1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bản-tin-NCKH-số-10-Tháng-10.2018

42 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản Tin Nghiên Cứu Khoa Học Số 10 - Tháng 10/2018
Trường học Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế tài chính – ngân hàng
Thể loại bản tin
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THÔNG TIN KHOA HỌC QUỐC TẾ NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ Cơ chế nhân quả của giáo dục tài chính: Bằng chứng thực nghiệm từ phân tích trung gian Tập trung hóa trong ngành ngân hàng và ổn định t

Trang 1

BẢN TIN ĐIỆN TỬ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

RESEARCH BULLETIN

SỐ 10 - THÁNG 10/2018 - VOLUME: – OCTOBER, 2018

LƯU HÀNH NỘI BỘ

® Bản tin này được tổng hợp từ các báo cáo, đề tài nghiên cứu

định kỳ hàng tháng liên quan đến lĩnh vực kinh tế tài chính – ngân

hàng của các tổ chức quốc tế WB, ADB, IMF, BIS và thông tin kết

quả nghiên cứu của các đề tài cấp nhà nước, cấp ngành của NHNN,

các Bộ, ngành TW của Việt Nam, các thông tin Hội thảo của các

Viện nghiên cứu, trường đại học, ấn phẩm khoa học của các NXB

có uy tín tại Việt Nam phù hợp với quy định pháp luật về báo chí

và bản quyển

® Mọi quan điểm, nội dung trong Bản tin đều được dịch hoặc

căn cứ vào thông tin khoa học chính thống, chỉ có hàm ý cung cấp

thông tin tham khảo mà không phản ánh ý kiến hay quan điểm của

Ban Biên tập cũng như của Viện CLNH Người đọc chỉ nên sử

dụng Bản tin nội bộ như là thông tin tham khảo

CHỊU TRÁCH NHIỆM XUẤT BẢN

khoahocnganhang.org.vn

────

Liên hệ Email:

research.bsi@sbv.gov.vn

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Địa chỉ:

Tầng 7, tòa nhà 25 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn

Kiếm,

Tp Hà Nội

Trang 2

THÔNG TIN KHOA HỌC QUỐC TẾ

NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ

Cơ chế nhân quả của giáo dục tài chính:

Bằng chứng thực nghiệm từ phân tích trung gian

Tập trung hóa trong ngành ngân hàng và ổn định tài chính: Bằng chứng thực nghiệm mới

Nghiên cứu ước

lượng quy mô tăng đột

biến tài sản thanh

khoản chất lượng cao

sau khủng hoảng và rút

ra kết luận về việc liệu

độ sâu của thị trường

có đủ hấp thụ nó hay

không.Chi tiết

Báo cáo này nghiên cứu tác động của các cấu trúc tài chính đến sự biến động của ngành xuất khẩu thông qua việc sử dụng dữ liệu phong phú

từ hơn 60 quốc gia Chi tiết

Bài viết này sử dụng một thử nghiệm thực tế tại Ấn Độ với nhiều phương pháp giáo dục tài chính khác nhau để tìm hiểu các cơ chế nhân quả giữa giáo dục tài chính và hành vi tài chính Chi tiết

Lý thuyết cho thấy ảnh hưởng của tập trung hóa trong thị trường ngân hàng đối với ổn định tài chính thông qua một

số biến cạnh tranh Chi tiết

Ngân hàng trung ương

và nợ: rủi ro mới nổi cho hiệu quả chính sách tiền tệ tại Châu

Phi

Tác động của các quy định an toàn, phát triển tài chính và mở cửa tài chính lên tăng trưởng kinh tế

Chỉ số tăng trưởng bao trùm: tiêu chuẩn mới cho chất lượng tăng trưởng

Kể từ sau khủng

hoảng tài chính toàn

cầu, nhiều khu vực

Bài viết này nghiên cứu ảnh hưởng của quy định an toàn, phát triển tài chính và sự mở cửa tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Chi tiết

Báo cáo này khởi đầu cho Chỉ số tăng trưởng xanh bao trùm, bao quát các khía cạnh chính của tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và

sự bền vững môi trường Chi tiết

Báo cáo hội nhập

kinh tế Châu Á 2018

Liệu thị trường trái phiếu nội tệ có tăng cường ổn định tài chính không?

Báo cáo này trình

bày những tiến triển

Nghiên cứu này phân tích tính dễ bị tổn thương

Trang 3

tác và hội nhập khu

vực Chi tiết

đang phát triển trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Chi tiết

NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ CHUYÊN SÂU CẢI TIẾN TRONG THANH TOÁN BÁN LẺ

Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều cải tiến trong lĩnh vực thanh toán bán lẻ đã xuất hiện Những cải tiến này có thể tác động lên thị trường bán lẻ - ví dụ như, tác động lên người sử dụng trong việc lựa chọn các công cụ thanh toán và tái định hình một cách sâu sắc các quy trình thanh toán Các cải tiến có thể có khả năng cắt giảm chi phí và gia tăng phúc lợi xã hội Tuy nhiên, đối với các ngân hàng trung ương, chúng cũng đặt ra nhiều vấn đề chính sách do những tác động của chính đối với sự hiệu quả và

thanh toán bán lẻ - đặc biệt là các khái niệm về tính kính tế của quy mô và phạm vi, các hiệu ứng mạng lưới và thị trường 2 mặt – báo cáo xác định một số nhân tố nội sinh và ngoại sinh có thể là động lực và

NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

THÔNG TIN ĐỀ TÀI TRONG NƯỚC

ĐTNH.015/17 Bội chi tiền mặt tại Việt Nam – nguyên

nhân và giải pháp hạn chế (Chi tiết)

TS Tô Huy Vũ, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 4

HỘI THẢO KHOA HỌC ẤN PHẨM KHOA HỌC

HỘI THẢO “KINH NGHIỆM THANH TRA TRÊN

CƠ SỞ RỦI RO VÀ TRIỂN KHAI TRỤ CỘT 2

BASEL II” (Chi tiết)

TRÍ TUỆ TÀI CHÍNH (Chi tiết)

HỘI NGHỊ CHUYÊN ĐỀ “ĐỊNH HƯỚNG PHÁT

TRIỂN NGÂN HÀNG XANH TẠI VIỆT NAM”

(Chi tiết)

BLOCKCHAIN, BITCOIN, TIỀN ĐIỆN TỬ, HỢP ĐỒNG THÔNG MINH VÀ TƯƠNG LAI CỦA TIỀN TỆ (Chi tiết)

HỘI THẢO FINTECH – CƠ HỘI HỢP TÁC TỪ

LITVA (Chi tiết)

HỘI THẢO QUỐC TẾ THƯỜNG NIÊN NGÀNH

NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH LẦN THỨ 7: SỐ HÓA

Trang 5

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1

BẢN TIN NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ

1 Dư vị sau khủng hoảng – Tác động tới việc cung cấp bảo lãnh sau cuộc phá sản lớn (The Morning After The Impact on Collateral Supply After a Major Default)

Nguồn: IMF

Tác giả: Dermot Turing & Manmohan Singh

Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động của các định chế tài chính

Ngày xuất bản: 31/10/2018

Những thay đổi đối với hệ thống pháp lý được đưa ra sau cuộc khủng hoảng tài chính không chỉ bao gồm yêu cầu bù trừ bắt buộc các giao dịch phái sinh OTC tại các đối tác trung tâm và ký quỹ các chứng khoán phái sinh chưa thanh toán mà còn cả các biện pháp thận trọng, trong đó có “Tỷ lệ bảo hiểm thanh toán” buộc các công ty phải giữ các tài sản thanh khoản chất lượng cao (high-quality liquid assets - HQLA) như một giải pháp tạm thời trước luồng tiền mặt chảy ra dự kiến Nghiên cứu xem xét các yếu tố

có thể ảnh hưởng đến nhu cầu HQLA tại một thị trường rơi vào căng thẳng trầm trọng sau sự phá sản của một thành viên thanh toán bù trừ lớn Ngay lập tức sau tình huống phá sản, nhu cầu HQLA của toàn bộ thị trường tăng đột biến Nghiên cứu ước lượng quy mô tăng đột biến và rút ra kết luận về việc liệu độ sâu của thị trường có đủ hấp thụ

nó hay không

Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

2 Ngân hàng có thúc đẩy xuất khẩu không? Cơ cấu tài chính và động lực xuất khẩu (Are Banks Engines of Export ? Financial Structures and Export Dynamics)

Nguồn: WB

Tác giả: Minetti Raoul; Mulabdic Alen; Ruta Michele & Zhu Susan

Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động của các định chế tài chính

Ngày xuất bản: 25/10/2018

Báo cáo này nghiên cứu tác động của các cấu trúc tài chính đến sự biến động của ngành xuất khẩu thông qua việc sử dụng dữ liệu phong phú từ hơn 60 quốc gia Kết quả cho thấy rằng các hệ thống tài chính do ngân hàng dẫn dắt thúc đẩy quy mô của khu vực xuất khẩu nhiều hơn các hệ thống tài chính do thị trường dẫn dắt Tuy nhiên, đặc biệt là ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, tác động này chủ yếu xuất phát từ việc các ngân hàng làm chậm lại việc các nhà xuất khẩu rời bỏ thị trường hơn là từ việc thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu Việc giảm tình trạng rời bỏ khu vực xuất khẩu dường như phản ánh xu hướng cho vay evergreen của các ngân hàng nội địa dành cho các nhà xuất khẩu ("giới hạn ngân sách mềm") nhiều hơn vai trò đệm của ngân hàng trong những thời điểm khó khăn Các ngân hàng nước ngoài giảm thiểu hiệu ứng này và tăng cường tính năng động của ngành xuất khẩu

Trang 6

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 2

Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

3 Cơ chế nhân quả của giáo dục tài chính: Bằng chứng thực nghiệm từ phân tích trung gian (The Causal Mechanism of Financial Education: Evidence from Mediation Analysis)

Nguồn: WB

Tác giả: Carpena Fenella & Zia Bilal Husnain

Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách tài chính ngân hàng

độ đều là những yếu tố trung gian quan trọng, trong khi đối với các hoạt động tài chính phức tạp hơn như mở tài khoản tiết kiệm, thái độ đóng một vai trò rõ rệt hơn Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi nhận thức về các sản phẩm

và dich vụ tài chính như là một cơ chế quan trọng cho sự thành công của giáo dục tài chính

Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

4 Tập trung hóa trong ngành ngân hàng và ổn định tài chính: Bằng chứng thực nghiệm mới (Concentration in the Banking Sector and Financial Stability: New Evidence)

Nguồn: WB

Tác giả: Calice Pietro & Leonida Leone

Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách tài chính ngân hàng

Ngày xuất bản: 16/10/2018

Lý thuyết cho thấy ảnh hưởng của tập trung hóa trong thị trường ngân hàng đối với

ổn định tài chính thông qua một số biến cạnh tranh Sử dụng một mẫu gồm 68 quốc gia

từ năm 1997 đến năm 2015, bài viết đề xuất một khuôn khổ thực nghiệm thống nhất để kiểm tra sự hiện diện đồng thời và tác động của các kênh trung gian mà thông qua đó tập trung hóa được cho là sẽ tác động lên ổn định tài chính Các kết quả cho thấy cường

Trang 7

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 3

độ và hiệu ứng ròng của các trung gian phụ thuộc vào mức độ tập trung hóa Tại các mức độ tập trung hóa thấp, tập trung hóa tăng lên cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng nhờ gia tăng tính lợi nhuận Tại các mức độ tập trung hóa cao, tập trung hóa tăng lên khiến cho hệ thống ngân hàng trở nên dễ bị tổn thương bởi chi phí tín dụng, tính đa dạng và sự nới lỏng trong quản lý Tại các mức độ trung bình, tập trung hóa không có tác động đáng kể đến ổn định tài chính, do các nhân tố trung gian cạnh tranh triệt tiêu lẫn nhau Các kết quả cho thấy mức độ tập trung hóa trung bình có thể là mức tối ưu Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

5 Làm sao để xử lý các thất bại của các ngân hàng không có tính hệ thống? Xem xét kinh nghiệm tại các nước (How to manage failures of non-systemic banks? A review of country practices)

Nguồn: BIS

Tác giả: Patrizia Baudino; Antonella Gagliano; Edoardo Rulli & Ruth Walters Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách tài chính ngân hàng

Ngày xuất bản: 29/10/2018

Kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhiều khu vực pháp lý đã phát triển các

cơ chế xử lý đặc biệt để đảm bảo các ngân hàng có thể sụp đổ mà không gây tác động

hệ thống Các chế độ phá sản của ngân hàng tạo thêm một biện pháp xử lý thông qua cung cấp một khuôn khổ dừng hoạt động một cách có trật tự các ngân hàng không đáp ứng các ngưỡng nhất định Dựa trên việc xem xét các chế độ phá sản của 12 quốc gia được lựa chọn, tài liệu này xác định và thảo luận các đặc điểm chính của các cơ chế đặc thù ngân hàng nhằm xử lý theo đúng bản chất đặc biệt của ngân hàng và các cân nhắc

về lợi ích công cộng có thể phát sinh khi bất kỳ ngân hàng nà mất khả năng thanh toán Phân tích cung cấp thông tin chi tiết về các phương pháp và công cụ có thể giúp thiết

kế các cơ chế hiệu quả để xử lý các ngân hàng thất bại

Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

6 Ngân hàng trung ương và nợ: rủi ro mới nổi cho hiệu quả chính sách tiền tệ tại Châu Phi (Central banks and debt: emerging risks to the effectiveness of monetary policy in Africa?)

Nguồn: BIS

Tác giả: Benedicte Vibe Christensen & Jochen Schanz

Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu chính sách tài chính ngân hàng

Ngày xuất bản: 16/10/2018

Trong giai đoạn các nước tăng cường bảo hộ thương mại và có mức lãi suất cao, vấn

Trang 8

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 4

đề khẩn cấp đặt ra ở các nước châu Phi là cần phải đảm bảo rằng nợ, (đang trên đà gia tăng), sẽ không gây cản trở đối với hiệu quả của chính sách tiền tệ Mặc dù các ngân hàng trung ương có thể tác động đến mức độ và thành phần nợ của khu vực tài chính nếu họ có quyền hạn giám sát, nhưng họ chỉ có thể ảnh hưởng gián tiếp đến nợ của chính phủ, đặc biệt là thông qua trao đổi Tư vấn cho chính phủ và các công ty nhà nước

về quản lý nợ và phát triển kinh tế vĩ mô có thể giúp làm chậm lại sự gia tăng của nợ Nếu nợ vẫn tiếp tục gia tăng, một số biện pháp thể chế nhất định, chẳng hạn như các quy tắc chống tài trợ trực tiếp ngân sách chính phủ, đặt mục tiêu lạm phát cho chính sách tiền tệ và độc lập trong hoạt động, có thể giúp bảo vệ hiệu quả của chính sách tiền

tệ Theo đuổi cải cách để thực hiện các thỏa thuận như vậy có thể là một hướng đi tương lai cho một số ngân hàng trung ương châu Phi

Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

7 Tác động của các quy định an toàn, phát triển tài chính và mở cửa tài chính lên tăng trưởng kinh tế (The effects of prudential regulation, financial development and financial openness on economic growth)

Bài viết này nghiên cứu ảnh hưởng của quy định an toàn, phát triển tài chính và sự

mở cửa tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Sử dụng cả các mô hình hiện tại và một khuôn khổ OLG mới với các quy định ngân hàng và quy định an toàn dưới dạng các yêu cầu về vốn, phần đầu của bài viết trình bày một đánh giá phân tích về các kênh khác nhau thông qua đó quy định an toàn có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng Phần thứ hai cung cấp một phân tích thực nghiệm dựa trên hồi quy dữ liệu bảng cho một mẫu gồm

64 nền kinh tế phát triển và tiên tiến Kết quả cho thấy tăng trưởng có thể được thúc đẩy bởi các chính sách an toàn với mục tiêu là giảm thiểu rủi ro tài chính cho nền kinh tế Đồng thời, sự mở của tài chính có xu hướng làm giảm lợi ích đem lại tăng trưởng của các chính sách này Điều này có thể là do cơ hội vay ở nước ngoài lớn hơn hoặc các điểm yếu xuyên biên giới trong quy định gia tăng

Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

8 Chỉ số tăng trưởng bao trùm: tiêu chuẩn mới cho chất lượng tăng trưởng (Inclusive Green Growth Index: A New Benchmark for Quality of Growth)

Nguồn: ADB

Trang 9

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 5

Tác giả: Jha Sandhu & Wachirapunyanont

Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu kinh tế

Ngày xuất bản: 25/10/2018

Chỉ số này bao gồm 28 chỉ tiêu hiệu suất theo thời gian và quốc gia, gồm các khía cạnh khác nhau của tăng trưởng và đầu ra chính sách trong các lĩnh vực mà đầu tư nhiều hơn sẽ nâng cao chất lượng tăng trưởng và mức sống Chỉ số tăng trưởng xanh bao trùm

là một hướng dẫn dễ sử dụng đối với các nhà xây dựng chính sách và các bên liên quan đến phát triển, nó được xây dựng dựa trên các biện pháp và các chỉ số hiện tại Đây là một công cụ mạnh mẽ để đánh giá sự tiến bộ của một quốc gia trong việc đạt được các mục tiêu phát triển

Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

9 Báo cáo hội nhập kinh tế Châu Á 2018 (Asian Economic Integration Report 2018)

Hướng tới việc cung cấp tối ưu các hàng hóa khu vực công cộng ở châu Á và Thái Bình Dương

Với sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng, khu vực Châu Á và Thái Bình Dương ngày càng phải đối mặt với những thách thức phát triển xuyên biên giới, chẳng hạn như kết nối cơ sở hạ tầng trong khu vực, suy thoái môi trường và khan hiếm tài nguyên và các mối đe dọa sức khỏe xuyên biên giới hoặc các bệnh truyền nhiễm Các hàng hóa khu vực công như cơ sở hạ tầng xuyên biên giới, quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, giám sát và kiểm soát dịch bệnh xuyên biên giới mang lại lợi ích vượt ra ngoài lãnh thổ của một quốc gia

Tải về toàn văn tại đây

Trang 10

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 6

Trở lại trang đầu

10 Liệu thị trường trái phiếu nội tệ có tăng cường ổn định tài chính không? (Do Local Currency Bond Markets Enhance Financial Stability?)

Nguồn: ADB

Tác giả: Park Donghyun; Shin Kwanho & Tian Shu

Chủ đề nghiên cứu: Nghiên cứu kinh tế

Ngày xuất bản: 19/10/2018

Nghiên cứu này phân tích tính dễ bị tổn thương về tài chính của các nước đang phát triển trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và hiện tượng “lao dốc của thị trường chứng khoán” Nó cho thấy rằng tình trạng mất giá tiền tệ, như một thước đo của lỗ hổng tài chính, sẽ bị giới hạn nhiều hơn ở các nước có thị trường trái phiếu nội tệ đang phát triển nhanh hơn

Tải về toàn văn tại đây

Trở lại trang đầu

Trang 11

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 7

NGHIÊN CỨU CHUYÊN SÂU Cải tiến trong thanh toán bán lẻ

Báo cáo của nhóm nghiên cứu về Cải tiến trong thanh toán bán lẻ

Ủy ban Các hệ thống thanh toán và quyết toán

Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS)

Để có được cái nhìn tổng quan về các hoạt động thanh toán bán lẻ mới tại các quốc gia thuộc CPSS và một số quốc gia khác, một cuộc khảo sát thực tế đã được triển khai nhằm thu thập các diễn biến lớn trong các công cụ và cơ chế thanh toán bán lẻ trong vòng một thập kỷ qua Theo đó, khoảng 122 cải tiến đã được 30 ngân hàng trung ương báo cáo Việc tìm hiểu thực tế không nhằm mục đích có được sự bao quát toàn bộ tất cả các cải tiến trong thanh toán bán lẻ ở các quốc gia, mà nhằm có một cái nhìn tốt hơn có thể sử dụng làm cơ sở để đánh giá tình trạng hiện tại của các cải tiến thanh toán bán lẻ Báo cáo xác định 5 danh mục sản phẩm: (i) cải tiến trong việc sử dụng thẻ thanh toán; (ii) thanh toán mạng (internet); (iii) thanh toán di động; (iv) thanh toán và hiện diện hóa đơn điện tử; và (v) cải thiện trong cơ sở hạ tầng và an ninh

Xu hướng thanh toán bán lẻ được xác định từ quá trình tìm hiểu thực tế có thể được tóm lược như sau:

Thị trường năng động về mặt có nhiều diễn biến mới Tuy nhiên, chỉ có một vài cải tiến cho đến nay là có tác động đáng kể lên thị trường

Hầu hết các cải tiến được phát triển cho thị trường nội địa, và chỉ có một số vươn ra tầm quốc tế, mặc dù các sản phẩm và danh mục tương tự đã xuất hiện trên toàn thế giới

Có sự gia tăng tập trung vào việc tăng tốc quy trình thanh toán, hoặc là qua việc đẩy nhanh quyết toán hoặc là qua việc đẩy nhanh khởi tạo thanh toán

Tài chính toàn diện được coi là một động lực quan trọng cho các cải tiến ở nhiều quốc gia, hoặc là từ nhiệm vụ chính trị được giao hoặc là từ các cơ hội kinh doanh mới

mở ra từ các thị trường chưa được vươn tới

Vai trò của các tổ chức phi ngân hàng trong thanh toán bán lẻ đã gia tăng sâu sắc, một phần là do sự gia tăng sử dụng các công nghệ tiên tiến cho phép các tổ chức phi ngân hàng có thể cạnh tranh trong lĩnh vực mà các ngân hàng vẫn chưa chiếm lĩnh Dựa trên các xu hướng đã nhận diện và tính kinh tế của thanh toán bán lẻ - đặc biệt

là các khái niệm về tính kính tế của quy mô và phạm vi, các hiệu ứng mạng lưới và thị

Trang 12

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 8

trường 2 mặt – báo cáo xác định một số nhân tố nội sinh và ngoại sinh có thể là động lực và rào cản cho các cải tiến thanh toán bán lẻ

Các nhân tố ngoại sinh bao gồm các diễn biến phát triển công nghệ, hành vi người

sử dụng và quy định quản lý Nhu cầu người sử dụng có thể là động lực quan quan trọng nhất cho đổi mới, do nó là cơ sở để một hoạt động kinh doanh khả thi, hoặc là thông qua việc sử dụng doanh thu tiềm năng hoặc là qua việc hiện thực hóa tính kinh tế của quy mô và phạm vi khi tạo ra dịch vụ Khuôn khổ pháp lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới việc cải tiến thanh toán bán lẻ Ví dụ, do các thị trường thanh toán

có xu hướng độc quyền, nhiều cơ quan quản lý đã tìm cách gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường thanh toán bằng cách nới lỏng các yêu cầu đối với các nhà cung ứng dịch vụ thanh toán

Các nhân tố nội sinh chính bao gồm sự hợp tác và chuẩn hóa Do hiệu ứng mạng lưới sẵn có trong thị trường thanh toán bán lẻ, các tiêu chuẩn chung có thể hỗ trợ đạt được khối lượng tới hạn cần thiết và tạo ra một nền tảng ổn định cho các thành viên mới tham gia vào thị trường Cũng theo cách đó, hợp tác có thể giúp giảm chi phí thông qua các khoản đầu tư chung hoặc tính kinh tế của quy mô hay phạm vi Định giá và cấu trúc giá trong đó có thể bao gồm cả phí trao đổi cũng liên quan, tuy nhiên các ảnh hưởng của chúng lên cải tiến sẽ thay đổi theo các tình huống khác nhau Cuối cùng, các vấn đề

an ninh cũng cần được quan tâm từ phía các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán, do việc thiếu an toàn, dù là thật hay là theo nhận định, cũng làm suy giảm lòng tin của công chúng vào các giải giải pháp thanh toán mới và khả năng kinh doanh của nó

Dựa trên các tính kinh tế của thanh toán cũng như các động lực và rào cản đã nhận diện, báo cáo đề xuất một số chỉ báo có thể kỳ vọng xảy ra trong vòng 5 năm tới: Phát triển kỹ thuật chắc chắn sẽ làm mờ nhạt ranh giới giữa các danh mục sản phẩm,

do các kênh tiếp cận và các thiết bị tiếp cận có thể hoán đổi cho nhau

Giao tiếp tầm ngắn (NFC) có tiềm năng phát triển trong tương lai, do nó hỗ trợ quy trình thanh toán nhanh hơn, có khả năng gia tăng thuận tiện và hiệu quả cho người sử dụng

Thương mại điện tử có thể thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa nhu cầu thanh toán mạng, đặc biệt là khi các phương thức thanh toán hiện tại không thường xuyên đáp ứng được nhu cầu về an ninh và hiệu quả của người sử dụng

Các chủ thể hoạt động toàn cầu có thể có lợi thế trong việc tận dụng độ bao phủ và quyền lực thị trường của mình khi cung cấp các giải pháp thanh toán mới xuyên biên giới

Trong nhiều trường hợp, các cải tiến trong lĩnh vực thanh toán bán lẻ chỉ thể hiện cải thiện từng bước cho các dịch vụ thanh toán hiện có Tuy nhiên, các bước nhảy lớn

có thể xuất hiện, đặc biệt là ở các quốc gia có cơ sở hạ tầng thanh toán còn chưa phát triển

Các thay đổi khác biệt trong thanh toán bán lẻ có thể được kích hoạt bởi các nhân tố như sự xuất hiện của các cơ chế thanh toán mới, việc các tổ chức phi ngân hàng mở rộng phạm vi lĩnh vực kinh doanh và các thay đổi trong quản lý

Mặc dù công nghệ sẽ dẫn tới sự hội tụ lớn hơn trong thanh toán ở quy mô toàn cầu, nhưng chắc chắn vẫn có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực

Do các ngân hàng trung ương nói chung có vai trò quan trọng đối với các cải tiến trong thanh toán, báo cáo này chỉ ra một số thách thức và vấn đề mà ngân hàng trung

Trang 13

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 9

ướng sẽ gặp phải khi thực hiện các trách nhiệm và nhiệm vụ với tư cách là đơn vị xúc tác, giám sát và/hoặc vận hành các hệ thống thanh toán:

Việc NHTW theo dõi và đánh giá các diễn biến mới trong thanh toán bán lẻ được xem là quan trọng, nhưng các NHTW có thể được yêu cầu thúc đẩy các nỗ lực thu thập

dữ liệu thống kê trong số nhiều nỗ lực khác để thực hiện các nghiên cứu phân tích và đảm bảo luôn có sẵn các kỹ năng cần thiết

Truyền thông các mục tiêu chính sách của NHTW và các công việc của NHTW về các diễn biến mới trong thanh toán bán lẻ có thể hỗ trợ đảm bảo tính minh bạch và đưa

ra các hướng dẫn cho thị trường Các NHTW có thể đối mặt với thách thức về danh tiếng nếu đánh giá và hướng dẫn của họ là không thích đáng

Các cải tiến trong các thị trường thanh toán bán lẻ có thể đặt ra các vấn đề mới về tiêu chuẩn hóa và tính tương thích, điều mà hầu hết các NHTW thúc đẩy và xúc tiến, chẳng hạn như thông qua việc hỗ trợ đối thoại giữa các bên có lợi ích liên quan hoặc đóng góp tích cực vào sự phát triển của các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế Đối với các NHTW, thách thức này có thể là việc tìm ra một mức độ phù hợp trong việc tham gia vào các hoạt động này

Do các cải tiến ra đời và các thị trường phát triển, các NHTW đối mặt với thách thức xem xét lại các khuôn khổ giám sát hiện tại của mình và có thể cần phải tìm kiếm sự hợp tác với các cơ quan chức năng khác cả trong và ngoài nước, ít nhất là về sự gia tăng vai trò của các tổ chức phi ngân hàng và các nhà cung ứng toàn cầu

Các NHTW có thể cần phải đánh giá các ảnh hưởng tiềm năng của các cải tiến lên các dịch vụ mà họ cung ứng, đặc biệt là từ quan điểm rủi ro thanh khoản và rủi ro vận hành

Các NHTW có thể mong muốn theo dõi tác động của các cải tiến lên tiền mặt và chính sách tiền tệ, mặc dù hầu hết các NHTW xem tác động hiện nay của các cải tiến lên tiền mặt và chính sách tiền lệ là không đáng kể

Cuối cùng, báo cáo nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu thêm về một vài lĩnh vực liên quan đến các cải tiến trong thanh toán bán lẻ, kể cả các khái niệm

Phần 1 Giới thiệu

Báo cáo này nhằm có được hiểu biết sát hơn về các cải tiến trong thanh toán bán lẻ Các diễn biến mới nhất về quản lý, về công nghệ và thị trường có thể dẫn tới những thay đổi căn bản đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ đề này Các công cụ thanh toán mới ám chỉ hướng mà các thay đổi có thể diễn ra, thâm chí nếu tác động lên thị trường của chúng vẫn còn nhỏ Để có thể đánh giá và dự đoán các xu hướng như vậy, NHTW cần phải có hiểu biết rõ ràng về các diễn biến mới nhất trên thị trường này

Thanh toán bán lẻ khác với thanh toán giá trị lớn ở nhiều mặt Thứ nhất, thanh toán bán lẻ thường liên quan đến việc mua các hàng hóa và dịch vụ của người tiêu dùng và doanh nghiệp So với các giao dịch liên ngân hàng, chúng được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau hơn, chẳng hạn như thanh toán trực tiếp tại các điểm bán hàng (POS) và thanh toán từ xa thông qua mạng Thứ hai, thanh toán bán lẻ được thực hiện thông qua sử dụng nhiều công cụ thanh toán hơn so với thanh toán giá trị cao Thứ ba, thanh toán bán lẻ sử dụng các hệ thống khu vực tư nhân để xử lý các giao dịch nhiều hơn so với các thanh toán giá trị cao Đối với các thanh toán giá trị cao, phần lớn, các

hệ thống quyết toán tổng thức thời (RTGS) do NHTW vận hành được sử dụng Mặc dù

Trang 14

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 10

nhỏ hơn nhiều về giá trị so với các giao dịch chuyển tiền liên ngân hàng, thanh toán bán

lẻ thường chiếm phần lớn các khoản thanh toán về mặt khối lượng

Các NHTW thường quan tâm đến thanh toán bán lẻ như một phần vai trò của họ trong việc duy trì ổn định và hiệu quả của hệ thống tài chính và duy trì niềm tin vào đồng tiền của họ Mặc dù các hệ thống thanh toán bán lẻ nhìn chung không được xem

là có tầm quan trọng hệ thống, nhưng những điểm yếu tiềm năng của chúng về mặt an ninh và tính tin cậy có thể ảnh hưởng đến hệ thống tài chính và nền kinh tế Vì lý do này, NHTW mong muốn thúc đẩy tính an toàn, lành mạnh và hiệu quả của các hệ thống thanh toán bán lẻ

Kể từ năm 1996, Ủy ban các hệ thống thanh toán và Quyết toán (CPSS) đã tích cực theo dõi các diễn biến trong thanh toán bán lẻ mới, đặc biệt là các sản phẩm tiền điện

tử Trọng tâm chính là cung cấp cho các NHTW thông tin có thể hỗ trợ họ trong việc theo dõi sự phát triển của tiền điện tử và trong việc đánh giá các hậu quả có thể xảy ra Các cuộc điều tra được thực hiện nhằm mục đích này bước đầu được triển khai 2 lần một năm và nội dung của chúng là tuyệt mật, bao gồm các thông tin chỉ được chia sẻ giữa các NHTW Với sự quan tâm rộng rãi của công chúng về tiền điện tử và với sự đồng thuận của các NHTW thành viên, CPSS sau đó quyết định công bố các nội dung

Thêm vào đó, CPSS đã xuất bản 3 báo cáo xác định các xu hướng thị trường hiện nay và tìm hiểu các vấn đề chính sách có thể đặt ra cho NHTW về các hệ thống và công

và số lượng cũng như tính đa dạng của chúng tiếp tục gia tăng Nhiều trong số các cải tiến này được thúc đẩy bởi sự phát triển của công nghệ như sự mở rộng của điện thoại

tử Người dân trở nên sẵn sàng thực hiện thanh toán qua các phương tiện truyền thông hiện đại như mạng hoặc điện thoại di động hơn Dịch vụ thanh toán dựa trên sử dụng điện thoại di động hoặc các đại lý kinh doanh đang phát triển ở tốc độ đặc biệt nhanh ở các quốc gia mà các ngân hàng vì nhiều lý do không thể cung cấp dịch vụ thanh toán cho một số khu vực dân cư nhất định

Trước bối cảnh này, CPSS đã thành lập Nhóm làm việc về các Cải tiến trong Thanh toán bán lẻ (gọi là “nhóm nghiên cứu”) để xem xét các cải tiến trong thanh toán bán lẻ

toán bán lẻ” được định nghĩa là một công cụ, giải pháp hoặc cơ chế mới hoặc được nâng cấp sâu sắc đã đạt được thị phần đáng kể trên thị trường thanh toán bán lẻ liên quan

1 Xem báo cáo CPSS: An toàn của tiền điện tử (1996), Khảo sát diễn biến của tiền điện tử (2000), Khảo sát diễn biến của tiền điện tử (2001) và Khảo sát diễn biến của tiền điện tử và thanh toán mạng và di động (2004)

2 Xem báo cáo CPSS: Thanh toán bán lẻ tại một số quốc gia chọn lọc: nghiên cứu so sánh (1999), Các thỏa thuận

bù trừ và quyết toán cho thanh toán bán lẻ tại một số quốc gia chọn lọc (2000) và Các vấn đề chính sách cho NHTW trong thanh toán bán lẻ (2003)

3 Báo cáo này chỉ tập trung vào các công cụ thanh toán đa mục đích trừ khi được viện dẫn khác

4 NFC là công nghệ cho phép truyền dữ liệu không dây với một khoảng cách nhỏ (đối với hầu hết ứng dụng, khoảng 4 đến 10 cm) Nó có thể được sử dụng để thiết lập kết nối giữa một POS và một thiết bị thanh toán

5 Các quốc gia thành viên CPSS gồm Úc, Bỉ, Bazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Mê hi cô, Hà Lan, Nga, Ả Rập Xau đi, Singapore, Nam Phi, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ Thuật ngữ “các quốc gia CPSS) được sử dụng trong báo cáo đề cập tới tất cả các nền kinh tế CPSS (kể cả đặc khu kinh tế Hồng Kông)

Trang 15

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 11

hoặc ít nhất có tiềm năng để chiếm thị phần đáng kể

Báo cáo này nhằm: (i) phân nhóm các diễn biến phát triển sáng tạo trong lĩnh vực

cải tiến này và các cách phân loại phù hợp; (iii) các động lực và rào cản đối với các sáng tạo cải tiến; và (iv) nhận diện các vấn đề và thách thức tiềm năng đặt ra cho NHTW Cơ

sở để phân tích là khảo sát bằng chứng thực tiễn do nhóm nghiên cứu thực hiện, đồng thời dựa vào cả các khảo sát về cải tiến trong thanh toán bán lẻ do ECB và WB triển khai

Do các ấn phẩm hiện tại không phải luôn đồng thuận về các định nghĩa của các thuật ngữ liên quan được sử dụng trong báo cáo, vì vậy nhóm nghiên cứu cũng gặp phải thách thức trong việc có được các định nghĩa phù hợp về các cải tiến trong thanh toán Mặc

được định nghĩa khi cần thiết và các định nghĩa hiện có được chỉnh sửa phù hợp với những diễn biến mới Điều này đặt ra yêu cầu cần phải cập nhật danh mục thuật ngữ của CPSS

Phần còn lại của báo cáo được chia thành 5 phần Phần 2 đưa ra tổng quan về về thói quen thanh toán tại các quốc gia CPSS và báo cáo kết quả tìm hiểu thực tiễn của nhóm nghiên cứu Phần 3 đưa ra nền tảng lý thuyết để giúp nắm bắt các diễn biến quan sát được Phần 4 nhận diện các động lực và rào cản đối với cải tiến Cuối cùng, phần 5 vạch

ra các triển vọng tương lai trong khi phần 6 tập trung vào các vấn đề và thách thức đặt

ra cho NHTW về những cải tiến trong thanh toán bán lẻ

Phần 2 Cải tiến trong thanh toán bán lẻ: kết quả tìm hiểu thực tiễn

2.1 Thói quen thanh toán tại các quốc gia CPSS

Theo số liệu thống kê của Red Book, việc sử dụng các công cụ thanh toán truyền thống – như chuyển khoản ngân hàng (credit transfers), ghi nợ trực tiếp (direct debits), thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ vẫn chiếm lĩnh thị trường thanh toán bán lẻ Ở nhiều quốc gia CPSS, thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ được sử dụng thường xuyên nhất, kế tiếp là chuyển khoản và ghi nợ trực tiếp Đối với các công cụ thanh toán này, đáng chú ý nhất là thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, số lượng các giao dịch đang gia tăng tại hầu hết các quốc gia Mặc dù séc vẫn được sử dụng thường xuyên ở một số quốc gia, nhưng mức độ sử dụng

6 Nhằm làm giàu các bằng chứng thực tiễn, các cải tiến chọn lọc ở một số quốc gia được đưa vào “Các quốc gia khác” trong báo cáo này bao gồm Phần Lan, Luxembourg, Malaysia, Philippines, Bồ Đào Nha, Slovenia và Tây Ban Nha

7 Xem danh mục thuật ngữ sử dụng trong các hệ thống thanh toán và quyết toán, CPSS, 2003

8 Theo Danh mục CPSS (2003), tiền điện tử được định nghĩa là giá trị được lưu trữ dưới dạng điện tử trong một thiết bị như một thẻ chíp hoặc ổ cứng trong máy tính cá nhân Phương pháp luận cho các dữ liệu thống kê của RedBook đã đề cập tới một khái niệm rộng hơn bao gồm cả tiền điện tử được lưu trữ trên các máy chủ hoặc điện thoại di động Do vậy, với mục tiêu của báo cáo này, “tiền điện tử” được định nghĩa là giá trị tiền tệ được biểu thị bằng một truy đòi đối với đơn vị phát hành, nó được lưu trữ tên một thiết bị điện tử như là thẻ chip hoặc ổ cứng trên máy tính cá nhân hoặc máy chủ hoặc các thiết bị khác như điện thoại di động và được phát hành khi nhận được một khoản tiền với giá trị không thấp hơn giá trị tiền tệ nhận được và được chấp nhận là phương tiện thanh toán bởi các đơn vị khác ngoài đơn vị phát hành Thuật ngữ “thanh toán tiền điện tử” đề cập tới các khoản thanh toán ở đó người nắm giữ tiền điện tử chuyển giá trị tiền điện tử từ số dư tiền điện tử của mình tới số dư tiền điện

tử của người bán hoặc người khác Cuối cùng, “thẻ có chức năng tiền điện tử” là các thẻ trả trước đa mục đích,

Trang 16

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 12

sử dụng ít nhất, mặc dù 1 số lượng tương đối các thẻ có chức năng này đã được phát hành Số lượng này rất lớn tại Singapore và Hong Kong, nhưng ở các nơi khác chúng mới bắt đầu thâm nhập đáng kể ở chỉ một số quốc giá, chẳng hạn như Nhật Bản Ở những nước này, tiền điện tử liên quan chủ yếu tới giao thông công cộng Tuy nhiên, các kết quả này nên được giải thích thận trọng do việc lý giá cái gì được coi là tiền điện

tử dường như có sự khác biệt giữa các quốc gia Thêm vào đó, thống kê về tiền điện tử

rõ định nghĩa, khái niệm và báo cáo về tiền điện tử được nhấn mạnh hơn nữa bởi sự đa dạng của các cơ chế quản lý tại các quốc gia CPSS và số lượng các cải tiến diễn ra trong hơn một thập kỷ qua, chẳng hạn như sự mở rộng chuỗi các công cụ thẻ trả trước cho tới nay10

Để có cái nhìn cận cảnh hơn vào thói quen sử dụng công cụ thanh toán bán lẻ hiện tại, bao gồm cả tiền mặt, nhóm nghiên cứu đã kêu gọi nhận định của các quốc gia thành viên về các công cụ, giải pháp hay cơ chế thanh toán được sử dụng thường xuyên nhất tại nước họ theo 4 tình huống: (i) thanh toán gần tại các điểm bán hàng; (ii) thanh toán

từ xa được thỏa thuận trước đối với các hóa đơn người tiêu dùng hay các thanh toán B2B; (iii) thanh toán từ xa tự phát thông qua mạng; và (iv) thanh toán P2P Các nước thành viên nhóm nghiên cứu có thể lựa chọn lên tới 3 công cụ thanh toán được sử dụng thường xuyên nhất trong mỗi một tình huống

Cuộc điều tra (xem Hình 1) cho thấy tiền mặt tiếp tục là công cụ thanh toán được sử dụng thường xuyên nhất đối với cả thanh toán gần và thanh toán P2P Chuyển khoản thường được sử dụng cho các thanh toán từ xa tự phát thông qua mạng cũng như cho các thanh toán từ xa được thỏa thuận trước và thanh toán P2P Ghi nợ trực tiếp được

sử dụng thường xuyên nhất cho thanh toán được thỏa thuận trước Thẻ tín dụng được

sử dụng thường xuyên nhất cho thanh toán từ xa tự phát thông qua mạng và cũng được

sử dụng thường xuyên cho thanh toán gần Thẻ ghi nợ cũng phổ biến trong thanh toán gần Séc vẫn được sử dụng khá thường xuyên trong thanh toán P2P và thanh toán thỏa thuận trước tại một số quốc gia CPSS

Chỉ có một số giải pháp thanh toán mới (sáng tạo) được báo cáo là được sử dụng thường xuyên trong 4 tình huống nói trên Trong thanh toán P2P, chuyển khoản gần như thời gian thực và các mạng lưới thanh toán dựa trên mạng (internet) được đề cập Trong thanh toán thỏa thuận trước, hệ thống thanh toán và hiện diện hóa đơn điện tử, bao gồm cả hệ thống chỉ cung cấp các chức năng thanh toán hóa đơn điện tử (xem mục 2.3.2), được chọn là thường xuyên sử dụng Trong thanh toán từ xa tự phát, các giải pháp thanh toán dựa trên ngân hàng trực tuyến và các mạng lưới thanh toán dựa trên mạng được nhắc tới Trong thanh toán gần, các giải pháp thanh toán sáng tạo dựa trên

trong nhiều trường hợp có thể nạp lại, chúng có thể được sử dụng tại các địa điểm của người bán hàng hoặc các nhà cung cấp dịch cho nhiều mục đích

9 Ví dụ, tất cả các giao dịch PayPal ở Châu Âu đều được tính cho Luxembourg

10 Theo Nghiên cứu về thanh toán của năm 2010 của Cục Dự trữ Liên Bang, có 6 tỷ thanh toán thẻ trả trước vào năm 2009, chiếm 5,5% thanh toán không dùng tiền mặt (số liệu này không nằm trong thống kê của Red Book)

11 Do các phản hồi dựa vào các xếp hạng đơn giản và theo cách tiếp cận của từng nước, thông tin được đưa ra ở đây không cho phép đưa ra các kết luận định lượng về tầm quan trọng tổng thể của các cải tiến được nhắc tới

Trang 17

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 13

Hình 1 Việc sử dụng các công cụ thanh toán trong các tình huống cụ thể

Nguồn: Điều tra do Nhóm nghiên cứu thực hiện, 2011

2.2 Các khía cạnh phương pháp luận của việc tìm hiểu thực tế

Một nghiên cứu thực tế về cải tiến thanh toán bán lẻ được thực hiện giữa các ngân hàng trung ương thành viên CPSS (và các quốc gia được chọn khác) Nghiên cứu này

cố gắng bao quát các phát triển mang tính ảnh hưởng của các giải pháp và cơ chế (đa năng) thanh toán bán lẻ (không dùng tiền mặt) tại những quốc gia này trong thập kỷ qua, bao gồm chi tiết về các tính năng và đặc điểm (xem bảng 1 để biết các tính năng

và đặc điểm được báo cáo đối với từng cải tiến)

Do sự cải tiến là một hoạt động tiếp diễn và một số cải tiến không được ngân hàng trung ương chú ý, việc nghiên cứu thực tế không nhằm mục đích bao trùm tất cả các cải tiến trong thanh toán bán lẻ tại các quốc gia tương ứng mà cố thu thập thông tin giúp đem lại cái nhìn tổng quan về các hoạt động cải tiến tại các quốc gia báo cáo Báo cáo không bao gồm các xu hướng chung về kỹ thuật và kinh doanh như điện toán đám mây

và thuê ngoài cũng như các phương pháp chiến lược khác về hành vi kinh doanh của các ngân hàng, do tâm điểm của báo cáo không phải là các phát triển IT mà là các công

cụ và cơ chế thanh toán

Bảng 1 Tính năng và đặc điểm của những cải tiến được báo cáo tại nghiên cứu

Trang 18

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 14

tiền tự động (ATM), khác

trong việc sử dụng thanh toán bằng thẻ, EBPP, cải thiện

cơ sở hạ tầng và bảo mật

hàng và (các) tổ chức phi ngân hàng, (các) ngân hàng trung ương

ngân hàng, không hợp tác

mặt hoặc séc, giảm chi phí xử lý, tăng tốc xử lý, khắc phục sự chậm trễ về cơ sở hạ tầng, tiếp cận tài chính với người chưa có tài khoản ngân hàng, thanh toán chính phủ, thúc đẩy cạnh tranh, cải thiện sự tiện lợi, khác)

thanh toán bù trừ, biên lai thanh toán, giao thức mới

*Đánh giá được dựa trên các tiêu chí cụ thể của người trả lời, chẳng hạn như khối lượng và giá trị của các giao dịch và ảnh hưởng đến thói quen người dùng

Tổng cộng, 122 cải tiến trong thanh toán bán lẻ được báo cáo bởi 30 ngân hàng trung ương, mỗi ngân hàng trung ương có từ 1 đến 12 cải tiến (xem Phụ lục 2 để mô tả các cải tiến được báo cáo, Phụ lục 3 cho các cải tiến được báo cáo theo nhóm sản phẩm và Phụ lục 4 để tóm tắt nghiên cứu thực tế ) Con số và đặc điểm của thông tin phản hồi khác nhau không chỉ vì các trạng thái tiềm năng của các cải tiến khác nhau ở mỗi quốc gia, mà còn vì quan điểm khác biệt của các ngân hàng trung ương về tầm quan trọng

Trang 19

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 15

của các cải tiến Do đó, các câu trả lời bao gồm những cải tiến có thể được coi là sáng tạo ở một quốc gia nhưng không được coi là sáng tạo ở một quốc gia khác

Điều quan trọng cần lưu ý là một số cải tiến được báo cáo dưới hình thức sản phẩm

cụ thể và một số dưới hình thức nhóm “cách điệu”, ví dụ như thẻ trả trước Điều này, một phần là do các cân nhắc của ngân hàng trung ương về tài chính, công nghệ và các cân nhắc khác tại mỗi quốc gia Tuy nhiên, việc cho phép các quốc gia áp dụng phán quyết riêng của họ về cách báo cáo các sáng kiến cuối cùng sẽ hữu ích hơn việc áp dụng một phương pháp thống nhất không tính đến các điều kiện kinh tế xã hội và chính trị khác nhau tại các quốc gia được nghiên cứu Về vấn đề này, tính chủ quan của dữ liệu không cung cấp cơ sở cho việc ước lượng thống kê và định lượng Thay vào đó, như đã

đề cập ở trên, mục đích là là cung cấp cái nhìn tổng quan có thể làm cơ sở cho một đánh giá toàn diện về tình trạng đổi mới trong thanh toán bán lẻ

Một số ngân hàng trung ương báo cáo các sáng kiến đã chấm dứt sau giai đoạn thử nghiệm hoặc chấm dứt do không đủ thành công trên thị trường Những cải tiến này không được bao gồm trong các phụ lục nhưng cung cấp thông tin chi tiết có giá trị liên quan đến việc phân tích các tác nhân thúc đẩy và các rào cản đối với các cải tiến (xem Phần 4)

Gần đây, các cuộc điều tra liên quan cũng được thực hiện bởi Ngân hàng Thế giới (xem Hộp 1) và ECB (xem Hộp 4) Kết quả của các cuộc khảo sát này đã được đưa vào báo cáo này để hiểu rõ hơn về các xu hướng và phát triển hiện tại trong các đổi mới thanh toán bán lẻ

Hộp 1 Khảo sát hệ thống thanh toán toàn cầu của Ngân hàng Thế giới:

Bảng hỏi về các sáng tạo thanh toán bán lẻ

Nhận thức được những đổi mới đang diễn ra trên thị trường thanh toán bán lẻ, Ngân hàng Thế giới đã tiến hành một cuộc khảo sát vào năm 2010 về các sáng kiến về phương thức và công cụ thanh toán bán lẻ* Tổng cộng 101 ngân hàng trung ương đã hoàn thành khảo sát và 173 công cụ và phương thức thanh toán bán lẻ mới bao gồm

cả các sản phẩm và các nhóm sản phẩm đã được báo cáo Những phát hiện chính từ cuộc khảo sát như sau:

• Có sự ứng dụng khá rộng rãi các kênh điện tử vào việc khởi tạo các giao dịch thanh toán thông qua sử dụng các công cụ và phương thức thanh toán bán lẻ mới

• Việc sử dụng các công cụ và phương thức thanh toán mới vẫn còn thấp hơn nhiều so với việc sử dụng các phương thức thanh toán truyền thống Tuy nhiên, chúng được coi là quan trọng đối với tài chính toàn diện ở hơn 14% các quốc gia

• Các tổ chức phi ngân hàng không đóng vai trò lớn hơn trong việc cung cấp các công cụ và phương thức thanh toán mới, trong khi các ngân hàng vẫn là những người chơi quan trọng nhất trong lĩnh vực này

Trang 20

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 16

• Tiền của khách hàng được bảo vệ đầy đủ tại khoảng 60% các công cụ và phương thức thanh toán cải tiến

• Thanh toán P2B, thanh toán hóa đơn tiện ích và thanh toán qua P2P là các loại thanh toán phổ biến nhất được cung cấp bởi các nhà cung cấp công cụ và phương thức thanh toán cải tiến Chưa đến 10% các công cụ và phương pháp dùng cho mục đích hỗ trợ thanh toán của chính phủ

• Phần lớn các công cụ và phương thức thanh toán cải tiến có khả năng tương tác rất hạn chế

• Các công cụ và phương thức thanh toán cải tiến có vẻ phát triển các mô hình định giá khá tốt

• Nói chung, các công cụ và phương thức thanh toán cải tiến không được kết nối trực tiếp với cơ sở hạ tầng thanh toán bù trừ và thanh toán

• Các vấn đề về bảo mật và gian lận dường như chưa được chú ý đầy đủ

• Đối với 60% các công cụ và phương thức thanh toán bán lẻ cải tiến, các ngân hàng trung ương xác định mình là cơ qua giám sát duy nhất Đối với 10%, họ cho biết có sự hợp tác với các cơ quan khác

• Nhìn chung, các ngân hàng trung ương có quan điểm rất thận trọng về tác động

dự kiến của các đổi mới ở các quốc gia của họ

*Xem Ngân hàng Thế giới, “Phụ lục 1 Bảng câu hỏi để thu thập thông tin về đổi mới trong các công cụ và phương thức thanh toán bán lẻ trên toàn thế giới”, Khảo sát hệ

thống thanh toán toàn cầu 2010 (sắp tới tại www.worldbank.org/paymentsystems) 2.3 Các hình thức cải tiến

Các cải tiến và phát triển thanh toán bán lẻ được báo cáo trong nghiên cứu thực tế

có thể được phân loại theo nhiều cách Báo cáo này đề cập đến Sổ tay Oslo của OECD,

hướng quy trình tập trung vào khu vực hỗ trợ (back office), khu vực của quy trình thanh toán mà cải tiến thường đến từ các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán (PSPs) Phân loại theo định hướng sản phẩm áp dụng các tính năng trực quan của công cụ thanh toán đến

từ quan điểm của người dùng Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu là những phân loại này có thể không ổn định trong thời gian dài, vì những cải tiến mới có thể có tác động không lường trước đến các quy trình và sản phẩm thanh toán

2.3.1 Phân loại theo quy trình

Một cách để phân loại các cải tiến trong thanh toán bán lẻ là xem xét quy trình thanh toán Thông thường, quy trình thanh toán tổng thể hoặc phương thức thanh toán được

mô tả là hệ thống bốn bên bao gồm người thanh toán, PSP của người thanh toán, người

12 Xem OECD, Sổ tay Oslo: Hướng dẫn thu thập và giải thích dữ liệu đổi mới: Ấn bản thứ ba, 2005

13 Trong quá trình thanh toán các khoản thanh toán bằng thẻ, thường có một bên thứ năm, cơ chế thẻ

Trang 21

VIỆN CHIẾN LƯỢC NGÂN HÀNG – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 17

cách cho phép tiền của họ được chuyển cho người nhận thanh toán Việc chuyển tiền này được thực hiện khi PSP của người thanh toán ghi nợ tài khoản của người thanh toán

và PSP của người nhận thanh toán ghi có tài khoản của người nhận thanh toán, thường bằng phương thức thanh toán bù trừ Xem Hình 2 thể hiện quá trình thanh toán bán lẻ

Hình 2: Quy trình thanh toán của thanh toán bán lẻ

Ghi chú: Hình này đơn giản hóa một số phần; quy trình có thể phức tạp hơn nhiều trên thực tế (ví dụ qua PSP khác)

Nguồn: Nhóm làm việc

(i) Khởi tạo thanh toán

Bước đầu tiên của quá trình thanh toán là khởi tạo Hơn một nửa các cải tiến được

có thể được khởi tạo bởi người trả tiền hoặc người thụ hưởng Nếu giao dịch được bắt đầu bởi người thực hiện thanh toán, nó được gọi là "giao dịch đẩy" Nếu nó được khởi tạo bởi người thụ hưởng, nó được gọi là "giao dịch kéo" Ví dụ, chuyển khoản ngân hàng là các giao dịch đẩy, và ghi nợ trực tiếp, séc và thanh toán thẻ thường là các “giao dịch kéo” Tuy nhiên, thanh toán bằng thẻ cũng có thể liên quan đến yếu tố đẩy nếu việc

bù trừ và quyết toán các khoản thah toán bằng thẻ liên quan đến việc chuyển khoản

14 Tổng số phân loại quá trình vượt quá 100%, vì một số cải tiến được báo cáo thuộc nhiều loại quy trình

Ngày đăng: 06/04/2022, 17:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Việc sử dụng các cơng cụ thanh tốn trong các tình huống cụ thể - Bản-tin-NCKH-số-10-Tháng-10.2018
Hình 1. Việc sử dụng các cơng cụ thanh tốn trong các tình huống cụ thể (Trang 17)
Hình thức tài trợ Trả trước, ghi nợ, tín dụng - Bản-tin-NCKH-số-10-Tháng-10.2018
Hình th ức tài trợ Trả trước, ghi nợ, tín dụng (Trang 18)
Hình 2: Quy trình thanh toán của thanh toán bán lẻ - Bản-tin-NCKH-số-10-Tháng-10.2018
Hình 2 Quy trình thanh toán của thanh toán bán lẻ (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN