa chọn khuynh hướng truyền thống, có người đi theo khuynh hướng cách tân nghệ thuật nhưng tất cả đều là những con người cần mẫn, nghiêm túc trong sáng tác

để khẳng định giá trị thực sự và vai trò quan trọng của văn chương nghệ thuật

Ngoài những thuận lợi về truyền thống lịch sử, văn hóa, văn nghệ, các nhà thơ trẻ Thái Nguyên đều là những trí thức, được trang bị những kiến thức

và kinh nghiệm liên quan tới sáng tác Nhiều người trong đó sớm được tiếp xúc với môi trường văn chương, môi trường sáng tác Sự phát triển của đội ngũ đông đảo các nhà thơ trẻ Thái Nguyên còn phải kể đến sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, báo Thái Nguyên… có kế hoạch bồi dưỡng để các cây bút trẻ từng bước trưởng thành trong sáng tác Những điều kiện đó đã tạo thuận lợi cho văn học Thái Nguyên nói chung, các nhà thơ trẻ Thái Nguyên nói riêng có điều kiện để phát triển và hoàn thiện, từng bước khẳng định vị thế của mình và vị thế của thơ ca Thái Nguyên trong sự phát triển chung của thơ ca Việt Nam

1.2.2.3 Quá trình vận động và phát triển của thơ trẻ Thái Nguyên

Thái Nguyên - mảnh đất giao lưu của nhiều nền văn hóa đã trở thành nơi hội tụ của những giá trị văn hóa, văn học Văn học Thái Nguyên hôm nay là một quá phát triển lâu dài, vừa chọn lọc, vừa kế thừa và sáng tạo, trong đó

Trang 27

không thể không kể đến những đóng góp quan trọng của lực lượng sáng tác là những nhà thơ trẻ Thái Nguyên

Trong sự phát triển chung của thơ ca Việt Nam đương đại, thơ Thái Nguyên cũng không nằm ngoài quy luật phát triển chung Về hình thức và khuynh hướng sáng tác, thơ ca Thái Nguyên nói chung, thơ trẻ Thái Nguyên nói riêng chủ yếu sáng tác theo hai khuynh hướng: khuynh hướng trung thành với thơ truyền thống và khuynh hướng cách tân nghệ thuật trong thơ Thơ Thái Nguyên không có những tác giả sáng tác theo khuynh hướng nổi loạn Những tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng truyền thống có thể kể đến như Doãn Long, Phan Thái Những tác giả đi theo khuynh hướng cách tân nghệ thuật có số lượng đông đảo hơn với những tên tuổi tiêu biểu như Phạm Văn Vũ, Nguyễn Nhật Huy, Trần Thị Nhung, Gia Hân, Hoàng Thị Hiền… Đây cũng là khuynh hướng sáng tác có những cây bút gặt hái được nhiều thành công và khẳng định

vị trí của mình trong nền thơ trẻ Thái Nguyên nói riêng và thơ trẻ Việt Nam đương đại nói chung

Nhìn chung, thơ trẻ Thái Nguyên đã bước đầu bắt kịp sự phát triển của nền thơ trẻ toàn quốc, có những tác giả với những sáng tác được đánh giá cao qua các cuộc thi, các giải thưởng văn học trong cả nước Tiêu biểu cho những thành tựu của thơ trẻ Thái Nguyên có thể kể đến hai gương mặt: Phạm Văn Vũ

là Nguyễn Nhật Huy Họ đều là những người đến với văn chương nghệ thuật từ rất sớm và sớm khẳng định được bản thân với phong cách sáng tác riêng qua những tập thơ chủ yếu theo khuynh hướng tìm tòi, cách tân nghệ thuật mới mẻ Bên cạnh hai gương mặt tiêu biểu trên, thơ trẻ Thái Nguyên có một đội ngũ sáng tác đông đảo vẫn luôn say sưa, cần mẫn, đam mê trong sáng tạo văn chương nghệ thuật, luôn cố gắng tìm tòi những cái hay, cái mới trên hành trình đổi mới và phát triển của thơ Thái Nguyên nói riêng và nền thơ ca nước nhà nói chung Hầu hết những nhà thơ trẻ đều là những trí thức, những nhà giáo, nhà báo, thiết nghĩ, đó là là lực lượng sáng tác quan trọng, là đội ngũ

Trang 28

nuôi dưỡng và vun đắp tình yêu văn chương trong thế hệ trẻ Thái Nguyên hôm nay

Có thể nói, chưa có giai đoạn nào, thơ ca lại xác lập cho mình diện mạo phong phú, đa dạng với nhiều phong cách, nhiều xu hướng, nhiều giọng điệu riêng biệt như giai đoạn hiện nay Thơ trẻ Thái Nguyên thực sự trở thành một

bộ phận trong nền thơ ca Thái Nguyên có lẽ bắt đầu từ năm 2000 đến nay Trước đó, thơ Thái Nguyên ghi nhận một vài gương mặt thơ trẻ như Dương Thu Hằng, Vũ Thị Tú Anh và Phạm Văn Vũ

Tác giả trẻ Dương Thu Hằng có tác phẩm đăng báo từ khi còn rất trẻ

với 2 tập thơ: Men đầu (2000), Đón lá (2004) Bên cạnh đó chị đã xuất bản 2 tập truyện ngắn Ngày cho em (2002), Lá thư không gửi (2003), đến nay chị đã

có hàng trăm bài thơ, truyện ngắn được đăng tải với một số giải thưởng văn học như: Giải ba Hương đầu mùa báo Hoa học trò năm 1993 - 1994, Giải thưởng Văn học tuổi xanh (1994), Tặng thưởng tác phẩm Văn học tuổi xanh báo Tiền phong (1997), Giải thưởng Truyện ngắn báo Gia đình và Trẻ em (2004),… Thơ chị không cầu kỳ, gọt giũa mà có sự trong trẻo, tinh khôi của tuổi trẻ nhưng không kém phần sâu sắc và nhạy cảm

Thơ Vũ Thị Tú Anh khá thông minh, sâu sắc và có phần tinh nghịch Song chị viết ít, thi thoảng độc giả mới bắt gặp một vài bài thơ của chị trên các trang báo Thái Nguyên

Đại diện cho thơ trẻ Thái Nguyên trước năm 2010 nổi bật hơn cả đó là Phạm Văn Vũ Anh sinh năm 1984, là người dân tộc Tày, quê ở Định Hóa, Thái Nguyên Phạm Văn Vũ đã từng dạy học tại huyện Định Hóa và hiện làm việc tại Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên

Phạm Văn Vũ là người có niềm đam mê đối với văn chương, anh theo học tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và trở thành hội viên trẻ nhất của Hội Văn học nghệ thuật Thái Nguyên khi là sinh viên năm thứ hai của Khoa Ngữ văn Là cây bút sớm có tình yêu và bén duyên với văn chương nghệ thuật,

Trang 29

Phạm Văn Vũ đến với sáng tác và trở thành hội viên hội văn học nghệ thuật từ khi còn rất trẻ Năm 2005, khi đang là sinh viên Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Phạm Văn Vũ đạt giải thưởng cuộc thi Bút Hoa – Báo Tài hoa Trẻ Năm 2006, Phạm Văn Vũ dự Hội nghi ̣ Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 7 ở Hô ̣i An, khi ấy Phạm Văn Vũ 22 tuổi và cũng là đa ̣i biểu trẻ nhất của hội nghị

Là cây bút sáng tác với tuổi đời còn trẻ nhưng Phạm Văn Vũ đã sớm gặt hái được những thành công trên con đường nghệ thuật với những giải thưởng khẳng định tài năng và tạo cá tính sáng tạo riêng Tập thơ đầu tay mang tên

Trong nỗi nhơ ́ màu chàm (2007) bộn bề những nỗi niềm của mô ̣t người trẻ cô

đơn, nhiều suy tư, trăn trở , một người trẻ tuổi nhưng “già” trước tuổi Nhưng

có thể nói, đáng quý nhất là của tập thơ là sự trong trẻo trong tâm hồn của một

cây bút trẻ Ngoài tập thơ đầu tay Trong nỗi nhớ màu chàm (2007), Phạm Văn

Vũ còn khẳng định cá tính thơ của mình với tập thơ Mọc (2016) Bên cạnh sáng tác văn học, anh còn xuất bản tác phẩm Ngẫu luận (trò chuyện văn chương,

2011) là những cuộc trò chuyện với các nhà thơ, nhà văn của Thái Nguyên Mỗi cuộc trò chuyện là một quan niệm về các vấn đề văn chương nghệ thuật được các tác giả và người viết cùng nhau trao đổi, qua đó cung cấp cho người đọc những tư liệu quan trọng khi tìm hiểu về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật của các cây bút Thái Nguyên mọi lứa tuổi

Nói đến thơ trẻ Thái Nguyên trong những năm gần đây, chúng ta còn nhắc đến một tác giả khá tiêu biểu là Nguyễn Nhật Huy Anh sinh ngày 18/6/1987, trước đây là sinh viên Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và hiện nay là cán bộ giảng dạy ở bộ môn Lý luận văn học – Văn học nước ngoài tại khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Trong cuộc trò chuyện với nhà thơ Nguyễn Nhật Huy, Phạm Văn Vũ

từng nhận xét: “Là một giảng viên Sư phạm, nhưng anh chưa bao giờ có ý định xây dựng hình ảnh mô phạm trước học trò và đồng nghiệp Là người sáng tác,

Trang 30

nhưng anh không có thói quen ngồi trầm tư, mà luôn bắt tay vào những công việc có thể kiếm ra tiền bằng sức lao động Thật ra, đằng sau cái vẻ ngoài của một trai trẻ bông phèng đến bất cần ấy là một con người nghiêm túc, tự trọng, mang tư chất của một nghệ sĩ đầy khao khát” [65]

Thơ Nguyễn Nhật Huy mang một cá tính riêng, và thơ anh nhiều khi khiến người ta khó đọc, khó hiểu Tự nói về bản thân mình, nhà thơ Nguyễn

Nhật Huy từng chia sẻ: “Tôi không đại diện được cho những người viết trẻ, nhưng bản thân thấy cái “tạng” tôi không thích sự ổn định của thể loại Nó như một thứ đạo đức cũ đôi khi trói buộc con người Tôi rất thích phá vỡ các thể loại Đi tìm cái mới thì anh phải chấp nhận đập vỡ cái cũ, đập vỡ chính bản thân mình […] Tất nhiên tôi không phủ định quá khứ Tôi chỉ luôn có cảm giác không thỏa mãn với những lý giải của người đi trước, thậm chí có nhiều vấn đề không phục Nó thúc đẩy tôi đi tìm một hình thức mới, một lý giải mới về cuộc sống” [65] Nguyễn Nhật Huy cho ta thấy một cái tôi rất đời thường nhưng

cũng luôn trăn trở với những điều trong cuộc sống, luôn cố gắng lý giải, cắt nghĩa những vấn đề của cuộc sống hiện đại bằng con mắt của người trẻ tuổi Bằng cuộc sống và sáng tác, Nguyễn Nhật Huy cho ta hình ảnh một con người luôn nghiêm túc và đầy khát khao trong hành trình sáng tạo nghệ thuật

Bên cạnh công việc giảng dạy, Nguyễn Nhật Huy còn tham gia cộng tác với một số báo như: Báo Văn nghệ, Văn nghệ Thái Nguyên, Tạp chí Cửa biển, Tạp chí Non nước, Báo tuổi trẻ Anh cũng là thành viên của Câu lạc bộ Văn học Trẻ Thái Nguyên, Có truyện ngắn và thơ đăng trên các báo: Văn nghệ Thái Nguyên, Tuổi trẻ, Văn nghệ… Đồng thời, Nguyễn Nhật Huy cũng khẳng định

vị trí của mình với một số giải thưởng như: Giải ba thơ Người đô thị của Liên

hiệp các hội văn học nghệ thuật Đà Nẵng, Giải Nhì thơ, Giải Ba truyện ngắn trong Cuộc thi Sáng tác văn học 2014 – 2016 trên báo Văn nghệ Thái Nguyên Những giải thưởng đó cho dù không phải là tất cả nhưng phần nào đã khẳng định được vị thế của tác giả với một cái tôi riêng, một cá tính mạnh mẽ trong

Trang 31

Thơ trẻ Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2010 đến nay có sự tăng mạnh về

số lượng người cầm bút Bên cạnh những cái tên như Dương Thu Hằng, Phạm Văn Vũ, Nguyễn Nhật Huy còn có thể kể đến những cái tên khác như Doãn Long, Hoàng Thị Hiền, Trần Thị Nhung, Gia Hân… Lí giải cho sự xuất hiện của một loạt các tác giả mới ấy có lẽ phải kể đến sự quan tâm, chăm lo của Hội Văn học nghệ thuật Thái Nguyên và Báo Văn nghệ Thái Nguyên khi đã tổ chức các lớp bồi dưỡng viết văn trẻ, mời các nhà thơ, nhà văn tiêu biểu (Y Phương, Cao Duy Sơn,…), các nhà thơ hiện đại có sự cách tân (Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương) Đây là dịp các nhà thơ trẻ Thái Nguyên có dịp học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với các bậc chú, bác trong nghiệp thơ Hơn nữa, ngày thơ Việt Nam như một liều thuốc tinh thần, kích thích sự đam mê sáng tác của các tác giả trẻ Ngoài ra, sự giao lưu giữa các nhà thơ trẻ của các địa phương cũng

là dấu ấn quan trọng có tác dụng kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển của thơ trẻ Thái Nguyên Điều đặc biệt không thể không nhắc tới đó là các tác giả của thơ trẻ Thái Nguyên đa phần đều xuất thân là nhà giáo Họ may mắn được sinh ra và học tập ở nơi trung tâm về văn hóa giáo dục với nhiều thế hệ tác giả

am hiểu sâu sắc và yêu quý, đam mê thơ ca Đó là những tiền đề quan trọng cho sự ươm mầm tài năng văn chương cũng như điều kiện thuận lợi góp phần tạo nên một lực lượng sáng tác đông đảo về số lượng, không ngừng nâng cao

về chất lượng cho thơ trẻ Thái Nguyên hôm nay

Trang 32

Cái tôi là sự khẳng định bản thân, khẳng định cá tính, bản chất vốn có của mỗi con người Đó là khái niệm đánh dấu ý thức của con người về bản thể tồn tại của chính mình

Thái Nguyên là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa, hơn thế nữa lại là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng hào hùng Nơi đây còn được biết đến là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, văn học Tất cả những điều kiện ấy đã trở thành nền tảng và mạch nguồn nuôi dưỡng tình yêu văn chương nghệ thuật, hun đúc nên một đội ngũ những nhà thơ Thái Nguyên trong đó có những nhà thơ trẻ hôm nay

Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, thơ trẻ Thái Nguyên đang từng bước khẳng định mình không chỉ trong nền thơ Thái Nguyên mà còn trong sự phát triển chung của thơ ca đương đại trên toàn quốc Đội ngũ các nhà thơ trẻ Thái Nguyên là một lực lượng sáng tác quan trọng, triển vọng để đưa thơ Thái Nguyên phát triển, góp phần vào sự phát triển chung của nền thơ ca Việt Nam

Trong chương 1, chúng tôi đã khái quát những vấn đề lí luận về thế giới nghệ thuật, cái tôi trữ tình cũng như những nét chung nhất về mảnh đất Thái Nguyên - mảnh đất khởi nguồn cho thơ và phác thảo diện mạo chung của thơ trẻ Thái Nguyên trên hành trình phát triển Đây sẽ là những tiền đề quan trọng cho việc nghiên cứu cụ thể về thơ trẻ Thái Nguyên mà chúng tôi sẽ trình bày ở những chương sau

Trang 33

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ CẢM HỨNG VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ TRẺ THÁI NGUYÊN 2.1 Cảm hứng thế sự trong thơ trẻ Thái Nguyên

Cảm hứng thế sự không phải là loại cảm hứng mới mẻ trong thơ nói chung và thơ trẻ Thái Nguyên nói riêng.Có thể nói cảm hứng thế sự là sự phát triển tất yếu của một nền thơ ca Bởi lẽ, khi đã hoàn thành sứ mệnh chính trị cách mạng thiêng liêng thì thơ ca có xu hướng quay về với những lo toan, trăn trở đời thường, những vấn đề cốt lõi trong cuộc sống và con người Đó là những trạng thái phức tạp của tâm hồn người cầm bút trước những vấn đề gai góc của cuộc sống và con người, là hạnh phúc và khổ đau, là được mất - hơn thua, là thật thà và gian trá, là bản ngã và chân lí… Tất cả đều được soi chiếu qua lăng kính thơ Trong những thập niên đầu thế kỉ XXI cảm hứng thế sự đã in dấu rất đậm trong thơ của các tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Kiến Thọ, Lưu Thị Bạch Liễu… Họ là những người đã từng dằn vặt, trăn trở để tìm ra một định nghĩa về cuộc đời vốn dĩ rất phức tạp

Mẹ không muốn ru Bằng những câu chuyện thần tiên Rằng chỉ cần sống hiền là đủ Con hay nhìn những đóa hoa tội nghiệp kia Chúng không nỡ làm đau một cánh bướm

Mà lũ sâu vẫn cắn xé tơi bời

(Lưu Thị Bạch Liễu – Hát ru)

Đến thế hệ các nhà thơ trẻ 8X, 9X, cảm hứng thế sự cũng là nỗi niềm, là những suy ngẫm trở đi trở lại trong thơ Bởi lẽ, thơ là một hình thức biểu hiện cái tôi cá nhân của tác giả Thông qua những hình ảnh, biểu tượng trong thơ, qua ngôn ngữ nghệ thuật thơ, nhà thơ thể hiện những trăn trở, suy tư, chiêm

Trang 34

Con người giữa cuộc sống hiện đại tấp nập, ồn ào nhưng đâu đó vẫn là những góc khuất, những con người như đứng ngoài nhịp sống xã hội Nguyễn Thúy Quỳnh cũng đã từng xót xa về những số phận như thế, đó là hình ảnh em

bé bán củi bị ướt mưa:

Phiên chợ ngày mưa, thưa thớt bóng người

Em cõng củi dầm chân đứng đó Tôi khoác túi bồn chồn về phố

Có vệt khói dài lặng lẽ lan theo

(Một sáng Đồng Văn) Hay một người hát rong (Nghe câu hát từ xe hàng rong) hay người dân quê nghèo phải đến nơi đất khách quê người kiếm sống (Một chuyến xe khách)… Đến Doãn Long, thì đó là hình ảnh “người điên” đầy trăn trở:

Không áo Che đầu là mái tóc xù

Có chiếc quần đính thân

Lũ trẻ trâu – không đùa nữa!

Trước quán ăn Manh quần cộc hẫng Tóc cũng cần một chút nắng trưa Mượn nơi cỏ nằm để đứng

(Doãn Long – Người điên)

Giữa trăm nghìn người lướt qua trong cuộc sống, hình ảnh người điên hiện lên như một mảnh ghép đặc biệt Và hơn hết, hình ảnh ấy được đặt trong một không gian đối lập:

Trong quán ăn Khách nâng chén lên, rượu tràn mâm lênh láng Chảy xuống gầm sàn…

Kẻ bên đường vẫn ngồi bất động Chỉ còn đôi môi nhấp nháy Đợi miếng thức ăn văng xa!

(Doãn Long – Người điên)

Trang 35

Nếu như trước quán ăn là hình ảnh người điên với đầu trần, “không áo”,

và “manh quần cộc hẫng” thì trong quán ăn là hình ảnh “khách” nâng chén,

“rượu tràn mâm lênh láng” Đối lập giữa một bên cái gì cũng thiếu và một bên

là sự thừa thãi bỏ đi Con người đang đứng ngoài quán kia chỉ chờ miếng thức

ăn thừa “văng ra” từ bữa tiệc đang diễn ra trong quán Sự đối lập càng được tác giả diễn tả ở một mức cao hơn:

Họ cụng ly chúc điều tốt lành Người đứng bên đường mơ một bữa qua ngày Mọi điều thất vọng!

Những ánh nhìn day dứt buổi trưa

(Doãn Long – Người điên)

Thu lại từ sự chờ đợi ấy chỉ là cơn đói vẫn cồn lên trong bụng và sự thất vọng đến vô cùng Tiếng cụng ly chúc mừng nhau những điều tốt đẹp trong quán ăn đối lập hoàn toàn với sự cô đơn, trống trải, lẻ loi một mình của “người điên” đang đứng chờ trước quán ăn Từ sự đối lập ấy, ta thấy cái tôi nhạy cảm, trăn trở nhưng cũng đầy nhân văn của tác giả Dẫu luôn trăn trở trong lòng nhưng làm sao có thể thay đổi hiện thực cuộc sống đang diễn ra, và rồi người điên không còn đứng đó, chỉ còn bụi đường “xoáy vào tiệc vui” Nỗi buồn lẫn vào niềm vui, khổ đau lẫn cùng hạnh phúc, thiếu thốn hòa cùng dư thừa, đó vẫn

là những điều ta vẫn gặp nhưng không khỏi khiến ta day dứt, trăn trở, không thể khiến ta có những giây phút thấy lòng lặng đi trước những điều tưởng chừng rất bình thường trong cuộc sống

Nếu Doãn Long trăn trở với hình ảnh “người điên” thì Phạm Văn Vũ lại đầy suy tư về hình ảnh những em bé ở lớp trẻ tật nguyền khi hát quốc ca:

Các em hát quốc ca bằng tay Miệng không cất được lên từ “Tổ quốc”

Các em hiểu thế nào là đất nước

Mà tay nhịp nhàng Câu hát vô thanh

(Phạm Văn Vũ – Một lần hát)

Trang 36

Những đứa trẻ tật nguyền hát bài hát quốc ca không thành lời đã trở thành nỗi ám ảnh của bất cứ ai chứng kiến cảnh tượng ấy đang diễn ra trước mắt Không phải một bài hát bình thường nào khác mà chính là quốc ca – là bài hát đại diện cho Tổ quốc mình nhưng những đứa trẻ tật nguyền không thể cất lên hai từ “Tổ quốc” Tiếng hát ấy không vang lên bằng âm thanh mà vang lên bằng âm điệu của trái tim yêu nước, người nghe không thể nghe bằng thính giác mà phải cảm nhận trọn vẹn bằng chính tâm hồn và trái tim mình Các em

bé tật nguyền hát quốc ca bằng tình yêu Tổ quốc, bằng sự cảm nhận trọn vẹn thế nào là đất nước Bài hát quốc ca bỗng chốc trở nên thiêng liêng theo một cách rất riêng:

Chưa bao giờ gặp bài hát vẹn tròn như thế Vậy mà không dám vỗ tay

Bỏ chạy Bước chân vô thủy vô chung Nhẩm quốc ca

Câu nào cũng vấp Mới hay mình tật nguyền

(Phạm Văn Vũ – Một lần hát)

Một bài hát “vẹn tròn” nhưng lại mang đến bao ngậm ngùi cho những người nghe Một bài hát không có âm thanh, không có tiếng nhạc mà chỉ lắng nghe nó bằng nhịp đập trái tim của những con người cùng chung Tổ quốc Những đứa trẻ tật nguyền dù không cất lên được hai từ “Tổ quốc” nhưng Tổ quốc luôn nằm trong trái tim mỗi đứa trẻ Ấy vậy mà với những người bình thường, những con người hoàn toàn lành lặn thì “Nhẩm quốc ca câu nào cũng vấp” Nếu không có hoàn cảnh của những đứa trẻ tật nguyền có lẽ con người kia cũng chưa một lần nghĩ đến mình không thuộc quốc ca Phải chăng, những đứa trẻ tật nguyền kia chỉ là tật nguyền của cơ thể chứ hoàn toàn vẹn tròn trong trái tim, trong tâm hồn Còn những người lành lặn, bình thường mới chính là

Trang 37

những người sống với tâm hồn sứt mẻ, thiếu thốn, mang một trái tim tật nguyền Từ những điều bình dị diễn ra trong cuộc sống khiến nhà thơ không thôi trăn trở, suy tư về những chuẩn mực giá trị của cuộc sống, những điều đáng trân trọng và cả những điều đáng phê phán ở cuộc sống hôm nay

Vòng xoáy của đồng tiền khiến người ta quên đi những giá trị đích thực, quên đi những điều thiêng liêng của cuộc sống mà hình ảnh người bình thường mới hay mình hát quốc ca “câu nào cũng vấp” chỉ là một trong số rất nhiều những biểu hiện thờ ơ của cuộc sống hiện đại Cuộc sống mỗi ngày lại thêm tấp nập, nhộn nhịp nhưng giữa dòng đời bon chen ấy, con người lại có cảm giác

“nhạt” trong thế giới của chính mình:

Cái bắt tay hờ Câu chuyện ve vuốt Lời chào lệ

Cuộc rượu suông Câu hát hụt hơi Bài thơ nhạt thếch Đến cả nụ hôn còn mở mắt…

Anh về dốc muối pha trà Mặn toát mồ hôi!

(Phạm Văn Vũ – Nhạt)

Có lẽ, sự giả dối, hư danh trong cuộc sống hiện đại không còn là điều xa

lạ Để tìm được một chút chân thành khó hơn so với việc tìm những hành động giả dối hướng đến những cái đích nhất định Và để đạt được cái đích đó con người cần “học” nhiều điều:

Ngoài việc nhem nhuốc và chai sần Còn phải học cách trắng trẻo và mềm mại Ngoài việc cầm nắm mang vác

Còn phải học cách vuốt ve và xoa tay

(Phạm Văn Vũ – Nói chuyện với tay)

Trang 38

Và cũng sẵn sàng làm nhiều điều khó tưởng:

Có người Cầm dao kề cổ bố mẹ Vắt chân bình thiên hạ làm ăn Bán ruộng mua áo mới

(Hoàng Thị Hiền - Con đường nằm trong bàn tay)

Cuộc sống phức tạp, đa chiều khiến nhà thơ cảm thấy bất an, nhưng đồng thời cuộc sống cũng không thiếu những điều giản đơn, ý nghĩa và đáng trân trọng Với một nhà giáo như Phạm Văn Vũ, có lẽ một bài văn điểm mười của học sinh là niềm vui không có gì sánh được đối với một người thầy Và những lời tâm sự, suy ngẫm về tương lai, về cuộc sống bên ngoài trang sách, những điều mà một người thầy nhìn thấy trong ánh mắt của học trò là những điều trăn trở của người thầy:

Thầy không thể bắt các em thôi đọc truyện ngôn tình

Có nhà xuất bản nào cầm tay phụ huynh

kí hợp đồng mua sách Chúng ta tự mua bán chính mình?

Thầy không thể bắt các em thôi chơi game Khi lúc nào thầy cũng dạy học trò

phải thành người chiến thắng Chúng ta ai cũng một cuộc chơi?

Thầy muốn dạy các em bằng tin cậy, say mê Nhưng những điều mắt thấy tai nghe

Chẳng lẽ chỉ biết say mê, tin cậy?

Thầy không muốn nghe nói dối Nhưng khi nhiều người cùng nói dối Chẳng lẽ nói thật lại thành có lỗi?

(Phạm Văn Vũ – Ngày 15 tháng 10)

Trang 39

Giữa trang sách trong nhà trường và cuộc đời đang trôi chảy ngoài kia luôn có một khoảng cách Người thầy muốn dạy học trò không đơn thuần là những điều trong sách vở mà hơn thế nữa là những bài học của cuộc đời Những trăn trở, suy tư, những điều tâm sự về cuộc sống đã được Phạm Văn Vũ gửi gắm qua những lời tâm sự với học trò để sau này mỗi người sẽ trưởng thành, “sẽ lớn lên”

Trần Thị Nhung được biết đến là cây bút có giọng thơ nhẹ nhàng nhưng

đôi khi những câu thơ của chị cũng đầy suy tư, trăn trở Trong bài thơ Mưa, đi

qua những khổ thơ đầu với giọng thơ hồn nhiên trong trẻo, nhà thơ còn cho ta thấy một cái tôi đầy suy ngẫm trong dòng đời:

Giờ con đi tìm Chẳng thấy bông cau Nơi góc vườn trăng đẹp Thấy cơn mưa ngày xưa Con dầm trong dòng đời

có những màu trắng đen, trong đục Lại muốn mẹ ngồi

Đính lại một màu cho con

(Trần Thị Nhung – Mưa)

Một cơn mưa gợi về trong lòng người bao cảm xúc Thời gian trôi chảy, vẫn là một cơn mưa bất chợt nhưng những điều thân quen xưa kia không còn nữa Giờ đây, con không chỉ dầm trong cơn mưa của đất trời mà “dầm trong dòng đời” tấp nập, bon chen Những điều thân thương, bình dị đã trở thành quá khứ, hình bóng mẹ cũng mãi đi xa, chỉ còn lại cơn mưa và hình ảnh con đơn độc trong dòng đời trôi chảy Dẫu chỉ là một cơn mưa nhưng lại gợi về bao nhớ nhung, bao yêu thương, bao điều thân thuộc của một thời Trái tim của cây bút trẻ đã rung lên những nhịp đập khi nhớ về những kỉ niệm một thời đã qua

Tâm sự suy tư, trăn trở là nỗi lòng không của riêng ai trong cuộc sống

Trong bài thơ Và mỗi sớm mai chim vẫn hót, tác giả Phan Thái từ những điều

Trang 40

Bị nhốt trong lồng, chim quên mình bị nhốt Mỗi sớm mai vẫn hót gọi mặt trời

Ta vùi mặt giữa hư danh, cơm áo Chẳng như chim thản nhiên đón ánh ngày Đời trong đục, vui buồn không thể giấu Đôi khi nén khóc cười rót tỉnh vào say

(Phan Thái - Và mỗi sớm mai chim vẫn hót)

Cuộc sống con người vốn dĩ phức tạp, con người quay cuồng trong vô vàn trắng đen Sự đối lập giữa hình ảnh chim bị nhốt trong lồng nhưng quên mình bị nhốt, vẫn hót chào ngày mới vào mỗi buổi sớm mai Hoàn cảnh bị nhốt trong lồng không hề chi phối đến việc ngày mai mặt trời vẫn mọc, và loài chim chỉ đi theo những lối mòn quen thuộc của sự vận động tự nhiên hết đêm đến ngày Nhưng con người thì khác, không thể thản nhiên đón ánh bình mình vì

“vùi mặt giữa hư danh, cơm áo” Con người nhận ra đó chỉ là hư danh, hão huyền, là những giá trị “ảo” những vẫn cố công theo đuổi; con người bị cuốn vào vòng cơm áo gạo tiền quẩn quanh khiến việc đón bình minh thản nhiên cũng trở thành điều xa xỉ Con người không sống theo nhịp vận động của tự nhiên mà quay cuồng trong vòng quay của đời sống xã hội, đôi khi là sự dối trá chính lòng mình: “nén khóc cười rót tỉnh vào say” Cuộc sống của con người khi trưởng thành có quá nhiều điều khiến con người bận lòng suy nghĩ và đôi khi trong sự mỏi mệt của cuộc sống ta lại mong được quay về với tuổi thơ

Cuộc sống hiện đại đầy rẫy bon chen, xô bồ, con người bị cuốn vào vòng quay không ngừng của hư danh nhưng trong một lúc nào bỗng như dừng lại khi

ta nhớ về với câu hát ru ngọt ngào của mẹ:

Trái tim ta đâu chỉ để yêu thương Học im lặng khó hơn học nói Lưng mẹ gập trên đồng như dấu hỏi Câu hát ru con thanh thản ru mình

Ngày đăng: 06/04/2022, 21:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
3. Nguyễn Minh Cảnh (Chủ biên - 2010), Giáo trình lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
4. Nguyễn Phan Ca ̉nh (2006), Ngôn ngư ̃ thơ, Nxb Văn ho ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Ca ̉nh
Nhà XB: Nxb Văn ho ̣c
Năm: 2006
5. Huy Cận, Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
6. Nông Quốc Chấn (2007), Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Hoàng Minh Châu (1990), Bàn về thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thơ
Tác giả: Hoàng Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1990
9. Nguyễn Văn Dân (2003), Lí luận văn học so sánh, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
10. Miên Di (2013), Thơ Miên Di, Nxb Hô ̣i Nhà văn, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Miên Di
Tác giả: Miên Di
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2013
11. Xuân Diệu (1994), Công việc làm thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
12. Nguyễn Đặng Duy (2004), Văn hóa Việt Nam - đỉnh cao Đại Việt, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam - đỉnh cao Đại Việt
Tác giả: Nguyễn Đặng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2004
13. Hư ̃u Đa ̣t (1996), Ngôn ngư ̃ thơ Viê ̣t Nam , Nxb Gia ́o du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Viê ̣t Nam
Tác giả: Hư ̃u Đa ̣t
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 1996
14. Phan Cự Đệ (1997), Văn học đổi mới và giao lưu Văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học đổi mới và giao lưu Văn hóa
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
30. Trần Đăng Khoa (2013), Trần Đăng Khoa nói về thơ Việt ở Paris, http://vov.vn/blog/tran-dang-khoa-noi-ve-tho-viet-o-paris-263418.vov, ngày 26/5/2013 Link
48. Nguyễn Thúy Quỳnh (2009), Tinh thần thép và tầm vóc văn hóa, http://nguyenthuyquynh.vnweblogs.com/a200619/tinh-than-thep-va-tam-voc-van-hoa/page-1.html, ngày 29/11/2009 Link
58. Nguyễn Kiến Thọ (2017), Thơ Thái Nguyên: nghĩ từ thơ trẻ, http://vannghethainguyen.vn/2017/02/03/tho-thai-nguyen-nghi-tu-tho-tre/,ngày 03/2/2017 Link
59. Nguyễn Kiến Thọ (2017), 30 năm thơ Thái Nguyên, http://vannghethainguyen.vn/2017/07/31/30-nam-tho-thai-nguyen/, ngày 31/7/2017 Link
61. Nguyễn Đình Vinh (2014), Thơ Truyền thống - Nền tảng của thơ hiện đại, http://tacphammoi.net/tho-truyen-thong-nen-tang-cua-tho-hien-dai_n530.aspx, ngày 09/02/2014 Link
65. Phạm Văn Vũ (2016), http://khoavan.dhsptn.edu.vn/455_Tac-gia-tre-Nguyen-Nhat-Huy-THO-CA-DAY-TOI-NHIEU-DIEU-.html, ngày 28/8/2016 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w